Thuế GTGT và các giải pháp hoàn thiện hạch toán thuế GTGT - Pdf 28

Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
Mục lục
Lời mở đầu
1
Nội dung
2
I. Một số vấn đề cơ bản về thuế trị giá gia tăng
2
1. Bản chất của thuế 2
2. Thuế dới chính quyền Cách mạng Việt Nam 2
3. Một số khái niệm chung về trị giá gia tăng và thuế trị giá gia tăng 4
4. Lịch sử phát triển của thuế trị giá gia tăng trên thế giới 7
II. Xây dựng mô hình thuế trị giá gia tăng ở Việt Nam
7
1. Tình hình áp dụng thuế doanh thu ở Việt Nam 7
2. Sự cần thiết phải đa thuế trị giá gia tăng vào áp dụng tại Việt Nam 9
3. Điều kiện áp dụng thuế trị giá gia tăng ở Việt Nam 11
III. Hạch toán thuế GTGT
14
1. Chứng từ sử dụng 14
2. TK sử dụng hạch toán thuế GTGT 15
3. Phơng pháp hạch toán 16
4. Sổ kế toán 17
IV. Thực trạng áp dụng thuế giá trị gia tăng và các giải pháp hoàn thiện
hạch toán thuế giá trị gia tăng
18
1. Đánh giá kết quả thực hiện và những vấn đề rút ra 18
2. Các giải pháp hoàn thiện hạch toán thuế giá trị gia tăng 26
Kết luận
30
Danh mục tài liệu tham khảo

định thành luật để mọi ngời dân trong diện nộp thuế phải nộp. Khoản nộp
này sẽ đợc Nhà nớc lấy ra chi dùng cho những việc chung của quốc gia.
Thuế thờng thu bằng tiền, ngoại trừ một số ít quốc gia thu bằng hiện vật trên
một số ít những tài vật mà khó qui đổi thành tiền. Thuế thu vĩnh viễn, không
hoàn trả lại ngời dân song ngời dân vẫn đợc nhận lại một phần thuế đã nộp
thông qua phúc lợi xã hội.
2. Thuế dới chính quyền Cách mạng VN
Thuế dới chính quyền Cách mạng nớc ta gắn liền với sự ra đời và phát
triển của Nhà nớc dân tộc và xã hội chủ nghĩa. Hệ thống chính sách thuế
phải phục vụ nhiệm vụ chính trị - kinh tế - xã hội của ta qua từng giai đoạn,
có thể khái quát các thời kì chủ yếu sau đây:
2.1. Thời kì Cách mạng dân tộc dân chủ (1945 - 1954)
Sau Cách mạng tháng Tám thành công ngày 7/ 9/ 1945 Chính phủ đã
kí sắc lệnh số 11 xoá bỏ chế độ thuế khắc nghiệt dới chế độ thực dân, phong
kiến, đặc biệt là xoá bỏ thuế thân và các chế độ độc quyền về thuốc phiện, r-
ợu, muối.
Mãi đến giữa năm 1951, sau Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ II, Nhà n-
ớc lần lợt ban hành hệ thống chính sách thuế đầu tiên dới chính quyền cách
mạng. Trong hệ thống thuế mới, thuế nông nghiệp thu bằng hiện vật giữ vai
trò đặc biệt quan trọng, bảo đảm lơng thực phục vụ bộ đội "ăn no đánh
thắng", góp phần thúc đẩy phát triển nông nghiệp. Thuế công thơng nghiệp
đánh vào hoạt động sản xuất kinh doanh gồm thuế doanh nghiệp, thuế quán
3
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
hàng, thuế buôn chuyến. Thuế hàng hoá áp dụng đối với một số hàng hoá
đặc biệt nhằm hớng dẫn sản xuất, tiêu dùng, tiết kiệm đối với một số hàng
hoá mang tính xa xỉ. Thuế nhập khẩu áp dụng đối với hàng hoá lu thông giữa
các vùng tự do và vùng bị chiếm nhằm mục đích "đấu tranh kinh tế với
địch". Thuế sát sinh đánh vào hoạt động giết mổ lợn, trâu, bò, dê, ngựa... và
thuế trớc bạ đánh vào chuyển dịch tài sản chủ yếu nhằm tăng thu cho ngân

sản xuất XHCN
2.5. Thời kì đổi mới (1987 - đến nay)
Phơng hớng đổi mới cơ chế quản lí đã đợc khẳng định từ Đại hội Đảng
VI (1986) .Trong các năm 1987 - 1989, Nhà nớc đã lần lợt có những sửa đổi,
bổ sung pháp lệnh thuế nông nghiệp, công thơng nghiệp và thông qua luật
thuế xuất nhập khẩu hàng mậu dịch để phù hợp với tình hình.
Đặc biệt, từ năm 1990, theo chơng trình cải cách hệ thống chính sách
thuế đợt I, Quốc hội các khoá VIII và IX đã lần lợt ban hành hệ thống chính
sách thuế mới bao gồm: thuế doanh thu, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế lợi tức,
thuế xuất nhập khẩu, thuế tài nguyên, thuế thu nhập đối với ngời có thu nhập
cao áp dụng thống nhất đối với các cơ sở sản xuất kinh doanh thuộc mọi
thành phần kinh tế.
Để thực hiện chơng trình cải cách thuế bớc II, từ giữa năm 1997, Quốc
hội khoá IX đã thông qua luật thuế giá trị gia tăng thay thế thuế doanh thu và
thuế thu nhập doanh nghiệp thay thế thuế lợi tức doanh nghiệp, bắt đầu có
hiệu lực từ 1/1/1999. Cùng với đó là việc sửa đổi một số điều trong luật thuế
xuất nhập khẩu, thuế tiêu thụ đặc biệt.. Ngành thuế đã thực hiện kí kết các
hiệp định tránh đánh thuế 2 lần với 28 quốc gia trên thế giới.
Có thể nói việc đa ra thuế GTGT là 1 dấu ấn quan trọng trong lịch sử
ngành thuế nớc ta. Đây là một sắc thuế khoa học, khẳng định t duy đổi mới
và hội nhập của Nhà nớc ta.
3. Một số khái niệm chung về trị giá gia tăng và thuế giá trị gia tăng
3.1. Trị giá gia tăng là gì?
Trị giá gia tăng (TGGT) là trị giá tăng thêm đối với một sản phẩm
hàng hoá hoặc dịch vụ do cơ sở sản xuất, chế biến, buôn bán hoặc dịch vụ
tác động vào nguyên vật liệu thô hay hàng hoá mua vào làm cho giá trị của
chúng tăng thêm. Nói cách khác, đây là số chênh lệch giữa "giá đầu ra" với
"giá đầu vào" do đơn vị kinh tế tạo ra trong quá trình sản xuất kinh doanh
của mình.
TGGT có thể tính bằng phơng pháp cộng hoặc phơng pháp trừ. Từ 2

bằng cách lấy thuế suất (t) nhân với trị giá tăng thêm:
Thuế TGGT = t x (tiền công + lợi nhuận)
6
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
- Phơng pháp thứ ba: Phơng pháp trừ trực tiếp, dựa trên cơ sở tính trị
giá tăng, cụ thể:
Thuế TGGT = t x (giá đầu ra - giá đầu vào)
- Phơng pháp thứ t: Phơng pháp trừ gián tiếp (còn gọi là phơng pháp
hoá đơn hoặc phơng pháp khấu trừ) cụ thể là:
Thuế TGGT = (t x giá đầu ra) - (t x giá đầu vào)
Trong bốn phơng pháp trên thì 3 phơng pháp đầu hầu nh chỉ tồn tại về
mặt lí thuyết, còn trong thực tế ngời ta ít áp dụng. Đại bộ phận các nớc thực
hiện thuế TGGT đều sử dụng phơng pháp thứ 4
- Với phơng pháp trừ gián tiếp dựa vào hoá đơn trên đây, thuế TGGT
đợc tính và nộp qua từng khâu. Ví dụ với thuế suất 10%, ta có bảng tính thuế
TGGT ở từng công đoạn cụ thể nh sau:
Ngành kinh
doanh
Giá
đầu
vào
TGG
T
Giá
đầu
ra
Thuế
tính
ở đầu ra
Thuế đã

vào từng khâu của quá trình sản xuất. Trong thực tế, cách đánh thuế này phát
sinh nhợc điểm về tính trùng lắp, sản phẩm càng qua nhiều khâu thì thuế
càng cao và thuế chồng lên thuế. Năm 1936, Pháp lại cải tiến doanh thu qua
hình thức đánh thuế 1 lần vào công đoạn cuối cùng của quá trình sản xuất,
tức là giai đoạn đầu của lu thông.
Qua nhiều lần sửa đổi, bổ sung, năm 1954 Chính phủ Pháp đã ban
hành loại thuế mới với tên gọi là thuế TGGT (TVA). Lúc đầu TVA đợc ban
hành để áp dụng trớc đối với ngành sản xuất, chủ yếu nhằm hạn chế việc thu
thuế chồng chéo qua nhiều khâu trong lĩnh vực công nghiệp. Quá trình thống
nhất hoá Châu Âu đợc thúc đẩy vào những năm 50 đã có tác dụng thúc đẩy
TVA áp dụng vào các nớc khác. Đến năm 1966 TVA đợc ban hành chính
thức để thay thế 1 số sắc thuế gián thu.
Khai sinh từ nớc Pháp, thuế TGGTđã nhanh chóng đợc áp dụng rộng
rãi trên thế giới, trở thành nguồn thu quan trọng của nhiều quốc gia. Đến nay
đã có trên 100 nớc áp dụng thuế TGGT, chủ yếu là các nơc Châu Phi, Châu
Mĩ La tinh, các nớc trong khối cộng đồng Châu Âu (EEC) và một số nớc
Châu á.
II- Xây dựng mô hình thuế giá trị gia tăng ở Việt Nam
1. Tình hình áp dụng thuế doanh thu ở Việt Nam.
Đại hội lần thứ VI của Đảng là một bớc ngoặt lịch sử quan trọng trên con đ-
ờng đổi mới ở nớc ta, trong đó có sự đổi mới về chính sách thuế. Để đáp ứng
yêu cầu của công cuộc cải cách kinh tế, luật thuế doanh thu đã đợc Quốc Hội
thông qua ngày 30/06/1990 để thay thế chế độ thu quốc doanh, thuế doanh
nghiệp, thuế buôn chuyến, thuế hàng hoá đối với một số mặt hàng trớc đây
chịu thuế hàng hoá.
Thuế doanh thu là một thuế sắc thuế gián thu, một loại thuế thu vào các hoạt
động kinh doanh thơng nghiệp, kinh doanh nông nghiệp (không thuộc diện
nộp thuế nông nghiệp) hoặc cung cấp dịch vụ, thuế đợc thu qua mỗi lần phát
sinh bán hàng, bán sản phẩm hoặc dịch vụ. Thuế nằm trong giá sản phẩm
hàng hoá hoặc dịch vụ cung cấp và do ngời tiêu thụ phải trả khi mua sản

đoạn chuyển đổi và nó linh hoạt hơn hẳn chế độ thu quốc doanh. Tuy nhiên,
trong quá trình thực hiện thuế doanh thu đã bộc lộ những nhợc điểm hạn chế
chủ yếu sau:
-Thuế tính trên toàn bộ doanh thu (bao gồm cả thuế doanh thu) qua
từng khâu lu chuyển đã ảnh hởng không tốt đến giá cả và sản xuất kinh
9
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
doanh. Cùng một mặt hàng nếu đợc tổ chức sản xuất và lu chuyển qua ít
khâu, tổng số thuế phải nộp sẽ thấp hơn so với việc tổ chức qua nhiều khâu
và do đó không phù hợp với cơ chế thị trờng.
- Do thuế doanh thu có nhiều nhóm thuế suất khác nhau, do thiếu căn
cứ xác định thuế chính xác, thuế suất lại chênh lệch nhau nhiều nên đã phát
sinh không ít tiêu cực, tuỳ tiện trong vận dụng luật thuế.
-Thuế doanh thu cha thu đối với mặt hàng thuộc diện đánh thuế tiêu thụ
đặc biệt, hàng nhập khẩu, hàng xuất khẩu nên cha tạo đợc môi trờng thuận
lợi cho việc hoà nhập với thông lệ khu vực quốc tế, cha hỗ trợ hàng xuất
khẩu giảm giá thành để có điều kiện thuận lợi trong cạnh tranh trên thị trờng
quốc tế.
2. Sự cần thiết phải đa thuế trị giá gia tăng vào áp dụng tại Việt Nam.
Từ những phân tích trên, dễ thấy là đã rất tiến bộ nhng thuế doanh thu cũng
đã bộc lộ những hạn chế gây ảnh hởng tới sự phát triển của nền kinh tế thị tr-
ờng, cho tới thời điểm này, một yêu cầu đặt ra là cần phải có một loại thuế
mềm dẻo hơn thay thế cho thuế doanh thu.
Lúc này trên thế giới đang áp dụng một loại thuế có tên là thuế trị giá gia
tăng, thuế này đợc khai sinh từ Pháp, có nguồn gốc từ thuế doanh thu với
một số u điểm chủ yếu sau;
- Tránh đợc hiện tợng đánh thuế chồng lên thuế, phù hợp với nền kinh tế sản
xuất hàng hoá theo cơ chế thị trờng.
-Thuế trị giá gia tăng thuộc loại thuế đánh vào tiêu dùng, đợc áp dụng
rộng rãi đối với mọi tổ chức, cá nhân có tiêu dùng sản phẩm, hàng hoá hoặc

gia tăng cũng chính xuất phát từ loại thuế này.
Nhợc điểm đầu tiên dễ thấy nhất là chi phí về quản lý. Để thực hiện tốt thuế
trị giá gia tăng, công tác ghi chép hoá đơn, sổ sách kế toán của ngời nộp thuế
phải rõ ràng, minh bạch. Do đó hầu hết các nớc đang thực hiện thuế trị giá
gia tăng đều phải sử dụng máy tính để bảo đảm chống thất thu thuế đạt hiệu
quả và quản lý thu thuế đợc thuận lợi. Nếu không theo dõi và quản lý chặt
chẽ, dễ xảy ra tình trạng phải hoàn thuế nhiều hơn là thu thêm đợc thuế.
-Thuế trị giá gia tăng có ít thuế suất, nên ngời tiêu dùng có thu nhập cao hay
thấp thờng phải nộp thuế giống nhau, thuế mang tính luỹ thoái.
- Giữa lý luận và thực tiễn, thuế trị giá gia tăng cũng có những điểm cha đ-
ợc nhất quán., cách đánh thuế và khấu trừ thuế trị giá gia tăng nh thế nào là
hợp lý,nh thế nào là thoả đáng?
11
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
- Do thiếu tính linh hoạt mềm dẻo nên thuế TGGT không thật thích
hợp với nền kinh tế mới bớc đầu chuyển sang nền kinh tế thị trờng với nhiều
thành phần kinh tế tham gia.
-Thuế trị giá gia tăng với những u điểm rất lớn nhng nhợc điểm cũng không
nhỏ, vì vậy đã bị phản ứng và không đợc chấp nhận một cách dễ dàng
Ví dụ: ở Nhật Bản, thuế trị giá gia tăng mặc dù đã có đề xuất ban hành từ
năm 1955, nhng cho đến năm 1988 mới đợc Quốc hội Nhật Bản thông
qua.Khi gia nhập khối Cộng đồng Châu Âu năm 1981, Hy Lạp đã đồng ý
ban hành thuế tri giá gia tăng, nhng lại tìm lý do để trì hoãn cho đến năm
1987 mới chính thức ban hành.
Với hơn 100 nớc áp dụng thuế trị giá gia tăng, đó là một con số không nhỏ
nhng rõ ràng là để đạt tới con số đó thì thuế này đã phải chịu sự phản đối gay
gắt tứ các nớc trên thế giới. Vì vậy nó đòi hỏi phải đợc nghiên cứu xem xét
một cách kĩ lỡng.
3. Điều kiện áp dụng thuế trị giá gia tăng ở Việt Nam.
Một câu hỏi đặt ra là: liệu trị giá gia tăng có thể áp dụng ở Việt Nam ?

chiều mà cần đợc phân tích, cân nhắc trên nhiều quan điểm, cả thuận lợi và
khó khăn, tìm ra một phơng án tối u có thể chấp nhận đợc trong hoàn cảnh
cụ thể của Việt Nam, có hai quan điểm trái ngợc nhau:
Quan điểm thứ nhất cho rằng, hiện nay ở Việt Nam cha có điều kiện
và cha nên áp dụng thuế trị giá gia tăng với các lý do cơ bản là :
Nền kinh tế nớc ta mới chuyển từ cơ chế bao cấp sang cơ chế thị trờng,
sản xuất hàng hoá cha phát triển đồng đều. Với thuế doanh thu hiện nay có
nhiều thuế suất khác nhau, nếu chuyển sang hình thức thu có ít thuế suất(1
hoặc 3 - 4 thuế suất) sẽ phát sinh nhiều vấn đề. Vì vậy, nếu không có biện
pháp xử lý thích đáng sẽ gây nhiều tác động đến nền kinh tế xã hội.
- Hiện nay, tình trạng thức hiện chế độ hoá đơn sổ kế toán còn quá
lỏng lẻo. Nhợc điểm này không thể khắc phục nhanh chóng trong toàn bộ
nền kinh tế, do vậy khó có cơ sở xác đáng để áp dụng việc khấu trừ tiền thuế
trị giá gia tăng đợc đúng đắn.
- Hệ thống văn bản pháp quy còn cha hoàn chỉnh, đồng bộ và thiếu ổn
định. Thiếu tổ chức cỡng chế, hiệu lực pháp chế cha cao. Trình độ cán bộ
thuế tuy đã đợc bồi dỡng, nâng cao nhng về thực chất còn yếu, cha đủ sức
bảo đảm việc quản lý, thu thuế trị giá gia tăng.
13
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
Quan điểm thứ hai lại cho rằng, chúng ta cần khẩn trơng nâng cấp, sớm xây
dựng và ban hành thuế trị giá gia tăng thay thế thuế doanh thu với các lý do:
- Khắc phục các nhợc điểm của thuế doanh thu, chủ yếu là tính trùng
lặp và hệ thống quá phức tạp.
- Thực hiện thuế trị giá gia tăng tự nó sẽ khuyến khích, thúc đẩy việc
sử dụng chứng từ, hoá đơn, sổ kế toán, bảo đảm việc thu thuế ngày càng sát
hơn với thực tế hoạt động của từng cơ sở, vừa khắc phục thất thu, vừa tránh
lạm thu.
- Thúc đẩy hoạch toán kinh tế, tứng bớc loại bỏ các doanh nghiệp, các
cơ sở làm ăn đạt hiệu quả thấp không đủ nộp thuế đảm bảo nền kinh tế xã


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status