MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài luận văn
Trước yêu cầu hội nhập kinh tế thế giới và khu vực, cùng với
sự phát triển của nền kinh tế thị trường và sự tồn tại của nhiều thành
phần kinh tế. Khi mối quan hệ giữa các quốc gia trên thế giới là hòa
bình ổn định và hợp tác trong việc phát triển kinh tế, đặc biệt là thương
mại thì ngành du lịch biển đang có những bước phát triển mạnh mẽ và
ngày càng khẳng định vị trí quan trọng của mình trong cơ cấu kinh
tế chung. Trong kinh doanh thương mại và dịch vụ, cũng như các lĩnh
vực của ngành du lịch thì du lịch biển là một trong những ngành đặc
trưng mang lại nguồn lợi lớn. Là một ngành sản xuất vô hình phi vật
chất nhưng lại thu hút nhiều lợi nhuận cao, đóng góp nguồn ngân sách
lớn trong tổng thu nhập quốc gia. Với những lợi thế vốn có, năm 2005,
biển Đà Nẵng vinh dự được tạp chí Forbes của Mỹ bầu chọn là một
trong sáu bãi biển quyến rũ nhất hành tinh. Đà Nẵng đã và đang định
hướng là một trung tâm dịch vụ, du lịch của miền Trung, của cả nước
và xa hơn nữa là khu vực, quốc tế. Hàng loạt khu du lịch đã và đang
được xây dựng, hài hòa với thiên nhiên nhưng cũng không kém phần
hiện đại.
Với tiềm năng và lợi thế vốn có để phát triển du lịch biển,
nhưng hiện nay du lịch biển ở Đà Nẵng vẫn chưa phát huy được lợi thế
để thu hút khách du lịch, chưa phát triển đúng với tiềm năng của mình.
Để du lịch thật sự trở thành một ngành kinh tế mũi nhọn” thì quản lý
nhà nước về du lịch đóng vai trò rất quan trọng, thông qua đó định
hướng cho du lịch phát triển về mọi mặt với mục tiêu khai thác tối đa
lợi thế nhằm đem lại lợi nhuận, đóng góp cho nền kinh tế cả nước nói
chung và thành phố Đà Nẵng nói riêng.
Sự phát triển và đóng góp của công tác quản lý nhà nước về du
1
lịch trong việc phát triển du lịch biển Đà Nẵng trong thời gian qua là rất
quan trọng. Tuy nhiên, trong tiến trình đổi mới, trước những thách thức
3. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
- Mục đích: Làm rõ cơ sở lý luận, thực trạng quản lý du lịch
tại cá c bãi biển, đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện công
tác quản lý nhà nước về du lịch tại các bãi biển trên địa bàn thành phố
Đà Nẵng.
- Nhiệm vụ:
+ Làm rõ cơ sở lý luận về quản lý du lịch tại các bãi biển trên
địa bàn thành phố Đà Nẵng.
+ Phân tích, đánh giá thực trạng quản lý;
+ Đề ra định hướng và các giải pháp hoàn thiện công tác
quản lý nhà nước về du lịch tại các bãi biển trên địa bàn thành phố Đà
Nẵng đến năm 2020.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
- Đối tượng nghiên cứu: những vấn đề lý luận về quản lý du
lịch biển; thực trạng quản lý nhà nước về du lịch tại các bãi biển trên
địa bàn thành phố.
- Phạm vi nghiên cứu:
+ Thời gian: giai đoạn 2010 – 2014; giải pháp, kiến nghị đến
năm 2020.
+ Không gian: Luận văn tập trung nghiên cứu thực trạng quản
lý du lịch tại các bãi biển trên địa bàn thành phố Đà Nẵng.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận
văn
- Phương pháp luận: Theo đường lối, chủ trương, chính sách
của Đảng và pháp luật của Nhà nước.
3
- Phương pháp nghiên cứu: Luận văn sử dụng phương pháp
thống kê, tổng hợp và phân tích, đối chiếu, so sánh, khảo sát kinh
nghiệm thực tế để phân tích thực trạng và qua đó đưa ra các giải
pháp hoàn thiện phù hợp.
Du lịch là ngành kinh tế tổng hợp, mang nội dung văn hóa sâu
sắc, có tính liên ngành, liên vùng và xã hội hóa cao. Bản chất ấy của
du lịch đã xác định được vị trí vai trò của du lịch trong phát triển kinh
tế xã hội.
1.1.2. Các loại hình du lịch
1.1.2.1. Căn cứ vào phạm vi lãnh thổ chuyến đi
- Du lịch quốc tế (international tourism): Là loại hình du lịch
mà ở đó khách du lịch xuất phát từ một quốc gia và đi du lịch đến một
quốc gia khác. Hay nói cách khác đây là loại hình du lịch mà điểm
xuất phát và điểm đến của khách du lịch nằm trên lãnh thổ của các
quốc gia khác nhau.
- Du lịch nội địa (domestic tourism): Là loại hình du lịch mà ở
đó công dân hoặc người đang sinh sống tại một quốc gia đi du lịch
trong lãnh thổ quốc gia đó. Nói cách khác trong loại hình du lịch này,
điểm xuất phát và điểm đến của khách du lịch nằm trên cùng lãnh thổ
của một quốc gia.
1.1.2.2. Căn cứ vào mục đích chuyến đi
Căn cứ vào những mục đích đi du lịch của khách, có thể chia
hoạt động du lịch thành hai loại hình như sau:
Du lịch thuần túy: Là loại hình du lịch mà khách du lịch đi với
mục đích thuần túy là để giải trí, nghỉ dưỡng, tham quan, tìm hiểu,
khám phá.
5
Du lịch kết hợp: Là loại hình du lịch mà mục đích chính của
khách đi là để thỏa mãn một nhu cầu khác, nhưng có kết hợp để thỏa
mãn nhu cầu du lịch trong chuyến đi đó.
1.1.2.3. Căn cứ vào thời gian của chuyến đi
Du lịch ngắn ngày: Là loại hình du lịch mà ở đó khách du lịch
đi du lịch trong khoảng thời gian tương đối ngắn (thường là dưới 2
tuần), chẳng hạn như khách tham gia các chương trình du lịch nửa
lịch thể thao biển (còn chưa phát triển nhiều) và các loại hình du
lịch picnic,
1.1.3.3. Điều kiện để phát triển du lịch
- Điều kiện chung:
+ Điều kiện an ninh, chính trị - an toàn xã hội: là một trong
những điều kiện bắt buộc phải có và vô cùng quan trọng để các quốc
gia, các vùng, địa phương có thể phát triển du lịch.
+ Điều kiện kinh tế: Du lịch phát triển đóng góp vào sự phát
triển kinh tế nói chung, ngược lại, nền kinh tế chung phát triển lại là
điều kiện quan trọng đảm bảo cho sự phát triển bền vững của ngành
du lịch.
+ Điều kiện về chính sách phát triển du lịch: Chính sách phát
triển du lịch quốc gia có vai trò như “kim chỉ nam” dẫn đường cho
hoạt động phát triển du lịch của một quốc gia và các địa phương trong
một giai đoạn nhất định.
+ Các điều kiện chung khác: Khả năng thanh toán của khách
du lịch tiềm năng; thời gian rỗi; trình độ dân trí.
- Điều kiện đặc trưng:
+ Điều kiện về tài nguyên du lịch: Tài nguyên du lịch là cảnh
quan thiên nhiên, yếu tố tự nhiên, di tích lịch sử - văn hóa, công trình
7
lao động sáng tạo của con người và các giá trị nhân văn khác có thể
được sử dụng nhằm thỏa mãn nhu cầu du lịch, là yếu tố cơ bản để hình
thành các khu du lịch, điểm du lịch, tuyến du lịch, đô thị du lịch.
+ Điều kiện sẵn sàng đón tiếp khách:
Điều kiện về tổ chức: Bộ máy quản lý nhà nước về du lịch; các
tổ chức và doanh nghiệp chuyên trách về du lịch; cơ sở hạ tầng xã hội.
Điều kiện về kỹ thuật: Cơ sở hạ tầng xã hội, cơ sở vật chất kỹ
thuật du lịch.
+ Các điều kiện đặc trưng khác: Thành tựu trong quá trình
Chính vì vậy, việc phát triển du lịch như thế nào là bền vững
và tránh được các tác hại mà nó gây ra đang là câu hỏi đặt ra cho các
quốc gia, các địa phương.
1.2. QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ DU LỊCH VÀ DU LỊCH
BIỂN
1.2.1. Sự cần thiết quản lý nhà nước về du lịch
Hoạt động du lịch rất đa dạng và luôn đòi hỏi sự quản lý của
Nhà nước để duy trì và phát triển,có sự định hướng của Nhà nước để
du lịch phát triển.
1.2.2. Đặc điểm, nội dung của quản lý nhà nước về du lịch
1.2.2.1. Đặc điểm
-Thể chế quản lý: Cần coi hoạt động của khách du lịch là đối
tượng quản lý nhà nước về du lịch và phải xác định rõ và đủ mọi hoạt
động của khách du lịch, để không bỏ sót các lĩnh vực cần quản lý.
- Về tổ chức bộ máy quản lý
Hoạt động du lịch đa dạng, mang tính liên ngành liên vùng
nên quản lý nhà nước về du lịch là quản lý liên ngành. Bộ máy quản lý
nhà nước về du lịch, trong hoạt động của mình cũng thể hiện tính liên
9
ngành rõ rệt.
- Về nhân lực
Do có sự trùng hợp của đối tượng quản lý và kinh doanh đều
là khách du lịch nên việc tách bạch cần thiết giữa quản lý và kinh
doanh rất khó khăn. Việc xây dựng thể chế cần phải làm rõ hai chức
năng. Nhưng trong công việc cụ thể, trong thực thi thì hai chức năng
gắn bó với nhau trong một cơ cấu tổ chức, thậm chí trong một con
người.
- Cơ chế điều hành
Một mặt du lịch rất cần môi trường ổn định để phát triển. Mặt
khác do nhu cầu du lịch rất linh loạt, nhạy cảm, lại mang tính thời vụ
của tuyên truyền, xúc tiến du lịch trong kinh doanh du lịch là nhằm
giới thiệu, hình thành và định hướng nhu cầu của du khách đối với các
sản phẩm du lịch của địa phương.
- Quan tâm đến việc đào tạo và phát triển nguồn nhân lực cho
ngành du lịch của địa phương. Du lịch là ngành kinh tế dịch vụ, có đối
tượng phục vụ là con người. Hơn nữa, con người ở đây không chỉ bó
hẹp trong phạm vi một vùng, một nước mà còn bao gồm cả khách du
lịch quốc tế.
- Thường xuyên củng cố, kiện toàn, nâng cao năng lực quản
lý, điều hành của Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch. Để Sở Văn hóa,
Thể thao và Du lịch phát huy được vai trò, thể hiện tốt chức năng của
mình, trong đó có quản lý nhà nước về hoạt động du lịch, cần phải
quan tâm công tác đào tạo đội ngũ cán bộ, áp dụng các hình thức điều
động, luân chuyển…, tạo điều kiện để cán bộ có điều kiện tiếp cận thực
tiễn, đồng thời cần phải thường xuyên tổ chức các cuộc hội thảo
chuyên đề hoặc giao lưu với các địa phương, tỉnh bạn để học hỏi, trao
11
đổi kinh nghiệm trong quản lý, điều hành hoạt động du lịch.
- Chú trọng đầu tư cho công tác bảo vệ môi trường biển để
phát triển du lịch biển bền vững.
Chương 2
THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ DU LỊCH
TẠI CÁC BÃI BIỂN TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
2.1. CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN QUẢN LÝ NHÀ
NƯỚC VỀ DU LỊCH TẠI CÁC BÃI BIỂN TRÊN ĐỊA BÀN
THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
2.1.1. Đặc điểm về điều kiện tự nhiên
Đà Nẵng nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa điển
hình, nhiệt độ cao và ít biến động. Đà Nẵng mỗi năm có 2 mùa rõ
rệt: mùa mưa kéo dài từ tháng 8 đến tháng 12 và mùa khô từ tháng 1
(Nguồn: Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch thành phố Đà Nẵng)
+ Hệ thống nhà hàng, cửa hàng bán đồ lưu niệm
Hiện nay trên toàn thành phố tổng cơ sở dịch vụ du lịch đạt
chuẩn là 36 cơ sở, trong đó 22 cơ sở ăn uống và 14 cơ sở mua sắm đạt
chuẩn. Thực đơn ẩm thực phục vụ khách khá đa dạng. Tuy nhiên, cơ
sở kinh doanh dịch vụ đạt chất lượng chưa nhiều, chưa đáp ứng được nhu
cầu mua sắm, ăn uống của khách du lịch
+ Hệ thống các công ty kinh doanh du lịch
Tính đến cuối năm 2014, tổng số đơn vị lữ hành trên địa bàn
thành phố là 183 đơn vị (trong đó có 108 đơn vị quốc tế, 75 đơn vị nội
địa). Hoạt động kinh doanh lữ hành tại Đà Nẵng khá ổn định và
phát triển nhanh. Tuy nhiên, còn có những biểu hiện cạnh tranh
không lành mạnh như giảm giá tour, giảm giá các dịch vụ để
thu hút khách, nên không đảm bảo chất lượng dịch vụ. Việc phối
hợp, hợp tác giữa lữ hành và khách sạn vẫn còn hạn chế, chưa tạo
được mối quan hệ gắn kết khai thác có hiệu quả.
+ Hoạt động đầu tư phát triển du lịch
Tính đến cuối năm 2014, Đà Nẵng có 71 dự án đầu tư vào lĩnh
13
vực dịch vụ du lịch với tổng vốn đầu tư 8.180,9 triệu USD (171.799 tỷ
đồng), trong đó có 15 dự án đầu tư nước ngoài với tổng vốn đầu tư
1.668,5 triệu USD (35.039 tỷ đồng) và 56 dự án đầu tư trong nước với
tổng vốn 6.512,4 triệu USD (136.760 tỷ đồng).
2.1.3. Tiềm năng và thế mạnh du lịch biển Đà Nẵng
2.1.3.1 Tiềm năng
Biển Đà Nẵng với nhiều bãi biển đẹp nằm rải rác từ phía
Bắc đến phía Nam như Nam Ô, Xuân Thiều, Thanh Bình, Tiên Sa,
bán đảo Sơn Trà, Mỹ Khê, Bắc Mỹ An, Non Nước… trong đó có
nhiều bãi tắm đã được du khách quốc tế biết đến là nơi nghỉ dưỡng,
thư giãn, tắm biển lý tưởng nhất khu vực Đông Nam Á. Biển Đà
năng quản lý nhà nước đối với hoạt động du lịch trên phạm vi thành
phố trực thuộc Trung ương là Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch thành
phố Đà Nẵng.
2.2.3. Phân cấp quản lý
Phân cấp quản lý nhà nước về du lịch hợp lý để tăng cường và
phát huy tính chủ động, sáng tạo của mỗi cơ quan nhà nước ở từng
cấp. Việc phân cấp được thể hiện bằng việc cụ thể hoá chức năng
nhiệm vụ, quyền hạn của từng loại cơ quan, từng cấp tham gia quản lý
nhà nước về du lịch (UBND thành phố, UBND các quận ven biển).
2.2.4. Phối hợp các cơ quan nhà nước
Nêu rõ công tác phối hợp với các cơ quan trong công tác
quản lý (ANTT, VSMT )tại các bãi biển du lịch Đà Nẵng.
2.2.5. Xã hội hoá phát trển du lịch biển tại Đà Nẵng
Trong thời gian qua, Đà Nẵng cũng không ngừng kêu gọi đầu
tư trong và ngoài nước để xây dựng các công trình phục vụ dân sinh
15
và tạo thuận lợi cho phát triển du lịch như: tuyến đường du lịch ven
biển Hoàng Sa - Trường Sa; các dự án tại Bán đảo Sơn Trà; Bà Nà -
Suối Mơ; quy hoạch và mở rộng khu danh thắng Ngũ Hành Sơn tạo
nền móng để du lịch Đà Nẵng phát triển. Đến nay, thành phố có 60 dự
án đầu tư về du lịch đang triển khai với số vốn lên đến hơn 4 triệu
USD (khoảng 85 ngàn tỷ đồng); trong đó có 13 dự án đầu tư nước
ngoài với tổng số vốn đầu tư hơn 1,4 triệu USD.
2.3. Kết quả đạt được trong công tác quản lý nhà nước
về du lịch biển Đà Nẵng
2.3.1. Nhận xét chung
2.3.2. Những kết quả đạt được trong công tác quản lý nhà
nước về du lịch biển Đà Nẵng
2.3.1.1. Công tác cứu hộ
Tại các bãi biển, bố trí 100 đội viên cứu hộ. Trong 05 năm
Số lượng khách du lịch (lượt khách)
Tốc độ tăng
trưởng lượt
khách
(%)
Tổng
Khách
nội địa
Khách
quốc tế
2010 1.770.000 1.400.000 370.000
18% (so với năm
2009)
2011 2.350.000 1.850.000 500.000 33%
2012 2.659.553 2.028.645 630.908 12%
2013 3.177.558 2.374.374 743.183 17,2%
2014 3.800.000 2.845.000 955.000 21,9%
(Nguồn: Báo cáo tổng hợp số liệu du lịch của Sở VH, TT & DL TP.
Đà Nẵng)
17
Bảng 2.3. Khách quốc tế đến Đà Nẵng phân theo quốc tịch
Quốc tịch 2010 2011 2012 2013 2014
Trung Quốc 11.692 40.790 92.447 105.665 152.359
Hàn Quốc 3.782 4.839 72.185 55.559 107.008
Nhật Bản 5.530 37.917 26.836 41.168 52.671
Mỹ 11.430 14.836 29.216 16.604 21.440
Úc 11.543 29.658 12.544 17.471
Thái Lan 19.352 36.839 72.185 25.508 9.705
Anh 2.106 14.748 8.350
2.3.4.3. Công tác tuyên truyền tại các bãi biển vẫn chưa huy
động mạnh mẽ cộng đồng xã hội: cơ quan chính quyền, đoàn thể…
vào cuộc.
2.3.4.4. Chưa có sản phẩm du lịch biển đặc trưng, du lịch
biển còn chưa tạo dựng được thương hiệu, chưa phát triển có trọng
tâm, trọng điểm.
2.3.4.5. Chưa có quy hoạch tổng thể phát triển cho thời gian
dài hợp lý, đặc biệt quy hoạch khu vực bờ Tây dọc tuyến biển.
2.3.4.6. Lực lượng lao động của ngành du lịch Đà Nẵng nói
chung và du lịch biển nói riêng còn yếu và thiếu, chưa đáp ứng
được như cầu phát triển du lịch nhanh của thành phố.
2.3.4.7. Mặc dù biển Đà Nẵng được đánh giá là sạch đẹp,
văn minh nhưng chưa có đề án, chiến lược cụ thể để tạo dựng môi
trường biển trong sạch và bền vững; chế tài đủ mạnh để xử xử phạt
can thiệp quá sâu của con người về cải tạo thiên nhiên đối với
những vùng biển có nhiều động thực vật biển.
19
Chương 3
MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ DU LỊCH TẠI CÁC BÃI BIỂN
TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
3.1. MỤC TIÊU, ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN DU
LỊCH BIỂN VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA CHO CÔNG TÁC
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ DU LỊCH TẠI CÁC BÃI BIỂN
TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG TRONG THỜI
GIAN ĐẾN
3.1.1 Mục tiêu, định hướng phát triển du lịch biển
3.1.1.1. Mục tiêu
Phấn đấu đạt tỷ trọng GDP của khu vực dịch vụ đến năm 2015
chiếm trên 54,2% trong tổng GDP thành phố; đến năm 2020, Đà Nẵng
đến, tránh tình trạng chèo kéo, phiền nhiễu khách du lịch.
- Đào tạo và phát triển nguồn nhân lực du lịch theo tính
chuyên môn hóa và trình độ quản lý cao.
- Tăng cường công tác quảng bá xúc tiến vào các thị trường
trọng điểm. Xây dựng chiến lược phát triển thương hiệu du lịch của
thành phố.
3.2. CÁC GIẢI PHÁP CỤ THỂ
3.2.1. Tiếp tục hoàn thiện hệ thống văn bản pháp luật
3.2.2. Đẩy mạnh đầu tư cơ sở hạ tầng du lịch, thu hút vốn
đầu tư cho phát triển du lịch biển
3.2.2.1. Đầu tư cơ sở hạ tầng du lịch
3.2.2.2. Tăng cường thu hút vốn đầu tư cho phát triển du
lịch biển
21
3.2.3. Kiện toàn bộ máy, nâng cao năng lực quản lý nhà
nước, quy hoạch, sắp xếp các doanh nghiệp du lịch
3.2.4. Tăng cường vai trò công nghệ thông tin, đẩy mạnh
hoạt động xúc tiến du lịch biển.
3.2.5. Đa dạng hóa sản phẩm du lịch biển và hướng tới
sản phẩm có giá trị cao
3.2.6. Chú trọng phát triển nhân lực du lịch theo như cầu
xã hội
3.2.7. Tăng cường phối hợp giữa các ngành, đẩy mạnh hợp
tác quốc tế để nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước về du lịch
3.2.8. Tăng cường phối hợp liên ngành, địa phương dưới
sự chỉ đạo tập trung thống nhất của Chính phủ
3.2.9. Khai thác và bảo vệ tài nguyên môi trường tại các
bãi biển du lịch trên địa bàn thành phố Đà Nẵng
3.3. MỘT SỐ KIẾN NGHỊ
- Đề nghị Chính phủ tiếp tục tranh thủ quan hệ ngoại giao để
sức quan trọng, công tác quản lý nhà nước về du lịch tại các bãi biển
trên địa bàn thành phố Đà Nẵng còn bộc lộ nhiều hạn chế cần phải
khắc phục.
Để đáp ứng được những đòi hỏi của quá trình toàn cầu hóa,
hội nhập kinh tế, du lịch Việt Nam nói chung và những bất cập trong
công tác quản lý nhà nước về du lịch tại các bãi biển trên địa bàn
thành phố Đà Nẵng nói riêng cần phải được hoàn thiện.
Trong những năm gần đây, ngành du lịch đang dần chiếm
vị trí quan trọng trong sự phát triển kinh tế - xã hội của các quốc
gia. Với những lợi thế vốn có về du lịch biển của mình, Đà Nẵng
23
đang từng bước phát triển theo hướng trở thành trung tâm du lịch
của khu vực miền Trung và cả nước, là điểm đến hấp dẫn của du
khách trong và ngoài nước.
Đề tài luận văn “Quản lý nhà nước về du lịch tại các bãi
biển trên địa bàn thành phố Đà Nẵng” đã giải quyết được một số
nội dung sau:
- Phân tích, làm rõ một số lý luận cơ bản về quản lý nhà nước
về du lịch và du lịch biển.
- Qua phân tích thực trạng quản lý nhà nước về du lịch tại
các bãi biển trên địa bàn thành phố giai đoạn 2010 - 2014, luận văn
đã cho thấy được những tiềm năng, điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội,
thách thức cho du lịch biển Đà Nẵng; đồng thời cũng nêu ra
những mặt làm được, những mặt còn tồn tại của ngành du lịch Đà
Nẵng trong thời gian qua.
- Trên cơ sở lý luận, thực trạng và định hướng, mục tiêu phát
triển du lịch biển của chính quyền thành phố Đà Nẵng, tác giả đã đề
xuất một số giải pháp và kiến nghị với các cấp có thẩm quyền nhằm
làm tốt hơn nữa công tác quản lý, giúp du lịch biển Đà Nẵng phát
triển xứng tầm với tiềm năng của mình.