Rèn cho học sinh kỹ năng viết đúng chính tả - Pdf 28

MỤC LỤC
TRANG
Mở đầu 2
Lý do chọn đề tài 2
Lịch sử vấn đề nghiên cứu 3
Đối tượng , phạm vi nghiên cứu 3
Phương pháp nghiên cứu 3
Chương 1 6
Nguyên nhân - Biện pháp khắc phục 5
Nguyên nhân dẫn đến tình trạng học sinh viết sai lỗi chính tả nhiều: 6
Nguyên nhân: 6
Biện pháp khắc phục: 7
Chương 2 9
Thống kê – nguyên nhân – biện pháp 11
Kết quả thống kê lỗi:
11
Nguyên nhân mắc lỗi:
11
Một số biện pháp khắc phục lỗi:
13
Các bài tập chính tả:
14
Kết luận 20
MỞ BÀI
1. Lý do chọn đề tài
1
Sở dĩ chúng tôi chọn đề tài:” Rèn cho học sinh kỹ năng viết đúng chính tả” là vì
tôi nghĩ chúng ta là người Việt Nam nên Tiếng Việt là một công cụ tư duy giúp học sinh
diễn đạt ý tưởng của mình một cách rõ ràng, đúng nghĩa và sáng sủa hơn. Nếu HS không
hiểu rõû ý nghĩa của tiếng Việt thì các em không dễ dàng cảm nhận cái hay cái đẹp của
bài văn, bài thơ và khó hòa mình vào cuộc sống. Hơn nữa, tiếng Việt cũng ảnh hưởng rất

Trong nhiu trng hp vit sai li chớnh t, HS dng nh khụng ý thc c vỡ
sao mỡnh li vit sai v vit sai ch no t sa cha. Dn dn thnh thúi quen nờn
hay vit sai li chớnh t. Khi vit bi sai nhiu li chớnh t, lỳc c li bi cỏc em cng
khụng bit mỡnh ó vit gỡ nờn khụng hiu bi v khú cú th nm c kin thc ca bi.
Lõu dn s lm cho cỏc em chỏn nn, khụng thớch hoùc moõn tieỏng Vit v luụn c cỏc
mụn hc khỏc. T ú s dn n tỡnh trng HS mt cn bn, chỏn hc v trm trng nht
l cỏc em b hc.
2. Lch s vn nghiờn cu
HS vit ỳng chớnh t thỡ kt qu hc tp ( im ca cỏc mụn hc: Tp lm vn,
Luyn t cõu, toỏn . . . ) s trn vn hn vỡ khụng b tr im sai li chớnh t. iu quan
trng nht l mt HS khi nghe c v vit ỳng chớnh t ú l mt du hiu cho thy s
nhn thc v õm, vn, du thanh, v ngụn ng v c v tri thc vn húa ca em ú ó
trng thnh.
3-i tng , phm vi nghiờn cu
Vi ti: Rốn cho hc sinh k nng vit ỳng chớnh t ny. Tụi ch mi thc
hin rốn luyn cho HS trong lp mỡnh ang ch nhim ( lp: 4

cú 35 HS) thng vit
sai chớnh t, giỳp cỏc em dn dn cú thúi quen v k nng vit ỳng chớnh t.
Nhng bi m cỏc e thng vit sai l ::
Nhng t cú thanh hi ( ? ) v thanh ngó ( ừ ).
Gia nhng t cú cỏc ph õm: g gh, ng ngh, tr ch, d gi r, s x,
v d ( HS min Nam), l n ( HS ngoi Bc chuyn vo).
Gia cỏc õm chớnh: ờ iờ
Gia nhng vn cú õm cui: n ng, c t
4. Phng phỏp nghiờn cu
Phng phỏp quan sỏt
Phng phỏp ỏnh giỏ
Phng phỏp so sỏnh
Phng phỏp tri nghim

Tỉ lệ % 55,8 1,9 15,6 12,0 7,1 5,4 0,9 0,9 0,4
Cuối học kì II: Tổng số học sinh: 224.
Điểm 5
4,5 4 3,5 3 2,5 2 1,5 1
Họcsinh 164 0
21 23 12 4 0 0 0
Tỉ lệ % 73,2 0 9,3 10,2 5,4 1,9 0 0 0
4
- Chữ viết là hệ thống ký hiệu bằng đường nét đặt ra để ghi tiếng nói và có
những quy tắc, quy định riêng. Muốn viết đúng chính tả Tiếng Việt, ta phải
tuân theo những quy định, quy tắc đã được xác lập.
- Trong thực tế, học sinh mắc lỗi chính tả rất nhiều. Có những học sinh viết
sai hơn 10 lỗi ở một bài chính tả khoảng 60 chữ. Khi chấm bài Tập làm văn,
tôi không thể hiểu các em muốn diễn đạt điều gì vì bài viết mắc quá nhiều lỗi
chính tả. Điều này ảnh hưởng tới kết quả học tập của các em ở môn Tiếng
Việt cũng như các môn học khác, hạn chế khả năng giao tiếp, làm các em mất
tự tin, trở nên rụt rè, nhút nhát.
- Vì lý do đó, tôi đã cố gắng thống kê, phân loại lỗi, tìm hiểu nguyên nhân
và đưa ra một số biện pháp khắc phục “để giúp học sinh giảm bớt lỗi chính
tả”, giúp các em mạnh dạn, tự tin hơn khi giao tiếp, nhằm mục tiêu đào tạo
những chủ nhân tương lai năng động, sáng tạo phù hợp với xu thế phát triển
hiện nay.
NỘI DUNG
Chương 1
Nguyên nhân - Biện pháp khắc phục
Nguyên nhân
5
1. Nguyên nhân dẫn đến tình trạng học sinh viết sai lỗi chính tả nhiều
Như chúng ta đã biết, Tiếng việt của chúng ta rất đa dạng và phong phú. Hơn nữa,
cùng trên một lãnh thổ nhưng giọng nói của từng vùng từng miền lại có âm sắc, đặc

“lên láng”; “chênh vênh” viết là “chên vên”)
Sai lỗi chính tả về thanh hỏi ( ? ), thanh ngã ( õ): (VD “ sửa bài” viết thành “ sữa
bài”, “ lỗi lầm” viết là “ lổi lầm”… )
Do chưa nắm vững qui tắc chính tả cũng như chưa nhớ mặt chữ ( vì trong lớp còn
một vài em đọc bài chậm còn đánh vần từ khó) nên dễ dẫn đế việc ghép âm một số tiếng
tùy tiện hoặc do không nắm vững luật chính tả.
Do cách phát âm chưa chuẩn và do có tính cẩu thả, nghe không chính xác vẫn cứ
viết bừa không chú ý đến nghĩa từ vựng hay cấu trúc của câu. Bên cạnh đó yếu tố tâm lý
ảnh hưởng không nhỏ, biết mình viết sai cũng không dám hỏi giáo viên .
Đôi khi chính giáo viên cũng không chú ý để sửa ngay những lỗi chính tả mà học
sinh mắc phải qua các bài kiểm tra như toán, tập làm văn, từ ngữ, ngữ pháp, tự nhiên xã
hội… Nhiều HS khi lên các lớp trên vẫn còn viết sai chính tả. Không thẻâ để tình trạng
này kéo dài mãi. Tôi nghĩ là giáo viên tiểu học chúng ta hãy cố gắng rèn cho các em viết
đúng chính tả.
Biện pháp khắc phục:
Với những nguyên nhân dẫn đến việc viết sai chính tả của học sinh mà chúng tôi đã trình
bày ở trên. Đây là một số biện pháp nhằém khắc phục tình trạng viết sai lỗi chính tả và
rèn kĩ năng viết đúng chính tả cho học sinh.
Khi dạy phân môn chính tả (đây là môn học quan trọng nhất để rèn kĩ năng viết đúng
chính tả) .Ở các bước rèn kĩ năng viết đúng chính tả, chúng tôi hướng dẫn cho học sinh
nắm vững các qui tắc chính tả về sự phân biệt giữa các âm đầu, âm cuối, dấu thanh và
chúng tôi chọn phương pháp dạy thích hợp cho mỗi kiểu bài chính tả.Chúng tôi chú
trọng nhất là các bước luyện viết từ khó, sửa lỗi, luyện tập để các em nắm được cách viết
từ.
Để giúp các em phân biệt về âm đầu giữa các tiếng có âm đầu: ch – tr, d – gi – r, s – x
và lỗi về các tiếng có âm cuối: c – t, n - ng
Ví dụ:Trong bài:
“ Vầng trăng quê em” có từ: làn gió, làng quê.
“ Cảnh đẹp non sông” có từ: nước biếc, bát ngát.
7

8
Hầu hết các bài đều có từ có dấu thanh hỏi – ngã. Để giúp các em phân biệt chúng tôi
cũng thường đặt các từ đó vào thế đối lặp từ vựng ngữ nghĩa ( VD: sôi nổi – nỗi lòng,
sửa bài – giọt sữa, san sẻ- sạch sẽ ). Hơn nữa phải lưu ý các em nghe giọng đọc của
GV để phân biệt cách viết.
Luyện viết từ khó: chúng tôi hướng dẫn học sinh chọn từ khó để tránh các em chọn lan
man, chọn những cặp từ với phụ âm đầu, vần hoặc thanh mà học sinh thường mắc lỗi cho
học sinh tập viết vào bảng con. học sinh phân tích các bộ phận của tiếng. Nếu nhiều học
sinh viết sai cùng một số từ tôi sẽ sửa lỗi chung cho cả lớp.
-Việc đầu tiên chúng tôi sẽ chọn ra những học sinh thường viết sai chính tả ra để dễ
theo dõi, rèn luyện cho các em và giúp các em nhận ra lỗi viết sai của mình mà tự sửa
chữa. Chúng tôi tập trung vào việc khắc phục những lỗi mà học sinh hay mắc phải như
đã nêu trên. Cũng như khi viết chính tả lúc sửa lỗi về một số vần chúng tôi cũng thường
đặt các từ vào thế đối lập từ vựng ngữ nghĩa để các em dễ phân biệt từ và hiểu được chỗ
sai của mình.
( VD: ân cần – cằn cõi) và nhấn mạnh lại các qui tắc viết chính tả nếu các em vẫn còn
viết sai.
Lúc chấm điểm các môn học khác. Chúng tôi cũng chú trọng lỗi chính tả. Nếu học sinh
nào sai nhiều, chúng tôi sẽ yêu cầu các em sửa lỗi ngay.
Khi dạy Tập đọc chúng tôi luôn chú trọng giúp cho học sinh hiểu rõ nghĩa của từ
khó để học sinh nắm vững từ, nhờ vậy các em viết chính tả ít bị sai. Đồng thời dạy học
sinh cách phát âm vì khi các em làm tập làm văn, luyện từ và câu … các em phải tự làm,
những lúc ấy các em phải tự nhớ lại cách phát âm mà viết cho đúng chính tả để kết quả
bài làm không bị ảnh hưởng.
Ngoài ra, chúng tôi luôn khuyến khích học sinh đọc báo Nhi đồng, sách truyện có nội
dung lành mạnh để tập nhớ mặt chữ và mở rộng vốn từ. Trước khi viết chính tả, chúng
tôi dặn các em đọc trước bài ở nhà nhiều lần. Tập viết những từ em cho là khó, mỗi từ
viết hai hàng. Nhờ vậy, các em viết ít sai lỗi chính tả .
Với những biện pháp vừa nêu cùng với những nổ lực cố gắng của học sinh nên tỷ lệ học
sinh viết chính tả dưới năm lỗi trong một bài đã giảm xuống rõ rệt. Nhìn chung, HS viết

1.2. Về âm đầu:
- Học sinh viết lẫn lộn một số chữ cái ghi các âm đầu sau đây:
+ l/n: đi nàm, no nắng …
+ c/k: Céo cờ…
+ g/gh: Con gẹ , gê sợ…
+ ng/ngh: Ngỉ ngơi, nge nhạc…
+ ch/tr: Cây che, chiến chanh…
+ s/x: Cây xả , xa mạc…
- Trong các lỗi này, lỗi về ch/tr, s/x, l/n đối với lớp tôi chủ nhiệm là phổ
biến hơn cả.
1.3. Về âm cuối:
- Học sinh thường viết lẫn lộn chữ ghi âm cuối trong các vần sau đây:
+ an/ang: cây bàn, bàng bạc…
+ at/ac: lang bạc, lường gạc, rẻ mạc…
+ ăt/ăc: giặc giũ, mặt quần áo…
+ ân/âng: hụt hẫn, nhà tần…
+ ât/âc: nổi bậc, nhất lên…
+ ên/ênh: bấp bên, nhẹ tên, ghập ghền, khấp khển…
+êt/êch: trắng bệt…
2.Nguyên nhân mắc lỗi
2.1. Về thanh điệu:
Theo các nhà ngữ âm học, người Việt từ Nghệ An trở vào không phân
biệt được 2 thanh hỏi, ngã. Hay nói đúng hơn trong phương ngữ Trung và
11
Nam không có thanh ngã. Mặt khác, số lượng tiếng mang 2 thanh này khá
lớn. Do đó lỗi về dấu câu rất phổ biến. Một số học sinh miền Bắc thường hay
lẫn lộn 2 thanh sắc, ngã với nhau.
2.2. Về âm đầu:
Trong phương ngữ Bắc và Nam có sự lẫn lộn giữa các chữ ghi âm đầu
ch/tr, s/x. d/gi. Mặt khác, người Miền Nam còn lẫn lộn v và d. Ngoài

- Việc rèn phát âm không chỉ được thực hiện trong tiết Tập đọc mà được
thực hiện thường xuyên, liên tục, lâu dài trong tất cả các tiết học như Chính tả,
Luyện từ và câu, Tập làm văn…
- Với những học sinh có vấn đề về mặt phát âm ( nói ngọng, nói lắp…)
giáo viên lưu ý học sinh chú ý nghe cô phát âm để viết cho đúng. Vì vậy, giáo
viên phải cố gắng phát âm rõ ràng, tốc độ vừa phải mới có thể giúp học sinh
viết đúng được.
3.2. Phân tích, so sánh
- Với những tiếng khó, giáo viên áp dụng biện pháp phân tích cấu tạo
tiếng, so sánh với những tiếng dễ lẫn lộn, nhấn mạnh những điểm khác nhau để
học sinh ghi nhớ.
Ví dụ: Khi viết tiếng “muống” học sinh dễ lẫn lộn với tiếng “muốn”, giáo
viên yêu cầu học sinh phân tích cấu tạo hai tiếng này:
- Muống = M + uông + thanh sắc
- Muốn = M + uôn + thanh sắc.
So sánh để thấy sự khác nhau: Tiếng “muống” có âm cuối là “ng”, tiếng
“muốn” có âm cuối là “n”. Học sinh ghi nhớ điều này, khi viết, các em sẽ
không viết sai.
3.3. Giải nghĩa từ
- Biện pháp thứ ba để khắc phục lỗi chính tả cho học sinh là giải nghĩa
từ. Việc giải nghĩa từ thường được thực hiện trong tiết Luyện từ và câu, Tập
đọc, Tập làm văn… nhưng nó cũng là viêc làm rất cần thiết trong tiết Chính
tả, khi mà học sinh không thể phân biệt từ khó dựa vào phát âm hay phân tích
cấu tạo tiếng.
- Có nhiều cách để giải nghĩa từ cho học sinh: Giáo viên có thể cho học
sinh đọc chú giải, đặt câu (nếu học sinh đặt câu đúng tức là học sinh đã hiểu
13
nghĩa từ), tìm từ đồng nghĩa, trái nghĩa, miêu tả đặc điểm hoặc sử dụng vật
thật, mô hình, tranh ảnh,…
Ví dụ: Phân biệt chiêng và chiên

huyền, nặng, ngã thì yếu tố đứng sau sẽ mang thanh ngã, nếu yếu tố đứng
trước mang thanh ngang, sắc, hỏi thì yếu tố đứng sau sẽ mang thanh hỏi (hoặc
ngược lại).
Ví dụ: Bổng
Ngang + hỏi: Nho nhỏ, lẻ loi, trong trẻo, vui vẻ…
Sắc + hỏi: Nhắc nhở, trắng trẻo, sắc sảo, vắng vẻ…
Hỏi + hỏi: Lỏng lẻo, thỏ thẻ, hổn hển, thủ thỉ, rủ rỉ…
Trầm:
Huyền + ngã: Sẵn sàng, lững lờ, vồn vã
Nặng + ngã: Nhẹ nhõm, đẹp đẽ, mạnh mẽ, lạnh lẽo,…
Ngã + ngã: Dễ dãi, nghễnh ngãng, nhõng nhẽo…
+ Để phân biệt các vần dễ lẫn lộn:
Một số từ có vần ênh chỉ trạng thái bấp bênh, không vững chắc: Gập
ghềnh, khấp khểnh, chông chênh, lênh đênh, bập bềnh, chếnh choáng, chệnh
choạng, lênh khênh, bấp bênh, công kênh…
Hầu hết các từ tượng thanh có tận cùng là ng hoặc nh: oang oang, đùng đoàng,
loảng xoảng, đoàng đoàng, sang sảng, rổn rảng, ùng oàng, quang quác, ăng ẳng,
ằng ặc, oăng oẳng, răng rắc, sằng sặc, pằng pằng, eng éc, beng beng, chập
cheng, leng keng, reng reng, phèng phèng, lẻng kẻng, lẻng xẻng, ùng ùng, đùng
đùng, thùng thùng, bình bịch, thình thịch, thình thình, rập rình, xập xình, huỳnh
huỵch…
Vần uyu chỉ xuất hiện trong các từ: khuỷu tay, khúc khuỷu, ngã khuỵu,
khuỵu chân; vần oeo chỉ xuất hiện trong các từ ngoằn ngoèo, khoèo chân
3.5. Làm các bài tập chính tả:
Giáo viên có thể đưa ra các dạng bài tập chính tả khác nhau để giúp học
sinh tập vận dụng các kiến thức đã học, làm quen với việc sử dụng từ trong văn
cảnh cụ thể. Sau mỗi bài tập, giáo viên giúp học sinh rút ra các quy tắc chính tả
để các em ghi nhớ.
- Bài tập trắc nghiệm:
- Khoanh tròn vào chữ cai trước những chữ viết đúng chính tả:

Lá vàng bay liệng trong gió chiều.
Bức tườn bị nức ngang nức dọc.
16
- Bài tập điền khuyết:
- Điền vào chỗ trống:
l/n: lành…. ặn, nao…úng,…anh lảnh
s/x: chim…ẻ, san…ẻ, …ẻ gỗ. …uất khẩu, năng….uất.
ươn / ương: bay l… , b…. chải, bốn ph… , chán ch……
iêt/ iêc: đi biền b… , thấy tiêng t…
/
, xanh biêng b…
Điền tiếng láy thích hợp vào chỗ trống:
Hắn bỡ…… trước cuộc sống mới lạ.
Buổi trưa hè, trời nắng chói …….
Dây leo chằng………, chắn cả lối đi.
Tiếng gà kêu quang ………
- Bài tập tìm từ:
Học sinh tìm từ ngữ chứa âm, vần dễ lẫn qua gợi ý nghĩa của từ, qua
gợi ý từ đồng âm, từ trái nghĩa….
- Tìm các từ chứa tiếng bắt đầu bằng ươt hoặc ươc có nghĩa như sau:
Dụng cụ để đo, vẽ, kẻ:
Thi không đỗ:
Người chuyên nghiên cứu, bào chế thuốc chữa bệnh:
- Tìm các từ chỉ hoạt động:
Chứa tiếng bắt đầu bằng r:
Chứa tiếng bắt đầu bằng d:
Chứa tiếng bắt đầu bằng gi:
Chứa tiếng có vần ươt:
Chứa tiếng có vần ươc:
- Tìm từ ngữ có thanh hỏi hoặc thanh ngã có ý nghĩa như sau:

lỗi… Tuy rằng đây mới chỉ là kết quả hết sức khiêm tốn và việc “giúp học sinh
giảm bớt lỗi chính tả” là một quá trình lâu dài song tôi vẫn cảm thấy rất vui vì
công việc mình làm đã bước đầu có hiệu quả.
- Việc phát hiện lỗi chính tả, thống kê, tìm nguyên nhân gây lỗi, từ đó đưa
ra các biện pháp khắc phục là rất cần thiết, không thể thiếu trong quá trình
dạy - học Tiếng Việt. Nhưng không phải chỉ đưa ra các biện pháp khắc phục là
có thể thực hiện một cách có hiệu quả. Sửa chữa, khắc phục lỗi chính tả là cả
một quá trình lâu dài, đòi hỏi người giáo viên phải kiên trì, bền bỉ, không được
18
nóng vội. Bởi vì có những học sinh tiến bộ ngay trong vài tuần nhưng cũng có
những học sinh thì sự tiến bộ diễn ra rất chậm, không phải vài tuần, có khi vài
tháng, thậm chí cả một học kỳ. Nếu giáo viên không biết chờ đợi, nôn nóng thì
chắc chắn sẽ thất bại.
- Ngay từ khi các em mới bắt đầu “làm quen” với Tiếng Việt, giáo viên nên
hướng dẫn các em thật tỉ mỉ về các quy tắc chính tả, quy tắc kết hợp từ, quy tắc
ghi âm chữ quốc ngữ… tránh trường hợp học sinh vì thiếu hiểu biết dẫn đến
sai sót.
- Trong quá trình giảng dạy, giáo viên luôn quan sát, kiểm tra, … từ đó
phát hiện ra những khó khăn, vướng mắc, hoặc những lỗi mà học sinh hay mắc
phải để kịp thời sửa chữa, uốn nắn.
- “Ở đâu có thầy giỏi. ở đó có trò giỏi”. Vì vậy người giáo viên cần phải
không ngừng học hỏi, tự tìm hiểu, nghiên cứu để nâng cao trình độ, tay nghề.
Có nắm chắc kiến thức, giáo viên mới có thể giúp học sinh chữa lỗi và khắc
phục lỗi một cách có hiệu quả.
19
KẾT LUẬN
Với kết quả nghiên cứu của mình, chúng tôi không có tham vọng đưa ra
các biện pháp nhằm giải quyết vấn đề một cách tổng thể mà chỉ xin nêu một
số kinh nghiệm ít ỏi của chúng tôi tích luỹ được trong quá trình giảng dạy,
mong muốn được cùng chia sẻ với các “bạn đồng nghiệp”.
21


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status