Chơng I
Cơ sở lý luận về công nợ- quản lý công nợ trong các
doanh nghiệp thơng mại
I. Cơ sở hình thành và nội dung công nợ:
1.1. Cơ sở hình thành:
Chuyển sang nền kinh tế thị trờng định hớng xã hội chủ nghĩa, sự phát
triển của các thành phần kinh tế cùng với cơ chế tự chủ tài chính đã thực sự tạo
môi trờng cạnh tranh cho tất cả các doanh nghiệp, chính sách phân phối hợp lý,
linh hoạt đã làm biến đổi các vấn đề về lơng, thu nhập và dự trữ vốn trong mỗi
doanh nghiệp, mỗi tổ chức kinh tế, xã hội.
Không còn đợc bao cấp về tài chính, mỗi chủ thể của nền kinh tế phải tự
tìm kiếm nguồn vốn. Không có bất kỳ một doanh nghiệp nào kinh doanh bằng
toàn bộ vốn tự có bởi vì trong kinh doanh cần một lợng vốn rất lớn để mua, thuê
cửa hàng, nhà xởng, máy móc, trang bị, mua hàng hoá, nguyên vật liệu, trả
công ngời lao động....Và rất nhiều các khoản chi phí khác nữa. Vốn tự có thờng
không đủ để trang trải.
Mặt khác, đặc điểm tuần hoàn vốn tiền tệ của các đơn vị sản xuất kinh
doanh đợc vận động liên tục qua các giai đoạn của quá trình tái sản xuất và lu
thông hàng hoá. Do đó nếu nh mua bán không khớp nhau về không gian, thời
gian và số lợng sẽ nảy sinh nhu cầu vốn tạm thời cần đợc bổ sung ngay để tiến
hành sản xuất kinh doanh liên tục.
Trong xã hội, xét tại một thời điểm bất kỳ nào đó luôn xảy ra hiện tợng
có những ngời có vốn tiền tệ tạm thời nhàn rỗi, có đơn vị lại thiếu vốn do đó họ
có thể cho vay hoặc đi vay để bổ sung vốn thiếu hụt trong kinh doanh. Vốn vay
chiếm tỷ trọng đáng kể trong tổng nguồn vốn kinh doanh. Khi đi vay vốn,
doanh nghiệp phải đảm bảo vốn vay đợc hoàn trả đầy đủ đúng kỳ hạn cả gốc và
lãi theo cam kết do vậy vốn vay là một trong những nguồn chính hình thành nên
công nợ phải trả của doanh nghiêp. Nguồn vốn vay là nguồn vốn mà các doanh
2
nghiệp thờng khai thác, huy động khi thiếu vốn cho sản xuất, kinh doanh. Các
doanh nghiệp có thể vay vốn từ các ngân hàng, tổ chức tín dụng và các đối tợng
thu hồi.
- Các đơn vị ở đây có thể là các doanhnghiệp khách hàng, mà trong quá
trình mua hàng của doanh nghiệp đã nợ tiền của doanh nghiệp; Doanh nghiệp
bán hàng cho doanh nghiệp: là các doanh nghiệp đã nhận tiền mua hàng ứng tr-
ớc cho doanh nghiệp; các tổ chức tài chính: trong quá trình hoạt động kinh
doanh trên thơng trờng việc các tổ chức tài chính có thể huy động vốn của
doanh nghiệp nếu nh doanh nghiệp có vốn nhàn rỗi hoặc chi phí cơ hội giữa
việc kinh doanh và việc cho các tổ chức tài chính vay thì tỷ suất lợi nhuận cho
các tổ chức tài chính vay là cao hơn...
b. Nội dung công nợ phải thu:
Các khoản công nợ phải thu của doanh nghiệp bao gồm:
Các khoản phải thu từ khách hàng
ứng trớc cho ngời bán
Thuế GTGT đầu vào đợc khấu trừ
Các khoản phải thu nội bộ
Các khoản tạm ứng cho công nhân viên
Các khoản thế chấp, ký cợc, ký quỹ
Phải thu khác
Nội dung cụ thể của các khoản phải thu nh sau:
Các khoản phải thu từ khách hàng: là những khoản cần phải thu do
doanh nghiệp bán chịu hàng hoá, thành phẩm hoặc cung cấp lao vụ, dịch vụ cho
khách hàng.
Để có thể thắng lợi trong cạnh tranh, giành đợc nhiều thị phần trên thị tr-
ờng, doanh nghiệp phải áp dụng hình thức bán chịu( tín dụng thơng mại) để
tăng tốc độ tiêu thụ hàng hoá, tăng khả năng chu chuyển vốn và rút ngắn chu kỳ
kinh doanh. Khả năng tài chính của khách hàng mua chịu ảnh hởng rất lớn tới
mức độ chắc chắn thu hồi số tiền nợ phải thu. Để tránh rủi ro do khách hàng
4
mất hoặc giảm khả năng thanh toán, doanh nghiệp cần tổ chức tốt công tác thu
hồi công nợ đối với từng khách hàng, đặc biệt với các khách hàng có số tiền
phiếu, trái phiếu, ô tô... hoặc giấy tờ chứng nhận quyền sở hữu tài sản giao cho
ngời cho vay cầm giữ trong thời gian vay vốn.
Ký cợc: Doanh nghiệp dùng tiền vào việc đặt cợc thuê mợn tài sản theo
yêu cầu của bên cho thuê nhằm mục đích ràng buộc và nâng cao trách nhiệm
của doanh nghiệp trong việc quản ly, sử dụng tốt tài sản đi thuê và hoàn trả
đúng hạn.
Ký quỹ: Là số tiền hoặc tài sản gửi trớc để làm tin trong các quan hệ mua
bán, nhận làm đại lý bán hàng hoặc tham gia đấu thầu....nhằm đảm bảo sự tin
cậy giữa đôi bên và ràng buộc trách nhiệm của các bên có liên quan trong việc
thực hiện hợp đồng đã ký.
Các khoản phải thu khác: Bao gồm:
Giá trị tài sản thiếu cha rõ nguyên nhân chờ xử lý.
Các khoản phải thu về bồi thờng vật chất.
Các khoản vay mợn tài sản, tiền bạc có tính tạm thời.
Các khoản phải thu về cho thuê TSCĐ, lãi đầu t tài chính.
Các khoản phải thu khác: phí, lệ phí, nộp phạt bồi thờng.
1.2.2. Công nợ phải trả:
a. Khái niệm:
Công nợ phải trả là một bộ phận tài sản thuộc nguồn vốn của doanh
nghiệp đợc tài trợ từ các doanh nghiệp và tổ chức kinh tế khác mà doanh nghiệp
có trách nhiệm phải hoàn trả.
b. Nội dung công nợ phải trả:
Các khoản tiền vay.
Phải trả cho ngời bán.
Ngời mua ứng trớc.
Phải trả công nhân viên.
Các khoản phải nộp ngân sách
Các khoản phải trả nội bộ doanh nghiệp.
6
Nhận ký cợc ký quỹ dài hạn
dịch vụ mà doanh nghiệp mua chịu, đã nhận hàng nhng cha thanh toán tiền.
Đây cũng chính là chính sách u đãi trong việc thanh toán tiền hàng của
các doanh nghiệp bán hàng cho doanh nghiệp. Do doanh nghiệp bán chịu hàng
hoá nên hình thành nên các khoản phải thu. Bên cạnh đó doanh nghiệp cũng
mua chịu hàng hoá của các doanh nghiệp bán hàng cho doanh nghiệp hình
thành nên các khoản nợ phải trả. Trong nền kinh tế thị trờng đây là một xu thế
tất yếu không thể tránh khỏi.
Ngời mua ứng trớc : Doanh nghiệp nhận tiền của khách hàng nhng cha
giao hàng
Phải trả công nhân viên : Là các khoản tiền doanh nghiệp phải trả cho
công nhân viên nh tiền lơng, tiền công, tiền thởng, các khoản bảo hiểm xã hội
và các khoản thu nhập khác của ngời lao động.
Các khoản phải nộp ngân sách nhà nớc:
Thuế GTGT: Là loại thuế gián thu tính trên phần giá trị tăng thêm của
hàng hóa,dịch vụ phát sinh trong quá trình từ sản xuất, lu thông đến tiêu dùng.
Thuế tiêu thụ đặc biệt: Là loại thuế gián thu đánh vào một số hàng hoá
dịch vụ nhất định thuộc một trong hai nhóm sau:
Những hàng hoá-dịch vụ Nhà Nớc không khuyến khích sản xuất, nhập
khẩu, tiêu dùng.
Những hàng hoá dịch vụ mà chỉ có những ngời có thu nhập cao mới có
thể sử dụng.
Thuế xuất khẩu, nhập khẩu: Là loại thuế gián thu đánh vào giá trị của
hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu qua cửa khẩu và biên giới Việt Nam.
Thuế xuất khẩu, nhập khẩu là một trong những công cụ quan trọng của
Nhà Nớc để quản lý các hoạt động kinh tế đối ngoại.
Thuế thu nhập doanh nghiệp: Là loại thuế trực thu đánh vào thu nhập
chịu thuế của các tổ chức, cá nhân có sản xuất kinh doanh hàng hoá, dịch vụ.
Thuế nhà,đất,thuế môn bài, các loại thuế khác.....
Thu trên vốn.
8
cứng rắn, nhằm tránh rủi ro, trong trờng hợp cần thiết thì doanh nghiệp sẽ lập
dự phòng các khoản phải thu khó đòi.
Thứ hai là theo khả năng thu hồi công nợ:
Theo cách phân loại này thì kế toán công nợ sẽ biết đợc các khoản nợ nào
sắp đến hạn thanh toán để có những biện pháp chủ động nhằm thu đợc nợ đúng
thời hạn nh gọi điện nhắc nhở trớc cho khách hàng hoặc nếu khách hàng mua
chịu tiếp mà cha thanh toán nợ thì yêu cầu doanh nghiệp phải trả hết nợ thì mới
đợc mua chịu....Đặc biệt doanh nghiệp biết khoản nợ nào khó đòi để doanh
nghiệp có biện pháp ứng phó thu hồi phù hợp, tìm hiểu lý do để doanh nghiệp
triệt để hạn chế từ đó quản lý tốt hơn các khoản nợ khó đòi nhằm giảm thiểu rủi
ro.
Thứ ba là theo đối tợng nợ hay là theo khách nợ :
Phân loại các khoản phải thu theo khách nợ nên đợc làm ở các doanh
nghiệp vì khi đó doanh nghiệp sẽ biết rõ đợc tình hình kinh doanh của khách
nợ, xem xét các khoản nợ mà khách nợ nợ nhiều hay ít đồng thời phân tích đợc
vị thế tín dụng của khách hàng giúp doanh nghiệp khi áp dụng chính sách bán
chịu ít gặp phải rủi ro trong thanh toán. Biết rõ khách hàng của mình là ai thì
doanh nghiệp sẽ không bị mất vốn và có biện pháp đế thu hồi công nợ, không
biết thì doanh nghiệp sẽ bị mất vốn.
Ngoài ra tuỳ thuộc vào từng loại hình kinh doanh thì doanh nghiệp nên
phân loại công nợ chi tiết theo yêu cầu quản lý của doanh nghiệp nhằm có
những biện pháp để theo dõi quản lý công nợ đợc tốt giúp doanh nghiệp thu hồi
đợc các khoản nợ đầy đủ nhanh chóng, chịu chi phí thu hồi công nợ thấp và hạn
chế đợc rủi ro.
Thứ t là theo thời hạn thu hồi công nợ :
Theo cách phân loại này công nợ của doanh nghiệp bao gồm: nợ quá hạn,
nợ khó đòi và nợ sắp đến hạn.
II. Các yếu tố ảnh hởng đến công nợ:
Công nợ trong bất cứ một doanh nghiệp hay một tổ chức kinh tế nào bao
giờ cũng tồn tại những khoản tiền phải thu đối với khách nợ và khoản nợ phải
quốc tế. Đối với các khoản phải trả doanh nghiệp cũng cần phải chú ý là thanh
11
toán đúng thời hạn, tránh để nợ tồn đọng, dây da kéo dài ảnh hởng đến uy tín
của doanh nghiệp trên thơng trờng.
- Quy mô : Trong quan hệ giao dịch mua bán hiện nay hình thức thanh
toán trả chậm chiếm tới 80% trong các giao dịch. Giá trị của từng hoá đơn bán
chịu hay của từng tín dụng thơng mại thể hiện lợng tiền hay tài sản mà các đơn
vị đối tác nợ doanh nghiệp. Quy mô của công nợ phát sinh lớn hay nhỏ tuỳ
thuộc vào tính chất của hàng hoá trên thị trờng. Quy mô của công nợ nói lên số
lợng tiền nợ nhiều hay ít. Trên diện rộng, đối với từng chủ nợ, khách nợ thì quy
mô của công nợ đợc thể hiện là tổng tài sản mà doanh nghiệp nợ các đối tác và
các đối tác và các đơn vị kinh tế khác nợ doanh nghiệp. Bên cạnh đó thì tiềm
lực tài chính cũng quyết định quy mô công nợ và chính sách tín dụng mà doanh
nghiệp áp dụng. Nếu doanh nghiệp cho phép các hoá đơn thanh toán đợc thanh
toán chậm trả nhiều thì quy mô công nợ sẽ lớn và ngợc lại. Tiềm lực tài chính
của doanh nghiệp mạnh, doanh nghiệp muốn tăng doanh số bán ra và các hoá
đơn đợc thanh toán chậm trả thì quy mô công nợ sẽ ngày càng tăng. Doanh
nghiệp nên áp dụng chính sách tín dụng thơng mại phù hợp và nghiên cứu kỹ l-
ỡng về khách hàng để chính sách bán chịu không phải chịu rủi ro và đảm bảo
các khoản thu đợc thu hồi nhanh chóng, chi phí thu hồi công nợ thấp. Tuy nhiên
các doanh nghiệp không nên để các đơn vị và các đối tác kinh doanh chiếm
dụng vốn nhiều ảnh hởng đến tình hình tài chính của doanh nghiệp.
2.1.2. Thời hạn của công nợ:
Thời hạn công nợ là khoảng thời gian kể từ khi doanh nghiệp ký hóa đơn
mua bán chịu đến khi hoá đơn đó đợc thanh toán.
Đây chính là giới hạn thời gian để doanh nghiệp có các biện pháp thu hồi
các khoản nợ phải thu và thanh toán các khoản nợ phải trả. Đối với các doanh
nghiệp có tiềm lực tài chính mạnh thì trong chính sách tín dụng thơng mại, để
tăng tính hấp dẫn với khách hàng doanh nghiệp có thể gia tăng thời hạn trả nợ.
Nhng khi đó doanh nghiệp phải đầu t lớn vào các khoản phải thu, nợ kéo dài sẽ
hàng mà đợc tính vào giá bán của sản phẩm hàng hoá và đợc thanh toán cùng
khi thanh toán hết thời hạn tín dụng.
13
- Gia hạn nợ : đợc áp dụng trong trờng hợp đến thời hạn thanh toán nhng
doanh nghiệp trả nợ không có khả năng trả nợ thì phải xin gia hạn nợ trong một
thời gian nhất định và đợc sự đồng ý của chủ nợ với chủ nợ mà không phải chịu
sự ràng buộc gì.
- Lãi suất hoàn vốn: là lãi suất làm cân bằng giá trị hiện tại của tiền thanh
toán nhận đợc theo một công nợ với giá trị hôm nay của công nợ đó.
Khi doanh nghiệp bán hàng theo chính sách cấp tín dụng thơng mại cho
khách hàng thì giá bán hàng thanh toán trả chậm sẽ bằng giá bán hàng thanh
toán ngay cộng thêm phần lãi suất. Phần lãi suất này sẽ đợc tính trên phần giá
trị của lô hàng bán với thời hạn thanh toán chậm trả. Nếu khách hàng thanh
toán tiền lô hàng trong thời hạn tín dụng thì khách hàng sẽ đợc hởng chiết khấu
thanh toán. Thực chất đó không phải là do doanh nghiệp giảm giá cho khách
hàng mà đó chính là phần lãi suất mà khách hàng phải trả nếu khách hàng thanh
toán sau.
Trờng hợp mà sau khi gia hạn nợ mà khách hàng vẫn cha thanh toán đợc
cho doanh nghiệp thì doanh nghiệp sẽ xử lý nợ phải trả theo từng cấp độ, bình
thờng sẽ chuyển sang nợ quá hạn và ép bên nợ phải trả lãi nợ quá hạn. Lãi nợ
quá hạn thờng gấp 1,5 lần lãi suất cho vay cao nhất của tổ chức tín dụng tại thời
điểm chuyển sang nợ quá hạn.
Lãi nợ quá hạn = D nợ quá hạn *Thời hạn nợ quá hạn (tính theo ngày)*
lãi suất nợ quá hạn tính 1 ngày.
Nghiên cứu lãi suất giúp doanh nghiệp tính toán đợc chính xác giá bán
trả chậm, đảm bảo đợc lãi suất hoàn vốn đợc tính đúng, hạn chế rủi ro và có đợc
biện pháp vừa cứng rắn vừa mềm mỏng đối với các khoản nợ quá hạn.
2.2. Các yếu tố ảnh hởng đến công nợ:
2.2.1. ảnh hởng của các nhân tố khách quan đến công nợ:
Các nhân tố khách quan là các nhân tố nằm ngoài tầm kiểm soát của
động từ ngân hàng với mức lãi suất thấp và ổn định sẽ giúp doanh nghiệp tăng
vốn để có thể mở rộng đợc quy mô kinh doanh. Bên cạnh đó nếu doanh nghiệp
15
có điều kiện tài chính doanh nghiệp có thể đầu t chứng khoán một cách dễ
dàng.
Các hợp đồng kinh tế khi ký kết đặc biệt là các hợp đồng kinh tế với nớc
ngoài mà trớc khi ký kết đợc xem xét kỹ lỡng thì sẽ giảm thiểu đợc rủi ro cho
doanh nghiệp. Vì vậy khi ký kết hợp đồng kinh tế các doanh nghiệp phải hết
sức cẩn thận nếu không sẽ không thu đợc tiền hoặc nhiều khi để hớ hênh sẽ phải
mất thêm tiền đối với các khoản phải trả.
+ ảnh hởng của các nhân tố giá cả, lãi suất, thuế.....đến hoạt động kinh
doanh của doanh nghiệp.
Đây là các nhân tố thuộc môi trờng kinh tế, nơi diễn ra các hoạt động
kinh tế, hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp phải đợc đặt trong bối cảnh cụ
thể nh phát triển hay suy thoái của nền kinh tế, mỗi sự thay đổi của các nhân tố
trên đều dẫn đến tác động tích tực hay tiêu cực. Nếu giá cả, lãi suất và thuế đa
ra phù hợp với doanh nghiệp thì sẽ thúc đẩy doanh nghiệp phát triển và khi đó
các khoản công nợ của doanh nghiệp cũng đợc thanh toán đầy đủ đúng thời
hạn. Ngợc lại thì các khoản thanh toán sẽ không đợc thanh toán đầy đủ đúng
hạn và doanh nghiệp sẽ lâm vào tình trạng nợ nần chồng chất, các khoản phải
thu thì sẽ không thu đợc.
- Môi trờng hợp tác, hội nhập kinh tế:
Trong xu thế toàn cầu hoá kinh tế hiện nay, sự phụ thuộc về kinh tế và
quan hệ kinh tế quốc tế là tất yếu. Sự hợp tác và hội nhập quốc tế mở ra cho các
doanh nghiệp nhiều cơ hội để mở rộng thị trờng, liên kết sản xuất, thu hút vốn
đầu t nhng nó cũng trở thành thách thức cho doanh nghiệp trong một môi trờng
mới đầy biến động và rủi ro, đòi hỏi các doanh nghiệp phải chủ động trong hợp
tác và hội nhập, tự hoàn thiện để nâng cao uy tín và chất lợng trong quan hệ
kinh tế quốc tế.
Để thuận tiện cho quá trình hợp tác và hội nhập thì hệ thống luật pháp
Đây là yếu tố quan trọng nhất quyết định, nếu trình độ quản lý của các
nhà quản trị tài chính tốt biết tổ chức các nhân viên kinh doanh hợp lý, đề ra
chính sách bán chịu phù hợp, các tiêu chuẩn tín dụng đa ra có thể thu hút đợc
khách hàng đồng thời có những biện pháp để thẩm định khách hàng trớc khi áp
17
dụng chính sách bán chịu thì sẽ giảm thiểu đợc rủi ro trong thanh toán. Bên
cạnh đó biết sử dụng việc phát hành trái phiếu để tăng nguồn vốn kinh doanh
của doanh nghiệp vừa an toàn mà lại ổn định, doanh nghiệp có nguồn vốn bổ
sung để phát triển và trang trải các khoản nợ. Trình độ quản lý còn thể hiện ở
việc biết tổ chức hợp lý công nợ, phân chia công nợ hợp lý từ đó sẽ có biện pháp
để thu hồi công nợ, hạn chế đợc rủi ro nh phân công nợ theo tuổi thọ, theo khả
năng thu hồi nợ và đối tợng nợ từ đó doanh nghiệp sẽ biết đợc khoản nợ nào đã
đến hạn, khoản nợ nào quá hạn để có biện pháp thu hồi.
Ngoài ra trình độ quản lý còn quyết định:
+ Khối lợng sản phẩm hàng hoá bán chịu cho khách hàng:
Để có thể tăng thêm lợi nhuận từ việc mở rộng số lợng các sản phẩm tiêu
thụ doanh nghiệp sẽ khuyến khích ngời mua bằng cách cấp tín dụng thơng mại
cho khách hàng. Khi đó sẽ làm tăng các khoản nợ phải thu và chi phí liên
quan(chi phí quản lý khoản nợ phải thu, chi phí thu hồi nợ, chi phí rủi ro). Nếu
không quản lý tốt các khoản phải thu này thì doanh nghiệp sẽ không thu đợc nợ
hoặc sẽ phải chịu chi phí thu hồi nợ cao. Doanh nghiệp nên nghiên cứu kỹ trớc
khi quyết định bán chịu cho khách hàng.
+ Tính chất thời vụ của sản phẩm mà doanh nghiệp kinh doanh:
Đối với doanh nghiệp kinh doanh sản phẩm mang tính chất thời vụ thì
trong thời kỳ sản phẩm của doanh nghiệp có nhu cầu tiêu thụ cao cần có những
biện pháp để khuyến khích tiêu thụ sản phẩm nhằm thu hồi vốn nhanh. Do đó
quy mô công nợ thờng phát sinh lớn vào thời vụ của sản phẩm mà doanh nghiệp
kinh doanh.
+ Chính sách tín dụng của doanh nghiệp: Trong hoạt động sản xuất kinh
doanh, doanh nghiệp vừa là ngời mua đồng thời lại vừa là ngời bán. Là ngời
toán phân tích tình hình thu hồi để thấy mức độ bị chiếm dụng vốn, phân tích
khả năng thu hồi công nợ, hiệu quả công tác thu hồi công nợ....Từ đó, doanh
nghiệp đa ra các biện pháp thu hồi công nợ phù hợp, hạn chế và xử lý các khách
hàng cố tình để dây da nợ đọng, chủ động lập dự phòng phải thu khó đòi để
19
tránh những biến động tài chính lớn khi không thu đợc nợ, làm ảnh hởng đến
hoạt động kinh doanh.
Mặt khác, công nợ phải thu là một bộ phận tài sản của doanh nghiệp bị
chiếm dụng. Quản lý công nợ phải thu nhằm đảm bảo an toàn cho tài sản thuộc
quyền sở hữu của doanh nghiệp, tăng cờng vốn lu động, góp phần tăng cờng
thanh toán nợ phải trả.
Tơng tự nh vậy, để quản lý nợ phải trả kế toán cũng phải theo dõi sự biến
động các khoản phải trả, đó chính là việc theo dõi việc trả nợ của doanh nghiệp.
Phân tích tình hình nợ phải trả để thấy đợc phần tài sản thực tế của doanh
nghiệp, phân tích khả năng thanh toán đánh giá hiệu quả công tác quản lý quỹ
tiền mặt đáp ứng nhu cầu thanh toán, đánh giá tình hình vốn lu động, tình hình
tài chính của doanh nghiệp khả quan hay yếu kém...Từ đó, doanh nghiệp có kế
hoạch dự đoán nhu cầu tiền mặt nói riêng, vốn lu động nói chung, nâng cao
hiệu quả sử dụng vốn lu động, tăng cờng khả năng tự chủ tài chính.
Bên cạnh đó, nợ phải trả là một bộ phận nguồn vốn của doanh nghiệp khi
cha đến hạ trả nợ. Các khoản này bổ sung vốn tạm thời phục vụ hoạt động kinh
doanh nên việc quản lý nợ phải trả còn với mục đích tìm ra thời điểm trả nợ có
lợi nhất, lập kế hoạch trả nợ hợp lý để tạo đợc nguồn tài trợ ngắn hạn và hạn chế
thấp nhất chi phí sử dụng nguồn vốn này.
Tóm lại, quản lý công nợ đó chính là việc kiểm soát và duy trì tài chính
doanh nghiệp ở trạng thái ổ định, tận dụng tối đa những lợi thế của nguồn vốn
chiếm dụng nhng phải đảm bảo phù hợp với pháp luật để phát triển.
3.2. Những nội dung quản lý công nợ:
3.2.1. Theo dõi tình hình công nợ:
Đối với các khoản phải thu:
những chỉ tiêu phản ánh thực chất hoạt động tài chính. Nếu hoạt động tài chính
tốt, lành mạnh, doanh nghiệp sẽ thanh toán kịp thời các khoản nợ phải trả cũng
nh kịp thời các khoản nợ phải thu, tránh tình trạng tranh chấp, mất khả năng
thanh toán.
21
- Phân tích tình hình nợ phải thu
Để phân tích tình hình nợ phải thu ta sử dụng các chỉ tiêu sau:
=
100*
vốn nguồn Tổng
thu iphả nkhoả các trị giá Tổng
Chỉ tiêu này phản ánh với tổng nguồn vốn huy động đợc thì có bao nhiêu
% vốn thực chất không tham gia hoạt động sản xuất kinh doanh, phản ánh mức
độ vốn bị chiếm dụng của doanh nghiệp. Nếu tỷ lệ này tăng lên là biểu hiện
không tốt.
-Phân tích tình hình trả nợ:
Đợc thể hiện qua các chỉ tiêu sau:
Hệ số nợ = = 1 - Hệ số nguồn vốn CSH
=
Hệ số nợ cho biết trong một đồng vốn kinh doanh có bao nhiêu đồng đợc
hình thành từ vay nợ bên ngoài, còn nguồn vốn CSH lại đo lờng sự góp vốn của
chủ sở hữu trong tổng nguồn vốn hiện nay của doanh nghiệp(vì vậy hệ số nguồn
vốn CSH còn gọi là hệ số tự tài trợ)
Nghiên cứu hai chỉ tiêu tài chính này, ta thấy mức độc lập hay phụ thuộc
của doanh nghiệp với các chủ nợ, mức độ tự tài trợ của doanh nghiệp với nguồn
vốn kinh doanh của mình.
=
Phản ánh các khoản doanh nghiệp đi chiếm dụng so với các khoản doanh
nghiệp bị chiếm dụng. Nếu tỷ lệ này lớn hơn 1 (lần) chứng tỏ số vốn của doanh
nghiệp đi chiếm dụng lớn hơn số vốn doanh nghiệp bị chiếm dụng. Ngợc lại,
Hệ số khả năng thanh toán nợ ngắn hạn là mối quan hệ giữa tài sản ngắn
hạn và các khoản nợ ngắn hạn.
Chỉ tiêu này giả thiết : Nếu toàn bộ nợ của doanh nghiệp đồng thời cùng
đến hạn thanh toán trong một thời gian ngắn thì khả năng thanh toán các khoản
nợ đó thực hiện ở mứcđộ nào, nhanh hay chậm.
23
Nh vậy để xác định chỉ tiêu này, chỉ quan tâm đến bộ phận tài sản doanh
nghiệp có thể dễ dàng nhanh chóng chuyển đổi thành tiền mặt khi cần thiết.
Nếu chỉ tiêu này xấp xỉ bằng 1 doanh nghiệp có đủ khả năng thanh toán
toàn bộ các khoản nợ ngắn hạn đến hạn và tình hình tài chính của doanh nghiệp
bình thờng hoặc khả quan. Ngợc lại hệ số thanh toán nợ ngắn hạn càng < 1 thì
khả năng thanh toán nợ ngắn hạn càng thấp. Tuy nhiên không phải hệ số này
càng lớn càng tốt vì khi đó có một lợng TSLĐ tồn trữ lớn, phản ánh việc sử
dụng TSLĐ không hiệu quả, vì bộ phận này không vận động, không sinh lời rất
lãng phí. Tính hợp lý của hệ số phản ánh khả năng thanh toán nợ ngắn hạn phụ
thuộc vào ngành nghề kinh doanh. Ngành có TSLĐ chiếm tỷ trọng lớn ( ví dụ
ngành thơng mại) trong tổng tài sản thì hệ số này lớn và ngợc lại.
Khả năng thanh toán nhanh =
hạnquá và nợ hạntới Nợ
mại khả khoánChứng Tiền
+
Chỉ tiêu này giả thiết rằng tất cả công nợ của doanh nghiêp đồng thời
cùng đến hạn thanh toán một thời điểm hoặc trong một khoảng thời gian rất
ngắn thì việc chi trả thanh toán có thực hiện đợc không?
Phần tài sản đợc huy động trong chỉ tiêu này chỉ bao gồm toàn bộ số vốn
bằng tiền có thể sử dụng ngay cho thanh toán mà không phải qua bất kỳ hành
động trung gian nào.
Nếu hệ số thanh toán nhanh ( >0,5) thì tình hình thanh toán tơng đối khả
quan, nếu ( < 0,5) doanh nghiệp có thể gặp khó khăn trong việc thanh toán công
nợ, do đó có thể phải bán gấp hàng hoá sản phẩm để trả nợ vì không đủ tiền
Bên cạnh việc theo dõi chi tiết công nợ theo từng đối tợng, để tránh
những thiệt hại, thất thu do việc các đối tợng phải thu của doanh nghiệp mất khả
năng thanh toán tiền hàng hay nợ đến hạn, các doanh nghiệp thờng phải lập dự
phòng các khoản phải thu khó đòi. Dự phòng phải thu khó đòi là dự phòng phần
giá trị dự kiến bị tổn thất của các khoản nợ phải thu khó đòi có thể không đòi đ-
ợc do con nợ không có khả năng thanh toán có thể xảy ra trong năm kế hoạch.
- Căn cứ để ghi nhận là khoản nợ phải thu khó đòi:
+ Nợ phải thu đã quá hạn thanh toán từ hai năm trở nên kể từ ngày khách
hàng ký nhận nợ trên chứng từ vay nợ.
25
+ Nợ cha quá hạn trong thời gian quy định 2 năm nhng con nợ đã trong
tình trạng giải thể,phá sản...
- Mục đích của việc lập dự phòng:
+ Đảm bảo nguyên tắc phù hợp của kế toán và tránh tình trạng biến động
lớn tài chính của doanh nghiệp.
+ Phản ánh đúng giá trị thực về các khoản phải thu từ đó phản ánh đúng
giá trị thực tài sản của doanh nghiệp.
- Nguyên tắc lập dự phòng:
Để tránh tình trạng các doanh nghiệp lập dự phòng với mục đích tăng chi
phí, giảm lợi nhuận và thuế thu nhập, việc lập dự phòng phải tuân thủ các
nguyên tắc sau:
+ Chỉ đợc phép lập dự phòng các khoản phải thu thực sự khó đòi và phải
lập cho từng khoản phải thu khó đòi.
+ Số dự phòng phải thu khó đòi đợc lập không quá 20% tổng công nợ
phải thu và đảm bảo doanh nghiệp không bị lỗ.
+ Việc lập dự phòng phải thu khó đòi đợc lập một lần vào cuối niên độ kế
toán trớc khi lập báo cáo kế toán.
- Phơng pháp xác định mức dự phòng:
Để xác định mức dự phòng cần phải sử dụng một trong hai phơng thức:
+ Tính trực tiếp: số dự phòng đợc tính theo tỷ lệ % trên số công nợ phải