Một số biện pháp dạy trẻ mẫu giáo 56 tuổi kể lại chuyện thần thoại 1 cách sáng tạo. - Pdf 28

Mục Lục
Lời cảm ơn
Phần mở đầu
1. Mục đích ý nghĩa của đề tài
2. Lý do chọn đề tài
3. Lịch sử vấn đề
4. Đối tợng nghiên cứu
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
6. Phơng pháp nghiên cứu
7. Đóng góp đề tài

Phần Nội dung

Chơng 1: Những vấn đề chung
1. Cơ sở lý luận của đề tài.
2. Cơ sở thực tiễn.
3. Nội dung cơ bản của đề tài.

Chơng 2: Một số biện pháp dạy trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi kể lại chuyện
thần thoại 1 cách sáng tạo.

Phần Kết luận
Tài liệu tham khảo.Lời cảm ơn
1
Để hoàn thành bài tập - công trình nghiên cứu khoa học đầu tay này, tôi nhận đ-
ợc sự giúp đỡ tận tình của thầy giáo Vũ Ngọc Doanh cùng toàn thể các thầy, cô giáo
trong Trờng đại học s phạm Hà Nội II và các đồng chí trong BGH, các đồng chí giáo
viên Trờng mầm non Hoa Hồng - Huyện Bảo Yên, đã hớng dẫn tạo điều kiện thuận lợi

truyện thần thoại một cách sáng tạo là một trong những nhiệm vụ của trờng mầm non.
Nó không những giúp trẻ kỹ năng kể chuyện mà còn kích thích ở trẻ hứng thú đọc
truyện và nguyện vọng độc lập sáng tạo trong tiếp nhận văn học. Nó gợi lên trong lòng
trẻ những rung cảm lành mạnh, từ đó hình thành ở trẻ tình cảm đạo đức, tình cảm thẩm
mỹ. Việc dạy trẻ kể lại truyện thần thoại có sáng tạo sẽ gây thái độ sáng tạo ngôn ngữ ở
trẻ. Trên cơ sở đó trẻ say mê sáng tạo trong lĩnh vực nghệ thuật.
- Trong những năm tháng dạy trẻ và luôn đợc dạy lớp mẫu giáo 5-6 tuổi. Nhng
phạm vi tiếp xúc của trẻ còn hạn chế do một số trẻ cha qua lớp 3-4 tuổi, dẫn đến sự hiểu
biết của trẻ còn nghèo nàn, cuộc sống của trẻ còn nhiều điều mới lạ mà việc giúp cho trẻ
kể lại chuyện, những nội dung kiến thức đơn giản trong trờng mầm non, việc dạy trẻ kể
lại chuyện đã đợc thực hiện nhng cha sâu sắc. Vì trẻ mới kể lại nh thuộc một câu truyện
mà cha có sự sáng tạo trong khi kể. Vậy nó đòi hỏi sự nỗ lực hoạt động sáng tạo của cô
giáo. Trớc hết cô phải là ngời kể sáng tạo dựa trên những cơ sở khoa học, những biện
pháp cụ thể để dạy trẻ kể lại truyện một cách sáng tạo.
- Vậy để nâng cao chất lợng giáo dục trong việc dạy trẻ kể lại truyện một cách
sáng tạo. Tôi muốn đa ra một số biện pháp để dạy trẻ trong môn học Cho trẻ làm quen
với tác phẩm văn học đạt kết quả.
3. Lịch sử vấn đề.
- Vấn đề dạy khi trẻ kể lại truyện đã đợc nhiều nhà nghiên cứu quan tâm. Trong
quá trình tìm hiểu tôi mới đợc tiếp xúc với một số công trình nh:
1. Giáo dục trẻ mẫu giáo qua truyện và thơ của Nguyễn Thu Thủy năm1986
3
2. Cho trẻ làm quen với tác phẩm văn học của Hà Nguyễn Kim Giang năm 2002.
3. Phơng pháp kể sáng tạo truyện cổ tích thần kỳ của Hà Nguyễn Kim Giang năm
2002.
- Các công trình này đã đề cập đến những vấn đề vị trí văn học trong việc giáo dục,
các phơng pháp đọc thơ kể truyện, các tác phẩm chọn làm mẫu trong đó có những cuốn
sách nói về phơng pháp , biện pháp , thủ thuật dạy trẻ kể lại chuyện.
-Trong các công trình nói trên các tác giả đã thấy đợc vai trò của văn học đối với
việc giáo dục trẻ mẫu giáo và đã quan tâm đến việc phát triển trí tuệ, tới khả năng kể

4
- Phơng pháp tổng hợp, phân tích các t liệu về lý thuyết có liên quan đến đề tài nh:
+ Tâm lý học về vấn đề lĩnh hội và sáng tạo của trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi.
+ Giáo dục học mẫu giáo
+ Truyện thần thoại với những đặc trng cơ bản về đặc điểm thi pháp của nó.
- Phơng pháp thực nghiệm.
- Phơng pháp so sánh.
7. Đóng góp đề tài.
- Đề tài này thuộc lĩnh vực văn học, nó giúp cho giáo viên hiểu thêm về cách thức
tổ chức cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi hoạt động kể lại chuyện thần thoại một cách sáng tạo.
Phần Nội dung
Chơng 1 : những vấn đề chung
1. Cơ sở lý luận của đề tài.
* Cơ sở ngữ văn ( truyện thần thoại)
- Khái niệm truyện thần thoại dân gian: Là truyện kể về sự tích các thần, những
câu chuyện này vốn do ngời thời cổ tởng tợng ra, đẻ giải thích nguồn gốc ý nghĩa của
hiện tợng tự nhiên và xã hội đợc coi là có quan hệ mật thiết đến sự sống còn của tập thể
thị tộc, bộ lạc nh: trời đất, ma gió, sông núi, hạn hán, lũ lụt
- Đặc trng cơ bản của thần thoại dân gian: Ra đời từ sớm đó là từ thời Hùng Vơng
nhng lại làm mất mát đi rất nhiều và nó có kết cấu phần lớn đều ngắn, kết cục thì đơn
giản, ít chặt chẽ và ta có thể phân thành các nhóm:
+ Nhóm thần thoại về nguồn gốc các loại động thực vật nh Sự tích lúa thần
+ Loại thần thoại về nguồn gốc con ngời: là các dân tộc ở Việt Nam nh : truyện
Ngọc Hoàng nặn ngời Sự tích trăm trứng
+ Loại thần thoại về các anh hùng thời quyết sử, các anh hùng văn hóa, tổ s của các
nghề nh: Lữ thần ngời mộc Sự tích bánh chng, bánh dầy
- Truyện thần thoại nó cũng đợc lan truyền từ ngời này sang ngời khác và từ đời
này qua đời khác bằng cách truyền miệng. Mỗi ngời đợc nghe nó, khi kể lại có thể thêm
bớt để kể lại cho ngời nghe khác. Qua nghe truyện thần thoại giúp cho con ngời ta có
những ớc mơ muốn vơn lên làm chủ thiên nhiên, cải tiến công cụ, kéo dài tuổi thọ và

vào các hoạt động văn học nghệ thuật, để trẻ biết kể lại truyện thần thoại có sự sáng tạo
* Đặc điểm tâm lý trẻ mẫu giáo trong quá trình tiếp nhận chuyện thần thoại
và khả năng kể lại chuyện sáng tạo ở trẻ.
+ T duy: T duy của trẻ là quá trình nhận thức phản ánh những thuộc tính bản chất,
những mối quan hệ có tính qui luật của sự vật và hiện tợng trong hiện thực khách quan
mà ta cha biết.
- Đặc điểm t duy của trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi chủ yếu là t duy trực quan hình tợng,
đứa trẻ phải dựa vào hình ảnh, biểu tợng đã có, những kinh nghiệm đã trải qua để suy
luận ra những vấn đề mới. Vì vậy việc đa ra một số biện pháp dạy trẻ kể lại chuyện thần
thoại có sáng tạo phải xuất phát từ đặc điểm này của trẻ. Truyện thần thoại dân gian nó
kể lại sự tích các thần, những câu chuyện này vốn do ngời thời cổ tởng tợng ra, để giải
thích nguồn gốc, ý nghĩa của hiện tợng tự nhiên, xã hội đợc coi là có quan hệ mật thiết
đến sự sống còn của tập thể, thị tộc, bộ lạc nh: Trời, Đất, Gió ma, Sông núi, Hạn hán, Lũ
lụt các hiện tợng văn học đã góp phần kích thích sự phát triển t duy của trẻ và nó phụ
thuộc rất nhiều vào ngời đem văn học đến cho trẻ (đó là cô giáo ) ở đây cô giáo phải làm
6
sao cho trẻ hiểu đợc các hiện tợng thiên nhiên phản ánh trong cuộc sống để trẻ hiểu đợc
và luôn luôn có mơ ớc cuộc sống có nhiều thay đổi và con ngời luôn thắng đợc mọi
thiên tai. Từ đó bằng ngôn ngữ của mình trẻ kể chuyện có thể thêm bớt một số tình tiết
có thể thay đổi trong chuyện và trẻ có thể kể theo kiểu sáng tạo riêng của mình.
- Vậy để t duy của trẻ 5-6 tuổi phát triển mạnh trẻ có thể suy luận đợc nhiều vấn đề
mới hơn. Điều này phụ thuộc vào rất nhiều quá trình s phạm thứ nhất (Quá trình tìm ra
cái mới của cô cụ thể: cô kể sáng tạo truyện thần thoại) quá trình này xuất phát từ thực
tế của cách thể hiện trong cử chỉ, nét mặt, điệu bộ, cờng độ, nhịp điệu, giọng kể của cô
thì mới dễ dàng hình dung, thâm nhập vào tác phẩm một cách tốt nhất. Trong quá trình
kể chuyện thì cử chỉ, điệu bộ của cô phải rõ ràng để thể hiện và xác định rõ nét tính cách
của nhân vật.
Ví dụ: Truyện Sơn Tinh Thủy Tinh bằng việc thể hiện sự tức giận của Thủy Tinh
và sự vui mừng của Sơn Tinh qua nét mặt và điệu bộ Từ đó trẻ biết thể hiện thái độ
đúng đắn với từng nhân vật khi trẻ kể lại câu chuyện này hay câu chuyện khác. Từ cách

kể lại theo trí tởng tợng sáng tạo riêng của trẻ.
- Có thể nói tởng tợng của trẻ đã phát triển mạnh mẽ, gặp sự tởng tợng trong các
loại hình nghệ thuật sẽ là sự gặp gỡ phù hợp và dễ dàng cho trẻ tiếp nhận văn học thần
thoại. Tởng tợng sáng tạo của trẻ cũng bắt đầu từ những câu chuyện thần thoại mà cô đã
kể cho trẻ nghe. Tuy nhiên việc cô kể cũng phải có sự sáng tạo, việc kể sáng tạo của cô
không phải là điều gì to lớn mà đó chỉ là cách kể kết hợp với việc sử dụng những biện
pháp thông thờng nhng biết cách cải biên, nhào nặn thay đổi hình thức cho phù hợp,
luôn luôn lôi cuốn sự chú ý của trẻ và kích thích khả năng tự hoạt động nghệ thuật ở trẻ.
Từ cách kể sáng tạo của cô cũng nh việc sáng tạo hoặc xây dựng đợc một vài chi tiết
mới theo mô típ thần thoại, để kích thích trí tởng tợng sáng tạo của trẻ. Từ đó trẻ có thể
kể lại chuyện theo khả năng tởng tợng sáng tạo của mình.
- Tởng tợng của trẻ chủ yếu là tởng tợng tái hiện trẻ tởng tợng dựa trên những ấn t-
ợng đã có trớc. Tởng tợng của trẻ mẫu giáo cũng rất giàu và tởng tợng còn là nguyên
nhân và kết quả, phơng tiện của sự lao động sáng tạo của con ngời mà chỉ ở con ngời
mới có. Với trí tởng tợng đã đa trẻ bay cao, bay xa đa trẻ tới những ớc mơ, sự khát vọng
và là thứ rất quí nó thúc đẩy khả năng sáng tạo của trẻ. Ví dụ nh: Ước mơ làm giảm nhẹ
sức lao động nh: mơ có hạt lúa to và tự nó lăn về nhà hay mơ con ngời trẻ mãi không
già. Truyện chú cuội cung trăng. Những hình ảnh mà trẻ hình dung, tởng tợng đều đợc
thể hiện trong các cử chỉ, điệu bộ của trẻ khi kể lại chuyện trẻ đã thể hiện lại đợc cách
kể sáng tạo qua lời kể của cô.
- Sự tởng tợng đã giúp con ngời vợt lên trên thực tại và đạt tới những điều kỳ diệu.
Nó trở thành động lực của sự phát triển văn hóa và khoa học. Vì vậy cô giáo cần nhận
thấy đợc vị trí, vai trò của tởng tợng và phải dựa vào thế mạnh của chuyện thần thoại
cùng với biện pháp kể sáng tạo của mình, để khi kể cô biết khơi gợi trong lòng trẻ những
ớc mơ tởng tợng và cô khéo léo lồng vào hoạt động kể sẽ làm tăng thêm việc hấp dẫn,
sinh động văn học nghệ thuật và tính độc lập sáng tạo của trẻ.
- Căn cứ vào đặc điểm tởng tợng của trẻ mẫu giáo ( 5-6 tuổi) chủ yếu là tởng tợng
tái tạo. Vì vậy việc kể sáng tạo của cô cũng là yếu tố rất quan trọng để đa trẻ làm chất
liệu xây dựng những hình tợng mới, những chi tiết hấp dẫn muôn màu, muôn vẻ. Bởi vì
trẻ có kinh nghiệm về kể chuyện, có biểu tợng, hình ảnh về câu chuyện thì trẻ mới kể

- Vậy cần làm sao có thể để lại trong trí nhớ của trẻ những hình ảnh lung linh sắc
màu mà nó chỉ đủ khuấy động yếu ớt trong tâm hồn trẻ thơ và khi cho trẻ kể lại, trẻ cũng
kể giống nh cô. Ngôn ngữ của trẻ lặp lại giống nh ngôn ngữ mà cô truyền đạt. Nhng nếu
nh thay đổi ngôn ngữ kể thì nó sẽ sáng bừng trớc mắt trẻ một cảch của thần linh của sự
mơ ớc và đã thành sự thật, điều đó có tác động to lớn trong hoạt động kể lại chuyện của
trẻ.
- Tuy nhiên quá trình s phạm thứ nhất ( cô kể sáng tạo ) cũng phải xuất phát từ đăc
điểm ngôn ngữ cũng nh liên quan trực tiếp đến đặc điểm t duy, tởng tợng, chú ý, trí nhớ
và tiếp nhận nghệ thuật của trẻ. Vì thế mà phải thông qua quá trình s phạm thứ nhất để
tiến hành quá trình s phạm thứ hai thì mới đạt kết quả tốt đợc.
9
- Quá trình cô kể sáng tạo là quá trìnhcó liên quan trực tiếp đến biện pháp dạy trẻ
kể lại chuyện thần thoại một cách sáng tạo mà tôi sẽ trình bày ở chơng sau:
- Trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi không chỉ lĩnh hội đợc hai hình thức cơ bản của ngôn ngữ
mà trẻ còn nắm đợc ngữ âm, ngữ điệu. Trẻ đã biết sử dụng ngữ điệu một cách phù hợp
với nội dung giao tiếp hay nội dung câu chuyện mà trẻ kể. Do đó khi cô kể cho trẻ nghe
thì việc kể đúng giọng điệu của tác phẩm là rất quan trọng. Từ việc cô kể đúng sẽ giúp
trẻ kể lại đúng giọng điệu tác phẩm và sẽ giúp khả năng tởng tợng của trẻ thêm phong
phú, góp phần hình thành nên những phẩm chất đạo đức tốt đẹp của trẻ, lòng yêu thơng
con ngời, lòng mơ ớc, đức tính dũng cảm, chiến đấu dũng cảm vì thiên tai cô sáng tạo
trong ngôn ngữ kể giúp trẻ phát triển trí tởng tợng. Một yếu tố quan trọng đóng vai trò
không nhỏ trong quá trình t duy sáng tạo ở nhiều lĩnh vực nh: âm nhạc, hội họa, toán,
vănGiúp trẻ có lòng say mê lý tởng, một ớc mơ tuổi thơ. Ngữ âm, ngữ điệu trong
truyện thần thoại cũng dễ hiểu, dễ bắt chớc do đó rất phù hợp với đặc điểm ngôn ngữ
của trẻ. Cùng với việc nắm giữ ngôn ngữ trong thực hành và khả năng thông hiểu ngôn
ngữ thì vốn từ của trẻ đợc nâng lên một cách đáng kể ( khoảng 2000- >3000 từ). Trẻ biết
sắp xếp các từ thành một câu, biết dùng các câu nói để diễn đạt nguyện vọng, bày tỏ
mong muốn của mình. Hơn nữa trẻ không chỉ có khả năng nói đợc các câu đủ thành
phần, đúng ngữ pháp mà còn có khả năng nói đợc những câu giàu sắc thái biểu cảm.
- Tất cả những đặc điểm đó gợi cho ta những liên tởng tới khả năng kể chuyện

chiến thắng trong một ớc mơ của con ngời. Từ đó giúp trẻ kể lại đợc câu chuyện và kể
sáng tạo bằng ngôn ngữ của mình và sự tởng tợng của mình.
- Thế giới thần thoại cũng rất hấp dẫn với trẻ và nó phù hợp với đặc điểm phát triển
tâm lý của trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi.
- Dựa vào những đặc điểm phát triển tâm lý của trẻ cô giáo cần kể lại truyện thần
thoại và tổ chức cho trẻ kể lại bằng trí tởng tợng của mình. Từ đó giúp trẻ say mê tham
gia vào sự hoạt động văn học nghệ thuật.
2. Cơ sở thực tiễn.
- Thực tiễn giáo dục mầm non hiện nay: một trong những nhiệm vụ quan trọng
của giáo dục mầm non hiện nay là nhằm góp phần phát triển toàn diện nhân cách trẻ. Vì
vậy để trẻ phát triển toàn diện yêu cầu giáo viên mầm non phải nâng cao trình độ
chuyên môn nhằm đáp ứng đợc các nhiệm vụ đặt ra.
Trong chơng trình chăm sóc giáo dục trẻ môn Văn học giúp trẻ có những hiểu biết
về cuộc sống những con ngời trung thực, hiền lành, dũng cảm, lòng yêu tổ quốc, lòng
nhân ái Thông qua những tác phẩm văn học nghệ thuật, phát triển năng lực sáng tạo
nghệ thuật ở trẻ. Từ sự phát triển này sẽ góp phần phát triển toàn diện nhân cách trẻ.
- Thực tiễn giáo dục mầm non ở địa phơng, ở nhà trờng:
* Thuận lợi:
- Là trờng trọng điểm chất lợng của huyện nên nhà trờng luôn luôn đợc sự quan tâm
chỉ đạo sát sao của các cấp lãnh đạo.
- Trờng đạt chuẩn quốc gia.
- Trờng luôn đạt trờng tiên tiến cấp huyện, cấp Tỉnh.
- Ban giám hiệu nhà trờng có năng lực quản lí toàn diện, trình độ chuyên môn trên
chuẩn.
- Nhà trờng có đội ngũ giáo viên chuyên môn vững vàng, có nhiều giáo viên đạt
giáo viên dạy giỏi cấp Huyện, cấp Tỉnh. Đội ngũ giáo viên năng động, sáng tạo, có tinh
thần học hỏi, đoàn kết giúp đỡ lẫn nhau.
11
- Phụ huynh học sinh phần đông là cán bộ công chức nhà nớc, nên việc đóng góp
ủng hộ khong khó khăn.

- Tiết thứ nhất: Dạy trẻ kể lại truyện: Sơn Tinh Thủy Tinh ở lớp mẫu giáo 5-6
tuổi C do cô giáo: Nguyễn Thị Hợi.
Qua giờ dạy tôi đã thấy cô sử dụng tranh minh họa với biện pháp đàm thoại trong tiết
học. Trên thực tế trẻ đã kể lại đợc nội dung cốt truyện Sơn Tinh- Thủy Tinh và lời dẫn
dắt vào bài của cô đã gây đợc sự chú ý cho trẻ cụ thể là : Trong câu chuyện nói về hai
chàng trai đều rất tài ba ngời thì có tài dâng nớc lên cao, còn ngời lại có tài dần níu lên
12
cao. Trong hai ngời này đã có một ngời đợc Vua gả công chúa cho. Đó là nội dung của
câu chuyện gì? Bạn nào đã thuộc kể lại cho cô và cả lớp cùng nghe. Cô mời cháu Anh
Dũng có năng khiếu kể lại. Sau đó cho cháu về chỗ ngồi và cô cho cả lớp xem tranh
minh họa. Cho trẻ xem tới đâu, cô đặt câu hỏi đàm thoại tới đó, để trẻ nhớ lại trình tự
nội dung cốt truyện.
Sau đó mời cháu khác kể lại. Tiết học này trẻ đã có hứng thú khi đợc kết lại toàn bộ câu
chuyện.
- Tiết thứ hai: Dạy trẻ kể lại truyện Sự tích bánh Chng bánh dầy ở lớp mẫu giáo 5-
6 tuổi A do cô giáo: Bùi Thị Thuỷ.
Trong tiết học cô sử dụng biện pháp đàm thoại. Cụ thể cô hỏi trẻ. Hôm trớc cô đã kể
cho cả lớp mình nghe truyện gì? Ai là ngời đã nghĩ ra cách làm 2 thứ bánh Bánh chng-
bánh dầy? Hai thứ bánh đó đợc tế trời đất vào ngày nào hàng năm? (Ngày hội đầu năm,
ngày tết) Lang Liêu đã đợc nhà vua cho làm gì? Ai lên kể lại cho cô và cả lớp cùng
nghe. ở tiết này trẻ đã kể đợc lại truyện Sự tích bánh chng- bánh dầy theo trình tự nội
dung cốt truyện. Tuy nhiên vẫn cha có sự sáng tạo . Nhng có cháu đã biết tóm tắt:
Ví dụ: Ngày xa ở nớc ta, vua Hùng thứ 6 có một ngời con trai tên là Lang liêu, còn các
hoàng tử kia đều văn hay võ giỏi nhng lại không thích lao động. Chỉ có Lang Liêu là
chăm chỉ hiền lành. Chàng đem vợ con về quê cuốc nơng làm rẫy Do đó mà lời kể của
trẻ đã thu hút đợc sự chú ý của các bạn. Trẻ kể xong cô cho các bạn nhận xét và nhắc trẻ
về nhà kể lại cho ông bà, bố mẹ nghe.
- Tiết thứ 3: Dạy trẻ kể lại truyện: Sự tích bánh chng- bánh dầy do cô giáo Cao Thị
Tâm dạy lớp mẫu giáo lớn B.
Trong tiết học cô đã sử dụng biện pháp thi đua, biện pháp dùng tranh minh họa kết

+ Nhợc điểm:
Về phía cô: Mục đích yêu cầu đặt ra cho tiết học còn chung chung.
Các cô mới chú ý đến những trẻ mạnh dạn biết kể lại chuyện mà cha
quan tâm chú ý tới cháu còn nhút nhát và khả năng tiếp thu kém.
Khi cô sử dụng biện pháp đàm thoại thì những câu hỏi mà cô dặt ra cong rất đơn
giản, cha khai thác đợc khả năng sáng tạo của trẻ.Ví dụ: truyện Sơn Tinh- Thủy Tinh
Cô hỏi? Bỗng nhiên có mấy ngời cùng một lúc đến xin thi tài ? đó là ai? Nhng cũng
với câu hỏi về ý đồ đó thì có cô lạihỏi cách khác, để gây kích thích trí tởng tợng của trẻ
và khả năng tái tọa truyện của trẻ bằng ngôn ngữ của chính bản thân trẻ.
Ví dụ : Cùng một lúc có mấy chàng trai đến xin thi tài? chàng trai đó có tên là gì?
và họ đã trổ tài ra sao?
Nhìn chung các câu hỏi mà cô đặt ra cha thể hiện đợc sự gợi mở để trẻ có thể dẽ
hình dung, tởng tợng và sống với tác phẩm , với câu chuyện thần thoại mà mình đợc
nghe. Do vậy khi trẻ kể lại truyện trẻ cũng cha có sự sáng tạo, các cô cha đặt ra đợc biện
pháp kích thích mọi trẻ đều đợc tham gia vào hoạt động học tập. Do đó mà tiết học trở
nên nhàm chán và buồn tẻ không gây đợc hứng thú cho trẻ.
Về phía trẻ: Phần đông trẻ cha chú ý vào tiết học, khả năng kể lại truyện của trẻ
còn kém ( chủ yếu là kể theo kiểu thuộc truyện)
- Nguyên nhân đẫn đến thực trạng điều tra trên.
Trong quá trình điều tra thực trạng kể lai truyện của trẻ. Tôi có dự các tiết học của
cô giáo trong giờ kể chuyện cho trẻ nghe. Qua các tiết này tôi nhận thấy các cô đều rơi
vào tình trạng kể nh thuộc truyện, kể với giọng đều đều và kể lần 1, lần 2, lần 3 đều nh
nhau.
14
Khi kể cử chỉ điệu bộ của cô cha thể hiện đợc, ngữ điệu của cô cha phù hợp diễn
biến câu chuyện, cha thể hiện rõ giọng điệu của từng nhân vật trong chuyện, cô kể cha
có sự sáng tạo và cha đợc diễn cảm .
Khi cho trẻ kể lại truyện cô có sử dụng biện pháp đàm thoại, những câu hỏi đặt ra
cha phong phú.
Các cô cha hiểu rõ vai trò của truyện thần thoại đối với khả năng sáng tạo của trẻ.

sáng tạo những tác phẩm. Thông qua tiết học kể chuyện, qua cách thể hiện nghệ
thuật (tự kể lại truyện) sẽ gây ra ở trẻ hứng thú và nguyện vọng độc lập sáng tạo.
15
- Đặc biệt trong quá trình dạy trẻ kể lại truyện chúng ta cần phải đảm bảo các
nguyên tắc sau:
- Nguyên tắc gợi cảm thẩm mỹ: Tính gợi cảm thẩm mỹ thể hiện ngay trong
từng lời giảng dạy. Lời kể của cô giáo phải đảm bảo tính thẩm mỹ , hệ thống ngôn
ngữ của cô giáo phải đảm bảo tính thẩm mỹ, phải chuẩn mực, trong sáng, gợi cảm,
chính xác, ngắn gọn, giàu biểu tợng . Hình ảnh vừa mang tính biểu cảm vừa mang
tính hình tợng . Tránh d thừa ngôn ngữ , để tạo nên hứng thú ở trẻ, thu hút sự chú ý
của trẻ.
- Phát huy tính tích cực của trẻ: cô giáo cần chọn hình thức tổ chức học và vận
dụng phơng pháp, biện pháp sao cho phù hợp đặc điểm phát triển tâm lý của trẻ để
trẻ không chỉ tham gia tiếp nhận toàn diện mà còn biết nhận xét đánh giá những
điều mà trẻ đã lĩnh hội trong tác phẩm văn học. Cao hơn thế trẻ còn biết rung động,
biết đợc cái hay cái đẹp của tác phẩm, biết sáng tạo tác phẩm. Muốn vậy phải tổ
chức cho trẻ hoạt động chuyển vào bên trong để tác phẩm trực tiếp tác động đến
nhân cách trẻ, biến thành nội dung nhân cách bền vững.
- Đảm bảo nguyên tắc vừa sức: vừa sức không phải là phù hợp với khả năng
hiện có của trẻ mà hớng tới khả năng có thể đạt đợc bằng nỗ lực đánh thức tiềm
năng của trẻ. Nhờ các phơng pháp, biện pháp tích cực trong dạy văn học. Thực hiện
nguyên tắc vừa sức phải:
- Đảm bảo tính s phạm có hệ thống: từ đơn giản đến phức tạp những gì cần
thiết cho sự phát triển đúng đắn năng lực của trẻ. Giáo dục đúng đắn chính là thức
tỉnh trong trẻ những gì vốn có. Giúp trẻ phát triển theo định hớng s phạm, trẻ càng
phát triển thì càng có khả năng kết hợp có mạch lạc, hệ thống hơn những biểu tợng
và ý niệm trong một chỉnh thể tác phẩm .
- Trẻ mẫu giáo có thể tham gia vào một số hình thức nghệ thuật nh: Đặt tên cho
một câu chuyện, thích tự mình kể lại chuyện, suy nghĩ một bài thơ, bài hát, vẽ và
nặn. Trẻ tham gia vào các hình thức nghệ thuật này một cách hồn nhiên và chân

sáng tạo trong kể. Sáng tạo trong diễn đạt ngôn ngữ kể làm câu chuyện thêm sinh động,
hấp dẫn hơn những nội dung cốt chuyện thì không thay đổi.
- Nh vậy ở đề tài này tôi nhằm hệ thống hóa những phơng pháp và xây dựng một
số biện pháp mới, dựa trên các phơng pháp chung cơ bản cho trẻ làm quen với tác phẩm
văn học : Trao đổi, gợi mở, sử dụng các phơng tiện đồ dùng trực quangiúp trẻ sáng tạo
truyện thần thoại dân gian làm cho câu chuyện thêm phong phú về hình thức, sâu sắc về
nội dung và nâng cao hiệu quả giáo dục , sáng tạo gắn với hoạt động kể. Do đó sáng tạo
đợc giới hạn trong hoạt động của chủ thể và đợc thể hiện trong quá trình vận động
những đặc trng thi pháp của thần thoại dân gian. Mức độ sáng tạo đợc thể hiện ở chỗ:
làm biến đổi, làm khác, làm mới ít nhiều bản kể.
2. Một số biện pháp dạy trẻ kể lại truyện thần thoại dân gian có sáng tạo .
- Mục đích đặt ra ở đề tài này là tôi hệ thống hóa và đa ra một số biện pháp mới
dựa trên những cơ sở khoa học liên ngành, các phơng pháp chung cơ bản cho trẻ làm
quen với tác phẩm văn học để giúp trẻ kể lại truyện sáng tạo .
- Có nhiều phơng pháp, biện pháp có thể sử dụng trong tiết học Dạy trẻ kể lại
truyện ở đây tôi chủ yếu dựa trên 2 phơng pháp cơ bản: phơng pháp trao đổi gợi mở, và
phơng pháp sử dụng các hình tợng trực quan.
17
- phơng pháp trao đổi gợi mở: Là trao đổi gợi mở với trẻ về một vấn đề trong tác
phẩm văn học, phơng pháp này nhằm kích thích hoạt động nhận thức của trẻ. Nó đòi
hỏi phải lôi cuốn trẻ tham gia trao đổi, bộc lộ suy nghĩ cảm nhận riêng của mình. Nói
cách khác đi là khêu gợi để trẻ bộc lộ cảm thụ của cá nhân tự do, hồn nhiên. Dựa vào
phơng pháp trao đổi, gợi mở chúng tôi xây dựng một số biện pháp sau:
2.1. Biện pháp trao đổi gợi mở bằng hệ thống câu hỏi dựa vào các mốc, sự kiện,
tình tiết chính của chuyện.
- Mục đích của biện pháp này là giúp trẻ nhớ lại trình tự côt truyện và kể bằng ngôn
ngữ, trí tởng tợng sáng tạo của mình.
Ví dụ: Truyện Sơn Tinh- Thủy Tinh ta có thể trao đổi với trẻ nh : Có một nàng công
chúa mà biết bao nhiêu chàng trai muốn đợc cầu hôn
- Bằng những câu hỏi khái quát gợi mở dần dần trẻ nhớ vào một số mốc, sự kiện

- Tùy đối tợng trẻ mà ta đặt câu hỏi sao cho phù hợp. Tuy nhiên câu hỏi phải luôn
kích thích sự sáng tạo trong diễn đạt ngôn ngữ và hoạt động kể của trẻ.
Ví dụ : Truyện Sơn Tinh- Thủy Tinh Yếu tố thần kỳ là phép lạ cuả Thủy Tinh.
Với trẻ kém cô giáo có thể hỏi: Thủy Tinh ra oai nh thế nào?
- Trên đây là một số biện pháp dựa vào phơng pháp trao đổi gợi mở để dạy trẻ kể
lại truyện. Tuy nhiên tùy từng tiết học và đối tợng trẻ mà cô giáo sử dụng cho phù hợp
để luôn gây hứng thú đối với trẻ. Kích thích khả năng kể lại truyện có sáng tạo và phát
triển ngôn ngữ mạch lạc, trí tởng tợng phong phú ở trẻ.
- Hình tợng trực quan rất quan trọng đối với trẻ. Bởi t duy của trẻ chủ yếu là trực
quan hình tợng, bản thân nội dung cốt truyện là những yếu tố gây hứng thú hấp dẫn và
lôi cuốn trẻ, gây cho trẻ hứng thú và thích đợc tự mình kể chuyện. Khi có đồ dùng trực
quan để minh họa cho câu chuyện mà trẻ kể thì nó không chỉ giúp trẻ nhớ truyện, kể lại
truyện, mà nó còn giúp trẻ kể lại truyện có sáng tạo.
2.5. Biện pháp sắp sếp tranh theo trình tự cốt truyện:
- Cô giáo có thể tiến hành cho trẻ xem lần lợt những bức tranh để trẻ nhớ lại và kể
lại truyện theo trình tự
2.6.Biện pháp sử dụng tranh không theo trình tự cốt truyện:
- Cô giáo có thể sắp sếp các bức tranh xen phần kết, phần giữa, phần đầu truyện
Nh truyện Sự tích bánh chng bánh dầy
Lang Liêu dâng lễ vật lên vua cha.
Lang Liêu cùng vợ con làm bánh.
Lang liêu cùng bà con gắt lúa.
2.7. Biện pháp sử dụng một hoặc một số bức tranh tiêu biểu để thể hiện nội dung
chính của tác phẩm
2.8. Biện pháp sử dụng sa bàn:
Ví dụ: truyện Sơn Tinh Thủy Tinh Cô giáo có thể hiện sa bàn để giúp trẻ nhớ
lại truyện và trẻ tự kể lại truyện nh : Có một dãy núi, một khu biển, một tòa lâu đài và
một số con vật nh voi, gà
Ngoài ra ta còn có thể sử dụng 1 số biện pháp khác để đa trẻ vào tự hoạt động văn
học nghệ thuật cụ thể là: trẻ tự kể truyện và tự kể có sự sáng tạo .

tợng của trẻ.
- Mức độ 2 : Trẻ bớc đầu biết sáng tạo ở một số các chi tiết hoặc sáng tạo ở hành
động nhân vật, ở ngôn ngữ kể truyện cho phong phú gây ra sự hồi hộp đối với ngời
nghe.
- Mức độ 3 : Trẻ nhớ trình tự nội dung truyện, thuộc truyện.
- Mức độ 4 : Trẻ không nhớ đợc truyện
* Tiến hành thực nghiệm :
- Mục đích thực nghiệm
Sử dụng một số biện pháp tổ chức cho trẻ kể lại truyện có sáng tạo ở lớp mẫu giáo
lớn để xem kết quả biểu hiện nh thế nào?
- Nội dung thực nghiệm : Để giải quyết nhiệm vụ của đề tài tôi tiến hành hai thực
nghiệm sau:
20
Thực nghiệm 1: Dạy trẻ kể lại truyện: Sơn Tinh Thủy Tinh
Thực nghiệm 2: Dạy trẻ kể lại truyện: Sự tích bánh chng bánh dầy
+ Những điều cần chú ý trớc khi tổ chức cho trẻ kể lại truyện.
Xác định mục đích yêu cầu, nhiệm vụ giáo dục cần đạt trong tiết học.
Đề ra một số biện pháp tổ chức.
Theo dõi mức độ kể lại chuyện sáng tạo của trẻ qua 2 thực nghiệm
+ Mục đích yêu cầu chung.
- Trẻ kể đợc chuyện Sơn Tinh Thủy Tinh Sự Tích bánh chng bánh dầy
- Trẻ hứng thú tự nguyện, tích cực có nhiều sáng tạo trong khi kể.
- Giáo dục trẻ tình cảm thẩm mỹ , tình cảm đạo đức, tính kiên trì, sự nỗ lực của bản
thân để hoàn thành nhiệm vụ học tập của mình.
- Rèn luyện kỹ năng kể diễn cảm và khả năng ghi nhớ có chủ định ở trẻ.
- Phát triển ở trẻ tính tích cực t duy, tính độc lập sáng tạo, trí tởng tợng, ngôn ngữ
mạch lạc và khả năng tự hoạt động nghệ thuật.
* Một số biện pháp trong hai thực nghiệm : nh đá trình bày ở trên tôi tiến hành thực
nghiệm với những biện pháp sau:
Biện pháp 1: Sử dụng câu hỏi trao đổi với trẻ bằng hệ thống câu hỏi dựa vào các

Cô kể diễn cảm 1 đoạn kích thích trẻ nhớ lại truyện để kể tiếp.
Thủa xa vua Hùng Vơng th 18 có một ngời con gái rất xinh đẹp.có hai chàng trai
cùng một lúc tiến vào xin thi tài
Bạn nào cho cô biết cô vừa kể một đoạn trong câu chuyện gì? Bạn nào giỏi lên kể
tiếp chuyện này cho cô và các bạn cùng nghe. Rất nhiều trẻ hững thú giơ tay lên kể tiếp.
Nhng do trẻ còn rất lúng túng cách diễn đạt ngôn ngữ và hành động ( cử chỉ, điệu bộ,
nét mặt) nên tôi tiếp tục sử dụng câu hỏi gợi mở với trẻ bằng các hệ thống câu hỏi dựa
vào các tình tiết của truyện.
Hai chàng trai có tên là gì?
Thủy tinh đã ra oai nh thế nào? ( gây sấm sét đùng đùng, mây tuôn gió nổi, bốn bề nớc
đổ, trời đất tối tăm)
Sơn Tinh khoan thai làm gì? ( Vẫy tay hóa phép, dời núi, đổ cây, phá rừng vung đất
chống lại trận nớc dâng lên của Thủy Tinh Sơn Tinh giơ gậy thần chỉ bốn phơng lập tức
cảnh vật trở lại bình thờng, trời trong, sông lặng. Cây cỏ xanh tơi)
Hai ngời đều tài giỏi vua đã ra điều kiện gì? Rạng sáng mai, ai đem của lạ vật quí
đến trớc ta sẽ gả con gái cho ngời ấy
Ai là ngời đến trớc? (Sơn Tinh)
Thủy Tinh đã tức giận ra sao? ( Dâng nớc lên bao vây núi, suốt ngày đêm, đất trời đen
tối, ma gió mịt mùng)
Sơn Tinh nh thế nào? ( Bình tĩnh chống lại Thủy Tinh)
Cuối cùng nh thế nào? ( Thủy Tinh Thua cuộc rút quân về)
Và hàng năm cứ khoảng thánh 7, tháng 8 thì sao? ( Thủy Tinh lại dâng nớc đánh Sơn
Tinh)
Bạn nào lên kể lại truyện cho cả lớp cùng nghe? ( Có rất nhiều trẻ giơ tay- tôi gọi
trẻ lên kể). Có trẻ dã biết kể sáng tạo và sau khi bạn kể xong tôi cho trẻ nhận xét bạn
kể.
Bạn kể đã hay cha? Vì sao? Cháu thích đoạn nào trong truyện? Cháu kể đoạn đó
cho cô và các bạn cùng nghe. Cháu cố gắng kể khác và hay hơn bạn. Cô thấy các bạn kể
hay rồi nhng giọng điệu của bạn còn cha đúng. Lần sau các con kể đoạn này cố gắng thể
hiện đúng giọng của nhân vật nh giọng của Thủy Tinh thì bực tức, giận dữ

Cô cho trẻ xem tranh và trò chuyện với trẻ, ngày tết mỗi nhà đều gói bánh chng, có nhà
còn giã cả bánh dầy nữa.
Vậy ai là ngời đầu tiên nghĩ ra hai loại bánh này? ( Hoàng tử Lang Liêu)
Truyện này có tên là gì? ( Sự tích bánh chng, bánh dầy). Bạn nào lên kể lại truyện cho
cô và các bạn cùng nghe. Cô cho trẻ nhận xét bạn kể và khích lệ trẻ kể hay hơn. ( bạn kể
đã hay cha?) Cho trẻ kể từng đoạn sau đó mới cho một trẻ lên kể lại toàn bộ câu chuyện.
Rất nhiều trẻ giơ tay và trẻ rất hào hứng, tôi gọi 1 cháu giơ tay lên kể sau đó lại mời
cháu tiếp theo lên kể lại và kết hợp sử dụng biện pháp câu hỏi trao đổi với trẻ.
Ai là ngời nghĩ ra cách làm bánh chng bánh dầy?
23
Hoàng tử Lang Liêu là ngời nh thế nào?
Phong tục của nhân dân ta, tết đến làm gì?
Cứ nh vậy gợi cho trẻ nhớ dần và trẻ tự kể lại. Khi trẻ đã kể xong cô nhận xét. Sau đó
gọi trẻ khác lên kể và khích lệ trẻ bằng việc sử dụng biện pháp :
Sử dụng tranh không theo trình tự cốt truyện, kết hợp câu hỏi trao đổi với trẻ và cho trẻ
sắp xếp lại các bức tranh theo trình tự nội dung cốt truyện. Trẻ vừa kể vừa chỉ vào tranh.
Khi sử dụng biện pháp này trẻ rất say sa, hào hứng và kể rất sáng tạo .
Ví dụ: ở đoạn đầu có thể kể Ngày xửa ngày xa các con của vua Hùng Vơng thứ sáu.
Trong đó có một ngời tên là Lang Liêu. Còn các chàng trai này ai cũng văn hay và võ
giỏi. Nhng các chàng trai lại không thích lao động, Chỉ có Lang Liêu là chăm chỉ hiền
lành, anh đã đem vợ con về quê để làm việc đồng áng cùng với các cô, các bác nông
dân, rất vất vả để nuôi mình và vợ con. Một hôm vào dịp cuối năm nhà Vua mời đông đủ
bà con đến bảo. đến ngày hội lớn đầu năm, ai tìm đợc của ngon vật lạ nhất đem về tế trời
đất thì sẽ đợc ta nhờng ngôi cho
Nhận xét: Khi đa các biện pháp trên vào tiết học tôi thấy trẻ rất thích thú khi đợc
lên kể truyện. Không khí lớp học sôi nổi, không gò bó trẻ và khi kể thì bằng tởng tợng
của mình mà trẻ kể truyện này có sự sáng tạo .
3.2. Phân tích kết quả thực nghiệm :
Sau khi đa một số biện pháp vào hai thực nghiệm ta đã thu đợc kết quả sau:
STT Mức độtiêu biểu Nhóm thực nghiệm Nhóm đối chứng Ghi chú

ngữ và kích thích tính tích cực t duy của trẻ và tính độc lập sáng tạo ngôn ngữ mạch lạc
và khả năng tự hoạt động nghệ thuật của trẻ.
Phần Kết luận.

Những biện pháp để dạy trẻ kể lại truyện một cách sáng tạo đợc xây dựng trên cơ sở
các khoa học liên ngành. Tuy nhiên việc sử dụng những biện pháp này ph i tùy từng
đối tợng và tùy từng nội dung bài dạy mà đòi hỏi giáo viên phải biết kết hợp cho linh
hoạt, hợp lý. Tức là tất cả những biện pháp ấy không bao giờ dừng lại ở trạng thái tĩnh
mà luôn luôn vận động, biến đổi và phát triển không ngừng.
Qua việc tìm kiếm xây dựng tôi thấy đề tài đã thu đợc những kết quả nhất định.
Những vấn đề thuộc lý luận chung về đặc điểm tâm lý của trẻ giúp ta thấy rõ khả năng,
năng lực của trẻ. Dựa trên các đặc điểm ấy ta hớng tác động phù hợp làm cho quá trình
tâm lý của trẻ ngày càng phát triển và hoàn thiện hơn.
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status