skkn một số biện pháp dạy trẻ mẫu giáo 4 5 tuổi là người dân tộc thiểu số phát triển ngôn ngưc giao tiếp thông qua dạy trẻ kể chuyện - Pdf 43

1. Mở đầu.
1.1. Lý do chọn đề tài.
Tăng cường các biện pháp chuẩn bị tiếng Việt cho trẻ vùng dân tộc thiểu số
đảm bảo tất cả trẻ mẫu giáo dân tộc thiểu số được chuẩn bị tiếng Việt trước khi vào
lớp 1 đây là một trong những nhiệm vụ trọng tâm của trường mầm non có học sinh
là người dân tộc thiểu số, Chính phủ đã ra quyết định số 1008/ QĐ-TTg ngày
02/6/2016 của thủ tướng chính phủ phê duyệt đề án “ Tăng cường tiếng Việt cho trẻ
Mầm non học sinh tiểu học vùng dân tộc thiểu số giai đoạn 2016-2020 định hướng
đến năm 2025”, trong những năm học gần đây, chuyên đề giáo dục “Dạy tiếng việt
cho trẻ vùng dân tộc thiểu sô” được xác định là chuyên đề trọng tâm trong các trường
Mầm non vùng dân tộc thiểu số, với mong muốn để thực hiện có hiệu quả ngày một
nâng cao chất lượng sử dụng tiếng Việt cho trẻ em là người dân tộc thiểu số.
Phát triển ngôn ngữ cho trẻ là một trong những mục tiêu quan trọng nhất của
giáo dục mầm non nhất là ngôn ngữ giao tiếp. Ngôn ngữ là công cụ để trẻ giao tiếp,
học tập và vui chơi. Ngôn ngữ giữ vai trò quyết định sự phát triển của tâm lý trẻ
em. Bên cạnh đó ngôn ngữ còn là phương tiện để giáo dục trẻ một cách toàn diện
bao gồm sự phát triển về đạo đức, tư duy nhận thức và chuẩn mực hành vi văn hóa.
Cẩm Châu là một xã vùng 135 đặc biệt khó khăn của chính phủ nằm ở phía
tây nam huyện Cẩm Thủy, cuộc sống của bà con nhân dân trong xã chủ yếu làm
nghề nông nghiệp với trên 90% dân số là người dân tộc thiểu số dân tộc mường và
dân tộc Dao. Khi trẻ mẫu giáo ở nhà với ông bà, bố, mẹ, chủ yếu là giao tiếp bằng
“Tiếng dân tộc Dao, Tiếng dân tộc Mường” vì vậy khi trẻ đến trường trẻ việc nói
được tiếng phổ thông chưa thành thạo, một số ít đã hiểu tiếng phổ thông nhưng sử
dụng trong giao tiếp còn hạn chế, trẻ thường nói trống không nói chưa đủ thành
phần ngữ pháp không đủ từ trong câu, hay nói còn lẫn tiếng dân tộc, nhất là trong
quá trình đặt câu hỏi sắp xếp từ trong câu lộn xộn không đúng nghĩa, nên gặp rất
nhiều khó khăn trong việc giao tiếp và tiếp thu kiến thức của trẻ.
Đối với trẻ em mầm non nói chung và trẻ 4-5 tuổi nói riêng, trẻ rất nhạy cảm
với nghệ thuật ngôn từ. Âm điệu, hình tượng của các bài thơ. Những câu chuyện cổ
tích, thần thoại đặc biệt hấp dẫn trẻ. chính vì vậy cho trẻ tiếp xúc với văn học là cho
trẻ tiếp xúc với ngôn ngữ chất lượng cao vì ngôn ngữ trong tác phẩm văn học được

tộc thiểu số phát triển ngôn ngữ giao tiếp thông qua dạy trẻ kể chuyện.
1.4. Phương pháp nghiên cứu:
Nghiên cứu tài liệu chuyên đề liên quan đến dạy tiếng Việt cho trẻ người
dân tộc thiểu số, nghiên cứu tài liệu cho trẻ mầm non làm quen với tác phẩm văn học
và các tài liệu liên quan đến công tác chăm sóc giáo dục trẻ trong trường mầm non
Phương pháp điều tra khảo sát thực tế của lớp.
Vận dụng các phương pháp qua nghiên cứu tài liệu sát với tình hình thực tế
của trẻ trong lớp.
Khảo sát thống kê chất lượng của trẻ trước - trong và sau một thời gian thực
hiện. Để so sánh kết quả.
2. Nội dung sáng kiến kinh nghiệm.
2.1. Cơ sở lý luận của sáng kiến kinh nghiệm.
Ở lứa tuổi mầm non đây là lứa tuổi trẻ học nói, chính vì vậy việc cung cấp
vốn từ tiếng Việt cho trẻ, đặc biệt là các trẻ dân tộc thiểu số hay sử dụng tiếng mẹ
đẻ của trẻ nên việc cho trẻ tiếp nhận tiếng phổ thông là vô cùng quan trọng. Vì vậy
việc cung cấp vốn từ tiếng phổ thông cần được quan tâm, nhằm hình thành phát
triển những kỹ năng cần thiết cho trẻ sau này.
2


Qua quá trình nghiên cứu về ngôn ngữ của trẻ dân tộc thiểu số, cho thấy việc
làm quen tiếng Việt và chuẩn bị tiếng Việt cho trẻ dân tộc thiểu số có tác động rất
lớn đối với sự phát triển toàn diện nhân cách trẻ sau này.
Quá trình học tiếng Việt của trẻ dân tộc thiểu số phụ thuộc rất nhiều vào giáo
viên, vì trong mỗi chủ đề chủ điểm giáo viên sẽ dạy trẻ cái gì và cần dạy như thế
nào để trẻ dễ hiểu, dễ nhớ, hứng thú tham gia vào các hoạt động, phát huy được
tính tích cực chủ động sáng tạo ở trẻ.
Ngôn ngữ cho trẻ giao tiếp là một chủ thể tích cực, là tiền đề để trẻ tích cực
giao tiếp với bạn bè và chủ động giao tiếp. Trong cuộc sống hằng ngày, chúng ta sử
dụng lời nói để trò chuyện, đàm thoại, thảo luận, trình bày những hiểu biết, suy



Với nhiệm vụ khơi dậy ở trẻ tình yêu đối với từ ngữ nghệ thuật thông qua cách
đọc kể chuyện diễn cảm, kể lại các tác phẩm văn học mà cô giáo đã mang đến cho
trẻ cao hơn nữa là cho trẻ đóng kịch trẻ thể hiện tái tạo lại các tác phẩm văn học.
Chính vì vậy để chuẩn bị cho trẻ vào trường phổ thông thì ngay từ khi còn ở
trường mầm non phải trang bị cho trẻ một vốn hiểu biết về tiếng phổ thông phải
giúp trẻ hiểu và nói được tiếng phổ thông đặc biệt là ngôn ngữ giao tiếp.
2.2. Thực trạng vấn đề.
2.2.1. Thuận lợi.
Bản thân là giáo viên là người dân tộc thiểu số lại là người dân tộc dao hiểu
được ngôn ngữ của trẻ vì ngôn ngữ của trẻ trong lớp toàn bộ là trẻ dân tộc dao và
dân tộc mường nên cô hiểu rất rõ về trẻ, đó cùng là một thuận tiện rất lớn cho cô
khi trẻ nói tiếng dân tộc trong những giờ học, giờ chơi thì cô có thể sữa sai cho trẻ
kịp thời, bản thân cô cũng có trình độ trên chuẩn về chuyên môn, nhiệt tình yêu
nghề mến trẻ, ở lớp trẻ có cùng một độ tuổi.
Được sự quan tâm tạo điều kiện của ban giám hiệu nhà trường, đầu tư về cơ
sở vật chất tương đối đầy đủ cho lớp .
Được sự quan tâm tín nhiệm và tin cậy sự phối hợp tích cực của phụ huynh.
Được sự quan tâm của phòng giáo dục tổ chức lớp tập huấn chuyên đề
“Hướng dẫn chuẩn bị tiếng việt cho trẻ mẫu giáo vùng dân tộc thiểu số trong thực
hiện chương trình giáo dục mầm non.” Chính phủ đã ra quyết định số 1008/ QĐTTg ngày 02/6/2016 của thủ tướng chính phủ phê duyệt đề án “ Tăng cường tiếng
Việt cho trẻ Mầm non học sinh tiểu học vùng dân tộc thiểu số giai đoạn 2016-2020
định hướng đến năm 2025”
2.2.2. Khó khăn.
Năm học 2016 - 2017 được sự phân công chủ nhiệm lớp 4-5 tuổi với 41% trẻ
là người dân tộc Dao, 59% trẻ là người dân tộc Mường thường xuyên sử dụng tiếng
mẹ đẻ khi ở nhà, khi đến lớp số rất ít biết tiếng phổ thông, khi giao tiếp trẻ thường
nói trống không nói thiếu thành phần ngữ pháp, trẻ nói tiếng Việt không rõ ràng còn
lẫn lộn giữa tiếng việt với tiếng dân tộc mình nhất là tiếng Mường, dẫn đến sự hòa

%

1

Nói thành thạo rõ ràng tiếng phổ
thông

22

7

31%

15

69%

2

Trẻ hứng thú nghe kể chuyện và
kể lại chuyện

22

8

36%

14


20

91%

Nhìn vào kết quả kháo sát số trẻ biết sử dụng tiếng phổ thông khi giao tiếp
còn hạn chế rất nhiều
3. Các biện pháp tổ chức thực hiện.
3.1. Biện pháp 1: Tạo môi trường hoạt động thuận lợi cho trẻ được tiếp
xúc với các tác phẩm văn học.
Tạo môi trường cho trẻ hoạt động là rất cần thiết, đặc biệt là môi trường cho
trẻ được thường xuyên tiếp xúc với các tác phẩm văn học để thông qua tác phẩm
văn học giúp trẻ phát tiển ngôn ngữ tiếng Việt chính xác hơn.
Hiện nay, nếu cô tạo được môi trường hoạt động cho trẻ hoạt động tốt thì sẽ
kích thích trẻ phát triển ngôn ngữ, tham gia vào các hoạt động và kết quả đạt rất
cao. Vì thế ngay từ đầu năm học tôi đã đi sâu vào tạo môi trường bằng cách đưa
hình ảnh nhân vật của các câu chuyện nổi bật vào góc văn học và một số góc trong
và ngoài lớp học, thể hiện trên các mảng tường vẽ và sưu tầm một số bộ truyện
tranh ngoài chương trình để đưa vào giảng dạy, vận động phụ huynh đóng góp
truyện tranh đưa vào góc văn học cho trẻ hoạt động thường ngày, đây là một việc
rất cần thiết bởi vì khi cho trẻ tiếp xúc với môi trường xung quanh chúng ta đã làm
tăng thêm vốn hiểu biết của trẻ, làm cho kiến thức của trẻ ngày càng phong phú.
5


Đối với Mẫu giáo nhỡ tôi thường sử dụng hình thức khó hơn Mẫu giáo bé. Cụ
thể như khi trẻ đã thuộc chuyện, tôi thường cho trẻ đóng kịch theo nội dung câu
chuyện. Tôi biết phương pháp dạy trẻ đóng kịch là phương pháp khó. Nhưng khi
hướng dẫn trẻ đóng kịch tôi đã rèn cho trẻ kể diễn cảm, rèn cho trẻ tinh thần học
tập, tập thể, trí nhớ tưởng tượng, óc sáng tạo và tính độc lập giúp cho trẻ kết hợp
hài hoà giữa ngôn ngữ với bộc lộ trạng thái tâm lý tình cảm cùng với hành động để

mà trẻ tự tin hơn, mạnh dạn hơn, để trả lời bằng tiếng phổ thông (Tiếng việt).
Cho trẻ làm quen với tác phẩm văn học để giúp trẻ kể chuyện chú ý sửa sai
cho trẻ khi sử dụng từ tập trung cho trẻ nói, kể chuyện là một việc làm vô cùng
quan trọng bởi nó là chỗ dựa, là cơ sở vững chắc cho trẻ làm giàu vốn từ giúp trẻ tự
tin trong giao tiếp. Đòi hỏi cô giáo phải biết tạo cảm xúc cho trẻ bằng các con vật
ngỗ nghĩnh, đáng yêu, đồng thời cũng phải biết hướng lái, gợi mở cho trẻ có tình
huống và sử lý kịp thời khi trẻ phát âm ngọng hay phát âm sai từ đó trẻ mới tích
cực khi tham gia hoạt động kể chuyện sáng tạo. Qua nội dung các bức tranh, các
nhân vật, các con rối trẻ được xem và nói lên nhận xét của mình về các nhân vật đó,
như vậy ngôn ngữ của trẻ được phát triển một cách phong phú và đa dạng hơn.
3.2. Biện pháp 2: Dạy trẻ cách sử dụng nhân vật phù hợp với ngôn ngữ để
trẻ kể lại chuyện rèn luyện trẻ sử dụng tiếng việt .
Bên cạnh với một môi trường hoạt động với đầy đủ các loai đồ dùng trực quan
đa dạng phong phú, thu hút hứng thú tham gia kể lại chuyện của trẻ thì chúng ta
còn phải dạy trẻ cách sử dụng nhân vật phù hợp với ngôn ngữ để thể hiện lời kể
8


Hình ảnh cô sử dụng mô hình kể chuyện giúp trẻ hiểu về nhân vật truyện

Khi dạy trẻ kể lại tôi đã chuẩn bị cho trẻ những tập truyện tranh, các bộ mô
hình sưu tầm bằng cách đọc kể, trò truyện cho trẻ nghe ở các giờ đón trả trẻ và giờ
chơi hàng ngày.
Ví dụ : Cô có mô hình nói về các con côn trùng, có trẻ Dao nói “ con chuồn
chuồn” thì trẻ lại đọc là “Nom kèn búng’’, cô cần sữa ngay bằng cách cho trẻ phát
âm lại là đây là “con chuồn chuồn” và sau đấy cho các trẻ khác phát âm lại để
tránh các trẻ khác lại phát âm sai.
Đây là hình thức cho trẻ làm quen với tác phẩm văn học nói đúng tiếng phổ
thông cũng như nói đủ câu đủ từ ngữ tiếng việt, đây là cơ sở cho trẻ có kiến thức
vững chắc khi sử dụng tiếng Việt thực hiện kể lại chuyên. Qua cách làm quen như

Ví dụ: Dạy chuyện : “ Món quà của cô giáo” độ tuổi: 4- 5 tuổi, tôi đã sử
dụng làm sa bàn mô phỏng theo nội dung câu chuyện đó là các con giống rối: cô
giáo Hươu sao, Cún đốm, Gấu xù, Mèo khoang, sáng tạo làm mô hình lớp học có
cây cỏ, hoa, đồ dùng, đồ chơi.. trong lớp, đặc biệt là tôi làm các con giống này đều
di chuyển được. Tôi còn sưu tầm qua mạng tìm kiếm các nhân vật ngộ nghĩnh lắp
ghép xây dựng qua các băng đĩa hình để dạy trẻ. Qua đó các tiết dạy sẽ đạt hiệu quả
cao.
3.3. Biện pháp 3. Lồng ghép tích hợp nội dung các hoạt động khác vào
dạy trẻ làm quen với văn học.
Với những đồ dùng hấp dẫn và lời kể diễn cảm đã làm rung động người nghe,
nhưng nếu biết tích hợp các môn học khác một cách khoa học thì hiệu quả tiết dạy
còn cao hơn vì nó làm thay đổi không khí, làm thay đổi trạng thái khi kể chuyện.
Bằng những lời ca, lời đối thoại, những câu đố, những bài đồng dao, ca dao hay
một số trò chơi xen lẫn động, tĩnh để gây hứng thú cho trẻ.
Tôi đã sử dụng phương pháp và hình thức lồng ghép các môn học tạo cho trẻ
cảm giác thoải mái, say mê, yêu thích môn học. Tôi sử dụng trò chơi để chuyển tiếp
giữa các lần kể hay thay cho phần củng cố câu chuyện mà các tiết dạy thường áp
dụng. Tôi cho trẻ chơi một số trò chơi ở dạng động, tôi đã linh hoạt, lựa chọn nội
dung sao cho phù hợp với nội dung câu chuyện, giúp trẻ tham gia vào hoạt động
một cách tích cực nhất và ngôn ngữ của trẻ được phát triển mạnh mẽ nhất. Ở lứa
tuổi này tâm lý của trẻ thường nhanh nhớ nhanh quên. Vì vậy thường ngày vào giờ
đón, trả trẻ tôi đưa trẻ vào góc văn học để hướng dẫn trẻ kiến thức mới và củng cố
kiến thức cũ. Đây là hình thức cho trẻ trải nghiệm những gì mình có sẵn và nhớ sâu
hơn. Trẻ luôn cảm thấy thoải mái, tự tin hơn.
* Thông qua hoạt động góc: Cụ thể khi dạy trẻ chủ đề: Trường mầm non
Góc phân vai : Cho trẻ phân vai cô giáo, học sinh, đọc các bài thơ trẻ học
trong chủ điểm: “Trường mầm non”
Góc nghệ thuật: Cho trẻ cắt dán tranh sưu tầm về đồ dùng học tập của bé.
Góc thư viện sách : Xem tranh ảnh lễ hội đến trường của bé.
Ví dụ: Ở góc phân vai, trẻ đóng vai cô giáo, học sinh

phổ thông cho trẻ phát âm theo
Còn một số trẻ dân tộc Dao thì hay mắc vào một số từ như : “Đi học, Cha mẹ,
Khi về’’ thì trẻ lại hay đọc là: “Mình tộ lâu, Ông cỏ ông mạ, Mình dẫn”
Cô giáo sữa sai ngay cho trẻ phát âm tiếng phổ thông và cho trẻ đọc lại nhiều lần
cho trẻ nhớ.
* Thông qua hoạt động ngoài trời: Qua dạo chơi tạo điều kiện cho trẻ tiếp
xúc với thiên nhiên, cảnh vật có trong nội dung bài thơ và môi trường xung quanh
trẻ.

Hình ảnh cô và trẻ quan sát hoa ngoài trời

Ví dụ : Khi dạy trẻ quan sát “Hoa sam’’ cô tiến hành các bước như cho trẻ hát
bài hát : Hoa trường em, cho trẻ đi một vòng quanh vườn hoa sam, cô đưa ra câu
hỏi, các con xem chúng ta đang đứng trước vườn hoa gì đây? Vườn hoa sam ạ, có
bạn dân tộc Dao thì lại nói từ “ Bông Hoa” là “Nom Pèng”, cô sữa sai các con phải
đọc đây là Bông Hoa, và cho cả lớp phát âm lại, bạn nào có nhận xét gì về hoa
12


sam nào? Hoa sam có hoa có lá, một số trẻ dân tộc Mường hiếu động hay nói
truyện với nhau “úi nhiếu hoa sí” Có nghĩa là “ Ôi nhiều hoa thế” Khi cô nghe
như vậy thì cô cần nói lại cho trẻ học theo, trong vườn có nhiều bông hoa hay ít
bông thì trẻ thấy cả vườn hoa nên trẻ sẽ trả lời nhiều hoa, từ đó cô yêu cầu các trẻ
phát âm lại “ Ôi có rất nhiều bông hoa” cô vừa nghe một số bạn sử dụng tiếng
mường để nói trong vườn nhiều hoa đấy các con phải sử dụng đúng từ ngữ tiếng
việt khi đến lớp nhé
Biện pháp dạy tiếng việt bằng việc lồng ghép các hoạt động khác và ở mọi lúc
mọi nơi cũng là trong những biện pháp mang lại hiệu quả cao cho tiết dạy
Trong quá trình trò truyện với trẻ cô chú ý sửa ngay cho trẻ để trẻ sử dụng
ngôn ngữ đúng

Vì vậy việc tích hợp các hoạt động khác cô giáo phải linh hoạt, lựa chọn nội
dung sao cho phù hợp với nội dung câu chuyện, giúp trẻ tham gia vào hoạt động
một cách tích cực hơn nhất là ngôn ngữ của trẻ được phát triển một cách rõ ràng
mạch lạc
3.4. Biện pháp 4. Ứng dụng công nghệ thông tin vào quá trình cho trẻ
làm quen với tác phẩm văn học.
Từ đặc điểm tâm lý của trẻ là nhận thức trực quan, với những sự vật hiện
tượng, một hình ảnh đẹp nếu trẻ được trực tiếp hoạt động như sờ, nếm, thì hiệu quả
sẽ cao hơn tôi đã tích cực sáng tạo sưu tầm và làm các đồ dùng, đồ chơi, chuẩn bị
các điều kiện cho tiết học và sử dụng có hiệu quả đồ dùng dạy học. Tôi đã sử
dụng các tiết dạy bằng băng đĩa hình qua ti vi và máy vi tính các hình ảnh sống
động có nội dung gần gũi phù hợp với các tác phẩm văn học để dạy trẻ, tích hợp
khoa học để phát huy tối đa tính tích cực của trẻ tập trung chú ý vào đối t ượng. Tôi
luôn đặt câu hỏi mở, sử dụng tri thức đã biết, kinh nghiệm đã có để đưa ra sáng
kiến, phương thức hoạt động mới trong các hoạt động độc lập. Tôi đã đổi mới
không dạy theo phương pháp truyền thống đó là dạy học chủ yếu là hoạt động của
cô theo kiểu thông báo, giải thích, trẻ chỉ chú ý lắng nghe mà tôi đã đổi mới
phương pháp đó là trong khi dạy trẻ tôi luôn phát huy tính tích cực, khả năng sáng
tạo của trẻ, lấy trẻ làm trung tâm cho các hoạt động. Phương pháp dạy học lấy trẻ
làm trung tâm là phương pháp phát huy được tối đa tính tích cực, khả năng tiếp thu
và trí tưởng tượng của trẻ. Vì vậy khi sử dụng phương pháp này trong quá trình dạy
trẻ tôi đã chú ý vào việc gợi mở, hướng dẫn trẻ để trẻ được chủ động tư duy từng
nhân vật qua các câu chuyện, từ đó trong quá trình hoạt động tôi luôn tạo ra các câu
hỏi mở để trẻ suy nghĩ trả lời, để trẻ được mở rộng phạm vi hiểu biết của mình hơn.
14


Ví dụ: Qua chuyện “Một bó hoa tươi thắm” ối tượng trẻ 4 - 5 tuổi, tôi tổ
chức bằng “Hội thi ” kết hợp với chủ đề đang thực hiện, các đội tham gia chơi là
các bé trong lớp. Các đội được giao lưu, khám phá. Qua đó tôi thấy trẻ hứng thú

tiếp
Trong cuộc họp phụ huynh đầu năm tôi nên quan tâm về lĩnh vực phát triển
ngôn ngữ cho trẻ, trong những lúc giúp trẻ kể lại chuyện, đóng kịch hay là kể
chuyện sáng tạo những sự kiện trẻ thường gặp hàng ngày, nhờ phụ huynh giúp trẻ
kể lại. Hàng tháng tuyên truyền với phụ huynh thông qua các biểu bảng nêu trên
lên nội dung về chủ điểm, về các câu chuyện của cô và trẻ. Qua đó phụ huynh thấy
được ngôn ngữ của trẻ phát triển như thế nào và có biện pháp kích thích sự phát
truyển ngôn ngữ cho trẻ tại gia đình .
Thường xuyên trao đổi với phụ huynh về các chủ điểm đang học, các câu
chuyện để phụ huynh cùng kể chuyện cho trẻ nghe cùng đóng kịch với trẻ để trẻ có
khả năng sử dụng trường xuyên các ngôn ngữ trong tác phẩm văn học thành ngôn
ngữ giao tiếp của trẻ
Ví dụ : Cô trao đổi với phụ huynh về những câu chuyện trẻ đã kể, yêu cầu
phụ huynh về nhà cho trẻ kể lại câu chuyện đó và khi giao tiếp với trẻ phải giao
tiếp bằng tiếng phổ thông hoặc kích thích trẻ kể các câu chuyện khác. Những hình
ảnh trẻ, gặp hàng ngày phụ huynh gợi ý cho trẻ kể lại những gì trẻ được học ở lớp
những câu chuyện trẻ được nghe được đóng kịch với bạn
Tôi luôn xác định, công tác phối hợp giữa phụ huynh của trẻ và giáo viên là
một nhiệm vụ thiết thực, tạo được sự liên kết và thống nhất về nội dung, phương
pháp, cách thức chăm sóc giáo dục trẻ ở lớp học cũng như ở gia đình, để trẻ được
rèn luyện trở thành thói quen góp phần thực hiện tốt mục tiêu chăm sóc giáo dục
trẻ. Chẳng hạn: Như cô giáo dạy trẻ thể hiện tình cảm bài thơ bằng cử chỉ, điệu bộ
nét mặt, hay thể hiện thái độ phù hợp với từng nhân vật trong chuyện khi về nhà
được bố mẹ khích lệ và hướng dẫn trẻ sẽ thể hiện tốt hơn nữa về tình cảm câu cấu
trúc tác phẩm văn học.

16


Hình ảnh cô đang trò chuyện trao đổi với phụ huynh dạy trẻ kể lại chuyện

dụng nhiều để kể chuyện khi trẻ xem tranh hay kể lại những việc trẻ thấy trẻ làm
một cách lưu loát hơn.
* Kết quả khảo sát thực hiện đến cuối năm đạt được kết quả như sau:
Stt

Tiêu chí

Tổng
số

Đạt

Strẻ

Chưa đạt

%

Strẻ

%

1

Nói thành thạo rõ ràng tiếng phổ
thông

22

22

20

91%

2

9%

4

Thể hiện được sự giao tiếp bằng
tiếng việt thường xuyên rõ ràng
nói đủ câu

22

22

100%

0

0

* Bài học kinh nghiệm
Qua quá trình nghiên cứu và thực hiên các biện pháp trên dạy lớp mẫu giáo
4-5 tuổi phát triển ngôn ngữ giao tiếp qua làm quen với tác phẩm văn học cho trẻ
tôi rút ra những bài học kinh nghiệm sau:
Cô giáo phải đi sâu nghiên cứu để tạo ra được môi trường sống tốt cho trẻ
hoạt động một cách tích cực nhất, biết tạo cảm xúc cho trẻ khi kể lại chuyện đọc

Thủy.
XÁC NHẬN CỦA THỦ TRƯỞNG
ĐƠN VỊ

Cẩm châu, ngày 25 tháng 03 năm
2017
Tôi xin cam đoan đây là SKKN của
mình viết, không sao chép nội dung của
người khác.
Người viết sáng kiến

Bàn Thị Hường
19


Tài liệu tham khảo
- Chương trình giáo dục mầm non ( Nhà xuất bản giáo dục)
- Chuyên đề “ Dạy tiếng việt cho trẻ vùng dân tộc thiểu số”
- Những vấn đề chung về phát triển ngôn ngữ cho trẻ mầm non
- Nội dung, phương pháp, hình thức giáo dục phát triển ngôn ngữ cho trẻ trong
trường mầm non
- Hướng dẫn tổ chức các hoạt động cho trẻ làm quen với tác phẩm văn học

20


21




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status