luận văn tài chính ngân hàng Thực trạng sử dụng các công cụ Chính sách tiền tệ của Ngân hàng trung ương giai đoạn từ đầu năm 2010 đến nay’ - Pdf 28

MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
CSTT Chính sách tiền tệ
DTBB Dự trữ bắt buộc
GDP Tổng sản phẩm nội địa
GTCG Giấy tờ có giá
NHTM Ngân hàng thương mại
NHTMCP Ngân hàng thương mại cổ phần
NHTMNN Ngân hàng thương mại nhà nước
NHTƯ Ngân hàng trung ương
NVTTM Nghiệp vụ thị trường mở
VND Việt Nam đồng
TCTD Tổ chức tín dụng
DANH MỤC BẢNG BIỂU
DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 2.1. Tỷ lệ dự trữ bắt buộc với tiền gửi VND tại các TCTD Error:
Reference source not found
Biểu đồ 2.2: Tốc độ tăng trưởng GDP và lạm phát 2000-2012 Error:
Reference source not found
Biểu đồ 2.3. Lãi xuất chính sách trong năm 2011 Error: Reference source
not found
Biểu đồ 2.4. Lãi suất tiết kiệm và lãi xuất thực tiết kiệm năm 2012 Error:
Reference source not found
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Chính sách tiền tệ là một chính sách điều tiết kinh tế vĩ mô quan
trọng của nhà nước trong nền kinh tế thị trường vì nó có ảnh hưởng lớn
đến các biến số vĩ mô như: công ăn việc làm, tốc độ tăng trưởng, lạm
phát… Để đạt được các mục tiêu của chính sách tiền tệ thì việc sử dụng
các công cụ của nó đóng một vai trò quan trọng.
Ở Việt Nam kể từ khi đổi mới đến nay, chính sách tiền tệ đặc biệt là

chương:
- Chương 1: Những vấn đề chung về chính sách tiền tệ
- Chương 2 : Thực trạng sử dụng các công cụ của chính sách
tiền tệ Việt Nam hiện nay
- Chương 3 : Một số giải pháp hoàn thiện chính sách tiền tệ ở
Việt Nam.
2
CHƯƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ
1.1. Khái niệm và cơ chế thực hiện chính sách tiền tệ
1.1.1. Khái niệm về chính sách tiền tệ
Chính sách tiền tệ (CSTT) là một bộ phận trong tổng thể hệ thống
chính sách kinh tế của nhà nước để thực hiện việc quản lý vĩ mô đối với
nền kinh tế nhằm đạt được những mục tiêu kinh tế - xã hội trong từng
giai đoạn nhất định.
Theo nghĩa rộng thì CSTT là chính sách điều hành toàn bộ khối
lượng tiền tệ trong nền kinh tế quốc dân nhằm tác động đền bốn mục tiêu
lớn của kinh tế vĩ mô, trên cơ sở đó đạt mục tiêu cơ bản là ổn định tiền
tệ, giữ vững sức mua của đồng tiền, ổn định giá cả hàng hóa.
Theo nghĩa thông thường là chính sách quan tâm đến khối lượng
tiền cung ứng tăng thêm trong thời kì tới (thường là một năm) phù hợp
với mức tăng trưởng kinh tế dự kiến và chỉ số lạm phát nếu có, tất nhiên
cũng nhằm ổn định tiền tệ và ổn định giá cả hàng hóa.
1.1.2. Cơ chế thực hiện chính sách tiền tệ
Quá trình thực hiện CSTT bao giờ cũng được diễn ra theo một cơ
chế nhất định. Trong cơ chế này, NHTW sẽ là người thiết kế và điều
hành CSTT. Một CSTT của một quốc gia có thể được thực hiện theo hai
hướng:
+ CSTT “nới lỏng” là chính sách nhằm tăng thêm khối lượng tiền
tệ cung

4
đầu tư về lâu dài. Khi giá cả có tỷ lệ lạm phát thấp, hiện tượng đầu cơ sẽ
biến mất, giá trị tiền nội địa sẽ được ổn định.
Ngược lại, khi giá cả lạm phát cao, thu nhập người lao động sẽ
không tăng kịp với phần tăng của giá sẽ làm cho đời sống họ thêm khó
khăn, nạn đầu cơ sẽ phát sinh làm cho một số bộ phận giàu lên rất nhanh
trong khi đại đa số nhân dân trở nên nghèo hơn. Khoảng cách giàu và
nghèo lớn dần và nhân dân mất niềm tin vào chính quyền.
Ổn định giá cả vì thế là một mục tiêu quan trọng nhất của CSTT .
1.2.3. Công ăn việc làm cao.
Việc làm cao cho người lao động là một mục tiêu kinh tế -xã hội của
mọi quốc gia hiện nay. Nếu xã hội có ít công ăn việc làm, tỷ lệ thất
nghiệp cao sẽ dẫn đến hậu quả: lãng phí các nguồn lực, làm giảm sản
lượng quốc gia, làm giảm thu nhập trong dân chúng gây khó khăn cho
đời sống của họ thậm chí có thể làm tăng các tệ nạn xã hội. Vì vậy việc
làm cao là một yêu cầu bức thiết của mọi quốc gia có nền kinh tế phát
triển cũng như đang phát triển.
Một chính sách tiền tệ đúng thúc đẩy sản xuât, khuyến khích đầu tư
sẽ tạo ra nhiều công ăn việc làm cho xã hội. Kết quả là tỷ lệ thất nghiệp
giảm xuống.
1.2.4. Ổn định thị trường tài chính.
Nền tảng tài chính ổn định là mục tiêu chủ đạo của CSTT ngoài
những mục tiêu nói trên. NHTW phải ổn định hoạt động tài chính của hệ
thống tài chính trong nước một cách gián tiếp. Tăng cường hiệu quả cho
nó, kể cả thu thập thông tin, hướng dẫn, ngăn ngừa rủi ro cho các tổ chức
tài chính trong chiều hướng quản lý hoạt động của nó phù hợp với các
mục tiêu của nền kinh tế.
Bản thân hệ thống tài chính có những mục tiêu riêng của nó và
nhiều khi những mục tiêu này đối chọi với những mục tiêu chung của
5

b. Lãi suất tái triết khấu
Lãi suất tái triết khấu có hai tác dụng, một gián tiếp, một trực tiếp.
Tác dụng gián tiếp là nó làm tăng hay giảm lãi suất cho vay của NHTM
và do đó tác động đến cung ứng tiền và tín dụng. Tác động trực tiếp là
nó làm tăng hay giảm dự trữ của NHTM và do vậy tác động đến lượng
cho vay tiêu dùng và đầu tư trong nền kinh tế.
Khi NHTW quyết định tăng lãi suất triết khấu, đó là một biến cố
quan trọng giống như thay đổi CSTT. Lãi suất triết khấu tăng sẽ làm cho
NHTM không thể vay của NHTW nhiều và dễ dàng như trước. Do vậy
nó phải giảm bớt cho vay để đảm bảo dự trữ trở lại. Như vậy, tác động
thứ nhất là nó trực tiếp làm tăng dự trữ, giảm cho vay và hiệu quả là tổng
cầu và sản lượng giảm theo.
Tác động thứ hai là nó làm cho NHTM trong trường hợp khẩn cấp
cần vay nóng của NHTW, NHTM phải trả lãi suất cao, do vậy các
NHTM sẽ từ từ nâng lãi suất lên theo để khỏi thiệt hại nặng khi phải vay
của NHTW. Lãi suất tăng tiếp tục thắt chặt cung ứng tiền và tác động
đến nền kinh tế.
Khi NHTW tuyên bố giảm lãi suất triết khấu, nó khuyến khích các
NHTM đến vay nhiều hơn, điều này trước hết làm tăng cung ứng tiền,
tăng dự trữ. Dự trữ tăng kích thích các NHTM cho vay nhiều hơn, dễ
dàng hơn và điều này làm tăng nhanh hơn nữa cung ứng tiền. Bên cạnh
đó, khi NHTM có thể vay tiền của NHTW với lãi suất hạ, nó sẽ sẵn sàng
hạ lãi suất khi cho sản xuất và tiêu dùng vay. Toàn bộ lãi suất, do vậy sẽ
giảm theo, kích thích đầu tư và mở rộng sản lượng.

7
c. Dự trữ bắt buộc
Dự trữ bắt buộc của NHTM bị tác động trực tiếp bởi tỷ lệ dự trữ bắt
buộc quy định bởi NHTW. Bằng việc thay đổi tỷ lệ dự trữ bắt buộc,
NHTW đã làm thay đổi những khoản tiền gửi không kỳ hạn của NHTM,

ảnh hưởng tới đầu tư và tiêu dùng, từ đó ảnh hưởng đến các biến số kinh
tế vĩ mô khác.
Như vậy là có nhiều công cụ để điều hành CSTT. Mỗi công cụ tác
động đến cung tiền ở mức độ, phạm vi khác nhau. Trong quá trình sử
dụng các công cụ này, cần phải có sự kết hợp chặt chẽ các công cụ đó
với nhau, tạo thành hệ thống công cụ đồng bộ thì mới điều tiết kinh tế vĩ
mô một cách có hiệu quả.
9
CHƯƠNG II
THỰC TRẠNG SỬ DỤNG CÁC CÔNG CỤ CHÍNH SÁCH
TIỀN TỆ Ở VIỆT NAM
2.1. Thực trạng sử dụng các công cụ chính sách tiền tệ
2.1.1. Công cụ nghiệp vụ thị trường mở
Từ ngày 12/7/2000, NHNN tiến hành đưa công cụ NVTTM vào
hoạt động. Hoạt động này đã có tác động tới vốn khả dụng của các tổ
chức tín dụng (TCTD) tham gia thị trường, đa dạng hoá kênh huy động
và luân chuyển vốn, tạo ra khả năng phối kết hợp giữa thị trường liên
ngân hàng - thị trường mở - thị trường chứng khoán.
Ngay từ khi triển khai, NHNN đã xác định NVTTM sẽ là một công
cụ chủ yếu trong điều hành CSTT. Để đạt được mục đích đó, NHNN đã
tập trung thực hiện việc điều hoà lưu thông tiền tệ thông qua công cụ
này. Điều này thể hiện ở doanh số mua bán giấy tờ có giá (GTCG) trên
thị trường mở tăng nhanh qua các năm.
Thống kê từ đầu năm nay đến hết tháng 6/2011, NHNN đã bơm ra
thị trường qua nghiệp vụ thị trường mở là 2.300.062 tỷ đồng, hút về
2.287.006 tỷ đồng, mức bơm ròng là 13.056 tỷ đồng. Số liệu cụ thể được
thể hiện tổng hợp qua bảng dưới đây:
10
Bảng 1: Tình hình hoạt động NVTTM 6 tháng đầu năm 2011
Đơn vị tính: Tỷ đồng

tổng doanh số trúng thầu là1.036.066 tỷ đồng, đến cuối năm 2010, tổng
12
doanh số trúng thầu là 2.108.715 tỷ đồng. Trong các hình thức giao dịch
thị trường mở thì hình thức NHNN mua các GTCG -“bơm” tiền ra là
chủ yếu, có thời điểm là 100% trong tổng doanh số trúng thầu như 6
tháng đầu năm 2009 và năm 2010. Tuy nhiên, 6 tháng đầu năm 2011,
NHNN lại “hút” là chủ yếu, (tháng 5 và 6), NHNN chỉ bơm ra khoảng
13.056 tỷ đồng. Điều này cho thấy thị trường mở là một “kênh” cung
ứng hoặc thu hút tiền về quan trọng của NHNN nhằm thực hiện mục tiêu
của CSTT. Cụ thể: Lãi suất trên thị trường mở cũng có nhiều biến động:
nếu năm 2008, mua có kỳ hạn 7 ngày lãi suất bình quân là 12,82%/năm,
14 ngày là 13,12%/năm, thì năm 2009, đã giảm xuống tương ứng là
7,23%/năm và 7,51%/năm và năm 2010 tương ứng 8,35%/năm và
7,69%/năm. Trong tháng 1/2011, lãi suất mua có kỳ hạn 7 ngày đã tăng
lên 10%/năm, từ ngày 22/2, tăng lên 12%, 1/4 là 13%, ngày 4/5, đã
được đẩy lên mức 14%/năm, không dừng ở đó, ngày 17/5, NHNN đã
nâng lãi suất trên thị trường mở lên 15%.
Đây là lần thứ 8, NHNN điều chỉnh mức lãi suất trên thị trường
mở kể từ tháng 1/2010. Từ ngày 4/7/2011, lãi suất trên nghiệp vụ thị
trường mở đã giảm nhẹ xuống 14%/năm. Điều này cho thấy năm 2008
và 2011 nền kinh tế có lạm phát cao, NHNN thực hiện chính sách tiền tệ
thắt chặt dẫn đến tình hình thanh khoản của các NHTM khó khăn, đặc
biệt là các NHTM cổ phần quy mô nhỏ.
2.1.2. Công cụ lãi suất tái triết khấu
Lãi suất tái chiết khấu (hay lãi suất chiết khấu) là lãi suất áp dụng
khi NHNN tái chiết khấu thương phiếu và các giấy tờ có giá ngắn hạn
khác (tín phiếu kho bạc, chứng chỉ tiền gửi) cho các TCTD.
Trong quá trình cho vay triết khấu, NHNN luôn luôn điều chỉnh
lãi suất cho vay lãi suất phù hợp với mục tiêu của CSTT trong từng thời
13

năm 2009 đến năm 2012 luôn luôn biến động .Trong năm 2009, mức lãi
suất triết khấu được điều chỉnh nhiều lần cho phù hợp với diễn biến của
nền kinh tế. Đầu năm, mức lãi xuất chiết khấu là 6%/tháng, từ tháng 4
đến tháng 10 thì mức lãi xuất giảm còn 5%/tháng. Từ tháng 12 năm
2009 đến tháng 11 năm 2010 thì lãi xuất triết khấu quy định là 6%/năm.
Điều này cho thấy trong thời gian này, tình hình kinh tế trong nước phát
triển đồng bộ và luôn ở mức ổn định.
Khi NHNH tăng mức lãi suất lên 12%/ tháng của tháng 3 năm 2011
đã ghi nhận một bước ngoặt lớn của nền kinh tế là tình hình lạm phát
đang diễn ra ngày một mạnh mẽ hơn. Lãi suất tái chiết khấu tăng cao đã
hạn chế khả năng tiếp cận nguồn vốn của các TCTD, đặc biệt là các
doanh nghiệp vừa và nhỏ.
Liên tục trong năm 2011 đến năm 2012 thì vấn đề này trở nên nóng
hơn. Đây làmột năm đầy biến động của kinh tế thị trường khi lãi xuất
chiết khấu tăng từ 7% lên 12%/năm, lãi suất tái cấp vốn tăng từ 11% lên
12%/năm, lãi suất cho vay qua đêm trong thanh toán điện tử liên ngân
hàng tăng từ 11% lên 12%/năm.
Tăng lãi suất tái chiết khấu được coi là một trong số các công cụ
thắt chặt tiền tệ, kiềm chế lạm phát của NHTW các quốc gia.Với việc
tăng mạnh lãi suất tái chiết khấu và 3 loại lãi suất khác, NHNN đang
ngày càng siết chặt việc bơm tiền cho các NHTM, thực hiện đúng Nghị
định 11 của Chính phủ về việc siết chặt thị trường tín dụng, kiềm chế
lạm phát.
2.1.3. Công cụ dự trữ bắt buộc
Từ năm 1990, dự trữ bắt buộc ( DTBB) đã trở thành công cụ chủ
yếu để điều hành CSTT ở Việt Nam. Theo pháp lệnh Ngân hàng ( ban
15
hành năm1990) tỷ lệ DTBB có thể ở mức từ 10% đến 30% tổng nguồn
vốn huy động của các NHTM.
Dự trữ bắt buộc là số tiền mà các tổ chức tín dụng hoạt động tại

Ở Việt Nam, trước tình hình kinh tế diễn biến không ổn định,
NHNN đã sử dụng tất cả các công cụ CSTT theo hướng thắt chặt để
kiềm chế lạm phát. Giai đoạn lạm phát bùng nổ vào năm 2008 như là kết
quả tất yếu của chính sách nới rộng tổng cầu. Sang năm 2009, CSTT lại
hướng vào việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế thông qua một loạt các công
cụ như hỗ trợ lãi suất mà thực chất là mở rộng cung tiền, hạ lãi suất cơ
bản từ 14% xuống 8,5% và cặp lãi suất chiết khấu, tái cấp vốn xuống
7,5% và 9,5%, duy trì lãi suất cơ bản ở mức 7% trong gần suốt năm
2009 Kết quả là tốc độ tăng trưởng tín dụng lên tới mức kỷ lục gần
40% vào năm 2009 và lạm phát tạm thời ở mức 6,9% - tỷ lệ cao nhất
trong khu vực vào thời gian đó.
Bước sang năm 2010 là giai đoạn thực hiện chính sách vĩ mô thận
trọng nhằm ổn định và duy trì mục tiêu tăng trưởng, CSTT với các giải
pháp nới rộng cung tiền, chỉ trong 6 tháng cuối năm 2010, dư nợ tín
17
dụng đã tăng tới 18% và đưa tổng mức dư nợ tín dụng tăng tới gần 28%
so với năm 2009 (vượt 12% so với cam kết). Kết quả là cả hai mục tiêu
đều vượt chỉ tiêu của Quốc hội: tốc độ tăng trưởng vượt 104% và tỷ lệ
lạm phát vượt 168%.
Đặc biệt là giai đoạn ưu tiên ổn định vĩ mô, kiềm chế lạm phát
trong suốt thời gian từ 2011 – 2012. Đây là một giai đoạn mà CSTT thực
hiện thắt chặt với mục tiêu trung gian là dư nợ tín dụng với mức tăng
trưởng 20% trong năm 2011. Sang năm 2012, hạn mức tín dụng được
NHNN chia thành 4 nhóm, tương ứng với các mức là 17%, 15%, 8% và
0%, quy định tỉ trọng dư nợ tín dụng cho lĩnh vực không khuyến khích là
16%
.
Từ quý IV năm 2011, NHNN bắt đầu thể hiện dấu hiệu nới lỏng
nhưng nhu cầu tín dụng vẫn rất thấp, báo hiệu tình trạng đình đốn của
khu vực sản xuất, giảm nhu cầu tín dụng, chỉ số giá đã bắt đầu giảm từ

chế lãi suất tiền gửi lần lượt ở mức 11% (tháng 7/2010), 12% (tháng
11/2010), 14% (tháng 12/2010).
Bước sang năm 2011 lãi suất tiếp tục lên cao, lãi suất cho vay tiêu
dùng lên tới 25-30%, còn lãi suất cho vay sản xuất là 20% trong 2 tháng
19
đầu năm. Mặc dù lãi suất cao nhưng NHNN vẫn tiếp tục thắt chặt chính
sách tiền tệ, hạ mục tiêu tăng trưởng tín dụng từ mức 23% xuống còn
dưới 20%, tăng trưởng cung tiền giảm xuống 15-16%. Ngoài ra, NHNN
quyết định tăng dự trữ bắt buộc đối với ngoại tệ với kỳ hạn dưới 12
tháng từ 4% lên 6% và kỳ hạn trên 12 tháng từ 2% lên 4%.
Biểu đồ 2.3. Lãi xuất chính sách trong năm 2011

Nguồn: Ngân hàng Nhà nước
Sau một năm đầy biến động của kinh tế 2011, những ngày đầu 2012,
NHNN đã 5 lần điều chỉnh giảm các mức lãi suất điều hành và 4 lần điều
chỉnh giảm trần lãi suất huy động. Trong đó, lãi suất tái chiết khấu giảm
từ 13%/năm xuống mức 8%/năm, lãi suất tái cấp vốn giảm từ 15%/năm
xuống 10%/năm, lãi suất cho vay qua đêm trong thanh toán điện tử liên
ngân hàng giảm từ 16%/năm xuống 11%/năm, trần lãi suất huy động
giảm từ 14%/năm xuống 9%/năm (với tiền gửi kỳ hạn dưới 12 tháng).
20
Biểu đồ 2.4. Lãi suất tiết kiệm và lãi xuất thực tiết kiệm năm 2012
Nguồn: Ngân hàng Nhà nước
Sau quý I/2012, từ quý II/2012, lãi suất cho vay đã giảm mạnh,trong
nhiều lĩnh vực, với cả khối NHTMNN và NHTMCP. Đến cuối tháng
6/2012, lãi suất cho vay nông nghiệp - nông thôn của khối NHTMNN
giảm từ 16%/năm từ đầu năm xuống chỉ còn 12%/năm; nhóm NHTMCP
giảm từ 19,2% xuống 13%/năm.
Trong 6 tháng đầu năm 2012, mặc dù NHNN đã có nhiều quyết sách
nhằm tháo gỡ khó khăn cho các doanh nghiệp trong nền kinh tế, lãi suất


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status