PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG VỀ HỆ THỐNG THÔNG TIN, PHƯƠNG TIỆN TRUYỀN THÔNG TIN VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA THÔNG TIN tại Công ty bánh kẹo Hải Hà - Pdf 28

LỜI MỞ ĐẦU
“Ai nắm được thông tin người đó nắm được quyền” . Đây là một trong những đặc tính
của thông tin và nó thể hiện được sự cần thiết của thông tin trong toàn xã hội nói
chung và đặc biệt trong nền kinh tế thị trường nói riêng. Muốn đứng vững trên thị
trường thì bản thân doanh nghiệp đó phải có thông tin, để từ đó có những quyết định
đúng đắn. Để làm được điều đó đòi hỏi nhà quản trị doanh nghiệp phải có thông tin.
Nó có cả những điều kiện thuận lợi và có cả những khó khăn, thách thức diễn ra, bởi
vì thông tin luôn luôn méo nên cần phải phân
tích kỹ, khoa học trước khi đưa ra quyết định.
Quyết định quản trị kinh doanh là hành vi sáng tạo của chủ doanh nghiệp, nhằm đề ra
mục tiêu, chương trình và tính chất hoạt động của doanh nghiệp, để giải quyết một
vấn đề đã chín muồi trên cơ sở hiểu biết các quy luật vận động khách quan của hệ
thống và việc phân tích các thông tin về hiện trạng của hệ thống và môi trường.
Do vậy, để có một quyết định đúng, chính xác yêu cầu chủ doanh nghiệp cần phải có
thông tin và phân tích thông tin. Điều này thể hiện tầm quan trọng của công tác
dự đoán, tiếp nhận thông tin và ra quyết định cho công tác quản lý doanh nghiệp
là cần thiết đối với mỗi doanh nghiêp nói chung và với Công ty bánh kẹo Hải Hà
nói riêng.
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THÔNG TIN, DỰ ĐOÁN
THÔNG TIN VÀ RA QUYẾT ĐỊNH
I, CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ THÔNG TIN VÀ DỰ BÁO THÔNG TIN
1.1 Thông tin
1.1.1 Khái niệm thông tin
Thông tin thường được hiểu là các tin tức mà con người trao đổi với nhau, hay rộng
hơn thông tin bao gồm cả những tri thức về các đối tượng
Hiểu một cách tổng quát thông tin là kết quả phản ánh các đối tượng trong sự tương
tác và vận động của chúng
1.1.2 Đơn vị đo lường thông tin
Ta sẽ dùng phương pháp xác suất để đo số lượng thông tin mà người nghiên cứu nhận
được từ một thông báo, dữ liệu về đối tượng xét theo một phương diện nghiên
cứu nào đó

• Xét theo mối quan hệ giữa bên trong và bên ngoài doanh nghiệp môi trường
gồm:
- Thông tin bên trong: là những thông tin phát sinh bên trong nội bộ của doanh
nghiệp gồm các số liệu về đội ngũ cán bộ, nhân lực, vốn, tài sản thiết bị, nguyên
nhiên vật liệu…
- Thông tin bên ngoài: gồm các thông tin trên thị trường như giá cả, chất lượng,
chủng loại sản phẩm, sự biến động của tiền tệ, dân cư…
• Xét theo chức năng thông tin gồm:
- Thông tin chỉ đạo:
+ Mang các mệnh lệnh, chỉ thị, chủ trương, nhiệm vụ mục tiêu nền kinh tế đã định
+ Có các tác động quy định đến mọi phương hướng hoạt động của đối tượng quản lý
- Thông tin thực hiện: phản ánh toàn diện kết quả thực hiện mục tiêu của doanh
nghiệp
• Xét theo cách truyền thông tin:
- Thông tin có hệ thống: truyền đi theo nội dung và thủ tục đã định trước theo định kỳ
và trong thời hạn nhất định.
- Thông tin không có hệ thống: là những thông tin được truyền đi khi có sự kiện đột
xuất nảy sinh trong quá trình sản xuất kinh doanh hoặc xảy ra trên thị trường,
mang tính chất ngẫu nhiên, tạm thời
• Theo phương pháp thu nhận và xử lý thông tin:
- Thông tin về khoa học kỹ thuật:
+ Làm cơ sở cho việc chế tạo
+ Do các cơ quan khoa học kỹ thuật thu thập
- Thông tin về tình hình kinh tế như giá cả, doanh thu, lãi suất, cung cầu tiền trên thị
trường
• Xét theo hướng chuyên động của thông tin
- Thông tin theo chiều ngang
- Thông tin theo chiều dọc
• Xét theo số lần gia công:
- Thông tin ban đầu

Thông tin phải có tính nhất quán , tính có luận cứ, không có chi tiết thừa, tính có
nghĩa của vấn đề, tính rõ ràng của mục tiêu đạt tới nhờ sử dụng thông tin.
1.1.3.5 Bảo đảm thông tin cho các quyết định trong quản trị kinh doanh
• Xác định nhu cầu thông tin trong quản trị kinh doanh
Dịch vụ thông tin phải tổ chức sao cho phù hợp với các cấp quản trị, vì mỗi cấp
quản trị đều có phạm vi hoạt động nhất định và chỉ cần những thông tin có liên
quan đến quyền hạn và trách nhiệm đã quy định
Trong công tác quản trị kinh doanh, người ta chia người lãnh đạo ra làm 3 cấp:
- Người lãnh đạo cấp cao
- Người lãnh đạo cấp trung
- Người lãnh đạo cấp thấp
Dựa vào chức năng, nhiệm vụ của họ để xác định nhu cầu về thông tin cho phù
hợp
• Tổ chức hệ thống thông tin trong kinh doanh
- Sự cần thiết phải tổ chức hệ thống thông tin trong kinh doanh
+ Mở rộng khả năng thu thập thông tin của cơ quan quản trị và người lãnh đạo có
thể nhanh chóng đưa ra được quyết định đúng đắn
+ Bảo đảm cho người quản trị nhanh chóng nắm được thông tin chính xác về tình
hình hoạt động của thị trường và của đối tượng quản trị, để có thể tăng cường tính
linh hoạt trong quản trị sản xuất kinh doanh
+ Tạo điều kiện để thực hiện nguyên tắc hệ thống trong quản trị: tiết kiệm được
thời gian và chi phí về thu thập, xử lý thông tin.
- Chức năng hệ thống thông tin của doanh nghiệp
- Thu thập thông tin
+ Thu thập thông tin thị trường bằng phương pháp phỏng vấn trực tiếp khách
hàng:
→Ưu điểm:
Thu thập thông tin nhanh
Người đi phỏng vấn vẫn nắm được nhu cầu thị hiếu của khách hàng một cách cụ
thể

độ của cán bộ quản trị , dịch vụ thông tin cần được tổ chức cho phù hợp với
quy chế về quyền hạn, trách nhiệm của từng bộ phận quản trị với tác phong của
người lãnh đạo
- Đưa tin vào một lần và sử dụng nhiều lần
- Đảm bảo sự trao đổi qua lại giữa các hệ thống
- Mô hình hóa các quá trình thông tin
- Kết hợp xử lý thông tin: làm cho cán bộ quản trị nói chung và người lãnh đạo
nói riêng phải bận tâm về việc xử lý thông tin, dành thời gian tập trung vào các
hoạt động sáng tạo như xây dựng và lựa chọn các phương án quyết định
- Đảm bảo cho sự phát triển liên tục, không ngừng của hệ thống thông tin, phải
từng bước hợp lý hóa hệ thống thông tin để có thể đảm bảo thu thập, xử lý và
cung cấp cho quản lý những thông tin chính xác và kịp thời
- Cán bộ quản trị và người lãnh đạo phải trực tiếp tham gia vào việc thiết kế và
xây dựng hệ thống thông tin
- Bảo đảm tính hiệu quả của hệ thống thông tin
1.2 Dự báo trong quản trị kinh doanh
1.2.1 Khái niệm
Dự báo đã hình thành từ đầu những năm 60 của thế kỉ 20. Khoa học dự báo với
tư cách một ngành khoa học độc lập có hệ thống lí luận, phương pháp luận và phương
pháp hệ riêng nhằm nâng cao tính hiệu quả của dự báo. Người ta thường nhấn mạnh
rằng một phương pháp tiếp cận hiệu quả đối với dự báo là phần quan trọng trong
hoạch định. Khi các nhà quản trị lên kế hoạch, trong hiện tại họ xác định hướng tương
lai cho các hoạt động mà họ sẽ thực hiện. Bước đầu tiên trong hoạch định là dự báo
hay là ước lượng nhu cầu tương lai cho sản phẩm hoặc dịch vụ và các nguồn lực cần
thiết để sản xuất sản phẩm hoặc dịch vụ đó.
Như vậy, dự báo là một khoa học và nghệ thuật tiên đoán những sự việc sẽ xảy
ra trong tương lai, trên cơ sở phân tích khoa học về các dữ liệu đã thu thập được.
Khi tiến hành dự báo ta căn cứ vào việc thu thập xử lý số liệu trong quá khứ và hiện
tại để xác định xu hướng vận động của các hiện tượng trong tương lai nhờ vào một số
mô hình toán học.

doanh nghiệp, trong từng phòng ban như: phòng Kinh doanh hoặc Marketing, phòng
Sản xuất hoặc phòng Nhân sự, phòng Kế toán – tài chính.
1.2.3 Các loại dự báo
1.2.3.1 Căn cứ vào độ dài thời gian dự báo:
Dự báo có thể phân thành ba loại
- Dự báo dài hạn: Là những dự báo có thời gian dự báo từ 5 năm trở lên. Thường
dùng để dự báo những mục tiêu, chiến lược về kinh tế chính trị, khoa học kỹ thuật
trong thời gian dài ở tầm vĩ mô.
- Dự báo trung hạn: Là những dự báo có thời gian dự báo từ 3 đến 5 năm. Thường
phục vụ cho việc xây dựng những kế hoạch trung hạn về kinh tế văn hoá xã hội… ở
tầm vi mô và vĩ mô.
- Dự báo ngắn hạn: Là những dự báo có thời gian dự báo dưới 3 năm, loại dự báo
này thường dùng để dự báo hoặc lập các kế hoạch kinh tế, văn hoá, xã hội chủ yếu ở
tầm vi mô và vĩ mô trong khoảng thời gian ngắn nhằm phục vụ cho công tác chỉ đạo
kịp thời.
Cách phân loại này chỉ mang tính tương đối tuỳ thuộc vào từng loại hiện tượng để
quy định khoảng cách thời gian cho phù hợp với loại hiện tượng đó: ví dụ trong dự
báo kinh tế, dự báo dài hạn là những dự báo có tầm dự báo trên 5 năm, nhưng trong
dự báo thời tiết, khí tượng học chỉ là một tuần. Thang thời gian đối với dự báo kinh tế
dài hơn nhiều so với thang thời gian dự báo thời tiết. Vì vậy, thang thời gian có thể đo
bằng những đơn vị thích hợp.
( ví dụ: quý, năm đối với dự báo kinh tế và ngày đối với dự báo dự báo thời tiết).
1.2.3.2 Dựa vào các phương pháp dự báo:
Dự báo có thể chia thành 3 nhóm
- Dự báo bằng phương pháp chuyên gia: Loại dự báo này được tiến hành trên cơ
sở tổng hợp, xử lý ý kiến của các chuyên gia thông thạo với hiện tượng được nghiên
cứu, từ đó có phương pháp xử lý thích hợp đề ra các dự đoán, các dự đoán này được
cân nhắc và đánh giá chủ quan từ các chuyên gia. Phương pháp này có ưu thế trong
trường hợp dự đoán những hiện tượng hay quá trình bao quát rộng, phức tạp, chịu sự
chi phối của khoa học - kỹ thuật, sự thay đổi của môi trường, thời tiết, chiến tranh

sự phát triển của tình hình thế giới và các quan hệ quốc tế. Thường được thực hiện
chủ yếu theo những hướng sau: dân số, nguồn lao động, việc sử dụng và tái sản xuất
chúng, năng suất lao động; tái sản xuất xã hội trước hết là vốn sản xuất cố định: sự
phát triển của cách mạng khoa học – kĩ thuật và công nghệ và khả năng ứng dụng vào
kinh tế; mức sống của nhân dân, sự hình thành các nhu cầu phi sản xuất, động thái và
cơ cấu tiêu dung, thu nhập của nhân dân; động thái kinh tế quốc dân và sự chuyển
dịch cơ cấu (nhịp độ, tỉ lệ, hiệu quả); sự phát triển các khu vực và ngành kinh tế (khối
lượng động thái, cơ cấu, trình độ kĩ thuật , bộ máy, các mối liên hệ liên ngành); phân
vùng sản xuất, khai thác tài nguyên thiên nhiên và phát triển các vùng kinh tế trong
nước, các mối liên hệ liên vùng; dự báo sự phát triển kinh tế của thế giới kinh tế. Các
kết quả dự báo kinh tế cho phép hiểu rõ đặc điểm của các điều kiện kinh tế - xã hội để
đặt chiến lược phát triển kinh tế đúng đắn, xây dựng các chương trình, kế hoạch phát
triển một cách chủ động, đạt hiệu quả cao và vững chắc.
- Dự báo xã hôi: Dự báo xã hội là khoa học nghiên cứu những triển vọng cụ thể
của một hiện tượng, một sự biến đổi, một qúa trình xã hội, để đưa ra dự báo hay dự
đoán về tình hình diễn biến, phát triển của một xã hội.
- Dự báo tự nhiên, thiên văn học, loại dự báo này thường bao gồm:
+ Dự báo thời tiết: Thông báo thời tiết dự kiến trong một thời gian nhất định trên
một vùng nhất định. Trong dự báo thời tiết có dự báo chung, dự báo khu vực, dự báo
địa phương, v.v. Về thời gian, có dự báo thời tiết ngắn (1-3 ngày) và dự báo thời tiết
dài (tới một năm).
+ Dự báo thuỷ văn: Là loại dự báo nhằm tính để xác định trước sự phát triển các
qúa trình, hiện tượng thuỷ văn xảy ra ở các sông hồ, dựa trên các tài liệu liên quan tới
khí tượng thuỷ văn. Dự báo thuỷ văn dựa trên sự hiểu biết những quy luật phát triển
của các quá trình, khí tượng thuỷ văn, dự báo sự xuất hiện của hiện tượng hay yếu tố
cần quan tâm. Căn cứ thời gian dự kiến, dự báo thuỷ văn được chia thành dự báo thuỷ
văn hạn ngắn (thời gian không quá 2 ngày), hạn vừa (từ 2 đến 10 ngày); dự báo thuỷ
văn mùa (thời gian dự báo vài tháng); cấp báo thuỷ văn: thông tin khẩn cấp về hiện
tượng thuỷ văn gây nguy hiểm. Theo mục đích dự báo, có các loại: dự báo thuỷ văn
phục vụ thi công, phục vụ vận tải, phục vụ phát điện,v.v. Theo yếu tố dự báo, có: dự

tại khu vực mình phụ trách.
Tập hợp ý kiến của nhiều người bán hàng tại nhiều khu vực khác nhau, ta có
được lượng dự báo tổng hợp về nhu cầu đối với loại sản phẩm đang xét.
Nhược điểm của phương pháp này là phụ thuộc vào đánh giá chủ quan của
người bán hàng. Một số có khuynh hướng lạc quan đánh giá cao lượng hàng bán ra
của mình. Ngược lại, một số khác lại muốn giảm xuống để dễ đạt định mức.
• Phương pháp chuyên gia (Delphi).
Phương pháp này thu thập ý kiến của các chuyên gia trong hoặc ngoài doanh
nghiệp theo những mẫu câu hỏi được in sẵn và được thực hiện như sau:
- Mỗi chuyên gia được phát một thư yêu cầu trả lời một số câu hỏi phục vụ cho
việc dự báo.
- Nhân viên dự báo tập hợp các câu trả lời, sắp xếp chọn lọc và tóm tắt lại các ý
kiến của các chuyên gia.
- Dựa vào bảng tóm tắt này nhân viên dự báo lại tiếp tục nêu ra các câu hỏi để
các chuyên gia trả lời tiếp.
- Tập hợp các ý kiến mới của các chuyên gia. Nếu chưa thỏa mãn thì tiếp tục
quá trình nêu trên cho đến khi đạt yêu cầu dự báo.
Ưu điểm của phương pháp này là tránh được các liên hệ cá nhân với nhau,
không xảy ra va chạm giữa các chuyên gia và họ không bị ảnh hưởng bởi ý kiến của
một người nào đó có ưu thế trong số người được hỏi ý kiến.
• Phương pháp điều tra người tiêu dùng
Phương pháp này sẽ thu thập nguồn thông tin từ đối tượng người tiêu dùng về
nhu cầu hiện tại cũng như tương lai. Cuộc điều tra nhu cầu được thực hiện bởi những
nhân viên bán hàng hoặc nhân viên nghiên cứu thị trường. Họ thu thập ý kiến khách
hàng thông qua phiếu điều tra, phỏng vấn trực tiếp hay điện thoại Cách tiếp cận này
không những giúp cho doanh nghiệp về dự báo nhu cầu mà cả trong việc cải tiến thiết
kế sản phẩm. Phương pháp này mất nhiều thời gian, việc chuẩn bị phức tạp, khó khăn
và tốn kém, có thể không chính xác trong các câu trả lời của người tiêu dùng.
1.2.4.2 Phương pháp dự báo định lượng
Mô hình dự báo định lượng dựa trên số liệu quá khứ, những số liệu này giả sử

+ Đối với dự báo theo năm: từ 1 đến 5 năm
+ Đối với dự báo quý: từ 1 hoặc 2 năm
+ Đối với dự báo tháng: từ 12 đến 18 tháng
- Thứ hai: Người sử dụng và người làm dự báo phải thống nhất tính cấp thiết của
dự báo
• Bước 4: Xem xét dữ liệu
- Dữ liệu cần để dự báo có thể từ 2 nguồn: bên trong và bên ngoài
- Cần phải lưu ý dạng dữ liệu sẵn có ( thời gian, đơn vị tính,…)
- Dữ liệu thường được tổng hợp theo cả biến và thời gian, nhưng tốt nhất là thu
thập dữ liệu chưa được tổng hợp
- Cần trao đổi giữa người sử dụng và người làm dự báo
• Bước 5: Lựa chọn mô hình
- Làm sao để quyết định được phương pháp thích hợp nhất cho một tình huống
nhất định?
+ Loại và lượng dữ liệu sẵn có
+ Mô hình (bản chất) dữ liệu quá khứ
+ Tính cấp thiết của dự báo
+ Độ dài dự báo
+ Kiến thức chuyên môn của người làm dự báo
• Bước 6: Đánh giá mô hình
- Đối với các phương pháp định tính thì bước này ít phù hợp hơn so với
phương pháp định lượng
- Đối với các phương pháp định lượng, cần phải đánh giá mức độ phù hợp của
mô hình (trong phạm vi mẫu dữ liệu)
- Đánh giá mức độ chính xác của dự báo (ngoài phạm vi mẫu dữ liệu)
- Nếu mô hình không phù hợp, quay lại bước 5
• Bước 7: Chuẩn bị dự báo
- Nếu có thể nên sử dụng hơn một phương pháp dự báo, và nên là những loại
phương pháp khác nhau (ví dụ mô hình hồi quy và san mũ Holt, thay vì cả 2 mô hình
hồi quy khác nhau)

- Các quyết định trực giác là các quyết định xuất phát từ trực giác của con người
- Các quyết định lý giải là các quyết định dựa trên sự nghiên cứu và phân tích có
hệ thống một vấn đề
2.2.2 Theo tính chất của quyết định
- Quyết định về sản phẩm
- Quyết định về giá cả của sản phẩm
-Quyết định về thị trường
2.2.3 Xét theo tầm quan trọng của quyết định
- Quyết định chiến lược ( ví dụ quyết định xây dựng doanh nghiệp mới và quyết
định mua doanh nghiệp khác)
- Quyết định sách lược là để khai thác hết tiềm năng của doanh nghiệp
- Quyết định ác nghiệp là những quyết định dùng để khai thác các quyết định
chiến lược
2.2.4 Xét theo thời gian
-
Quyết định dài hạn thường từ 5 năm trở lên
-
Quyết định trung hạn thường từ 1 đến dưới 5 năm
-
Quyết đinh ngắn hạn là những quyết định thực hiện từ 1 tháng, 1 quý hoặc 1
năm
2.3 Các yêu cầu đối với quyết định trong quản trị kinh doanh
2.3.1 Tính khoa học
Các quyết định là những cơ sở cho việc đảm bảo tính hiện thực và hiệu quả của
việc thực hiện chúng, cho nên các quyết định không được chủ quan tùy tiện, thoát
ly thực tế. Vì quyết định là sản phẩm chủ quan sáng tạo của con người, do đó việc
bảo đảm tính khách quan không đơn giản, nhất là trong những trường hợp việc
thực hiện các quyết định có liên quan đến lợi ích của người ra quyết định
Tính khoa học của các quyết định là sự thể hiện cửa những cơ sở, căn cứ, thông
tin, nhận thức, kinh nghiệm của nhà quản trị trong việc xử lý, giải quyết những

- Quyết định quản trị kinh doanh khi đưa ra còn phải xuất phát từ thực tế của
cạnh tranh trên thị trường mà doanh nghiệp là một trong những bên tham dự: rõ
ràng doanh nghiệp làm ra những sản phẩm chất lượng thấp , giá thành cao thì khó
có thể tồn tại so với các doanh nghiệp cạnh tranh có chất lượng sản phẩm cao hơn,
giá thành thấp hơn
- Quyết định quản tị kinh doanh còn phải được đưa ra dựa trên yếu tố thời cơ và
thời gian
2.5 Quá trình ra quyết định
Quá trình ra quyết định bao gồm các bước sau:
-
Sơ bộ đề ra nhiệm vụ: Muốn đề ra nhiệm vụ, trước hết cần phải xác định:
Vì sao phải đề ra nhiệm vụ, nhiệm vị đó thuộc loại nào, tính cấp bách của nó, tình
huống trong sản xuất- kinh doanh có liên quan đến nhiệm vụ đề ra, khối lượng
thông tin cần thiết đã có để đề ra nhiệm vụ, cách thu thập những thông tin còn
thiếu
-
Chọn tiêu chuẩn đánh giá các phương án: Thực hiện mục đích đề ra cần phải
có tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả
Tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả: sơ lượng và chất lượng, phản ánh đầy đủ kết quả dự
tính sẽ đạt
Chi phí nhỏ nhất, năng suất cao nhất, sử dụng thiết bị nhiều nhất, sử dụng vốn sản
xuất tốt nhất
-
Thu thập thông tin để làm rõ nhiệm vụ đề ra
-
Chính thức đề ra nhiệm vu: Bước này có ý nghĩa rất quan trọng để đề ra quyết
định đúng đắn. Chỉ có thể chính thức đề ra nhiệm vụ sau khi đã xử lý thông tin
thu được do kết quả nghiên cứu
-
Dự kiến các phương án có thể

-
Có những thay đổi đột ngột do nguyên nhân bên ngoài gây ra
-
Có sai lầm nghiêm trọng trong bản thân quyết định và một số nguyên nhân
khác. Không nên do dự trong điều chỉnh quyết định khi một số tình huống đã
hình thành làm cho một quyết định trước đây mất hiệu lực, không còn là một
nhân tố tổ chức mà trái lại trên một chừng mực nào đó đang trở thành một
nhân tố phá hoại
2.6.4 Tổng kết việc thực hiện ra quyết định
Đây là một yếu tố quan trọng trong công tác quản trị doanh nghiệp
Trong mọi trường hợp bất kể cac quyết định có được thực hiện đầy đủ và đúng
hạn hay không đều cần tổng kết các kết quả thực hiện quyết địn. Qua việc tổng kết
các kết quả, các tập thể biết được họ đã làm như thế nào, làm phong phú kho tàng
kinh nghiệm quản lý, kiểm tra hiệu quả của cách đề ra các cách thực hiện quyết
định quản lý. Trogn quá trình tổng kết các kết quả, cần xem xét chu đáo tất cả các
giai đoạn công tác, phân tích rõ tất cả những thành công cũng như những sai lầm
thiết sót, phát hiện các tiềm năng chưa được sử dụng: hệ thống các chỉ tiêu và
nhân tố của hoạt đọng kinh tế, mối liên hệ qua lại và sự phụ thuộc lẫn nhau giữa
chúng. Khi tổng kết cần xây dựng kế hoạch tổng hợp, lựa chọn và tra những
thông tin cần thiết, phân tích và so sánh các chỉ tiêu kinh tế- kỹ thuật, tìm ra
nguuyeen nhân thành công hay thất bại và đánh giá tổng hợp
2.7 Các trở ngại khi ra quyết định
Các trở ngại thường xảy ra là sự thiếu chuẩn xác, thiếu đồng bộ hay bất hợp lý của
hệ thống luật pháp nhà nước, mâu thuẫn giữa tham vọng và khả năng có hạn, sự
biến động hàng ngày của thị trường
2.8 Các phương pháp ra quyết định
2.8.1 Trường hợp có đủ thông tin
Việc ra quyết định sử dụng các công cụ của toán kinh tế
2.8.1.1 Các mô hình thống kê
Bao gồm các mô hình toán xử lý các bài toán quản trị kinh doanh mà các thông tin

4 điểm, nhóm 3 được 2
1
=2 điểm, nhóm 4 được 2
0
=1 điểm
-
Bước 4: Cộng ma trận so sánh hệ số quan trọng, hiệu quả và hiện thực giữa các
sản phẩm với nhau. P1 với P3 sẽ được hệ số quan trọng so sánh là r
13
-
Bước 5: Nhân hệ số r
ij
tương ứng với các điểm số của từng sản phẩm đã tính ở
trên rồi cộng cột ta sẽ tu được một chuỗi 8 số liệu cho tương ứng với tầm quan
trọng tổng thể cua r8 sản phẩm
b) Trường hợp có rất ít thông tin hoặc không có thông tin
Người lãnh đạo phải sử dụng kết hợp 2 phương pháp: cây đồ thị hoặc cây mục tiêu
và các phương pháp ngoại cảm để xử lý
-
Phương pháp cây đồ tâm lý
Đó là sử dụng những thông tin về tâ lý cá nhân, về đặc điểm nhân cách, tác phong
làm việc mà thủ lĩnh hoặc các nhà lãnh đạo có thể lực của các tổ chức ( mà các tổ
chức đang nghiên cứu quan tâm) để tiên liệu các khả năng hoạt động của các tổ
chức
-
Phương pháp ngoại cảm cua con người
Đó là khả năng tự cân nhắc, tự chịu trách nhiệm của người lãnh đạo khi phải ra
các quyết định có tính thời điểm mà thông tin có quá ít, hoặc quá nhiều hoặc quá
phân vân.
-

%
+ Bước 7: Tìm “biến quái” lẻ ở hào động nào thì chuyển từ âm sang dương, từ
dương sang âm
+ Bước 8: Tìm “thể” và “dụng” của chánh quái. Quẻ đơn ở nửa chứa hào động
được gọi là “dụng” ( biểu thị chủ thể mối quan hệ, chỉ bản thân người đang lựa
chọn việc ra quyết định quản trị), quẻ đơn ứng với nửa còn lại gọi là “ thể” ( chỉ
khách thể của mối quan hệ)
+ Bước 9: Suy đoán để đưa ra quyết định
Toàn bộ quá trình xử lý có thể được lập trình trên máy vi tính giúp cho việc ra
quyết đinh nhanh gọn, chính xác, bảo mật và văn minh
CHƯƠNG 2: PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG VỀ HỆ THỐNG THÔNG TIN,
PHƯƠNG TIỆN TRUYỀN THÔNG TIN
VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA THÔNG TIN
2.1 Giới thiệu quá trình hình thành và phát triển của công ty
Công ty bánh kẹo Hải Hà là một doanh nghiệp nhà nước thuộc Bộ Công
nghiệp, chuyên sản xuất kinh doanh bánh kẹo, chế biến thức phẩm do
Nhà nước đầu tư và quản lý chủ sở hữu. Công ty là đơn vị chuyên ngành
có quy mô lớn nhất nước ta hiện nay. Được thành lập năm 1960 đên nay
bước sang tuổi 44.
Trụ sở Công ty đặt tại: số 25 Trương Định – quận Hai Bà Trưng – Hà Nội
Tên giao dịch: HAIHA COFETIONERY COMPANY
Viết tắt: HAIHACO
Sau một chặng đường rất khó khăn, đến nay Hải Hà đã và đang có một
chỗ đứng khá vững trong tâm lý người tiêu dùng sản phẩm của Công ty
đang rất được ưa chuộng và đã được tiêu thụ cả ở trong nước cũng như
nước ngoài . Để đạt được kết quả như ngày hôm nay, công ty phải trải qua
nhiều khó khăn . Công ty đã trải qua các giai đoạn sau:
• Giai đoạn 1959 – 1961:
Tháng 11/1959 Tổng công ty nông thổ sản Miền Bắc đã xây dựng một
cơ sở thực nghiệm hạt trân châu với 9 cán bộ công nhân viên của Tổng

xuất khẩu Hải Hà thuộc Bộ nông nghiệp và công nghiệp thực phẩm
quản lý . Sản phẩm của công ty không những được tiêu dùng trong
nước mà con được tiêu thụ ở cả nước ngoài. Tốc độ tang sản lượng
hàng năm của công ty đạt từ 1% - 15%, sản xuất từ chỗ thủ công đã
dần được cơ giới 70% - 80% với số vốn nhà nước giao từ ngày
1/1/1991 là 5 454 000 000 đồng
• Giai đoạn 1992 – nay:
Tháng 1/ 1992 nhà máy do Bộ công nghệ quản lý
Tháng 7/ 1992 nhà máy được quyết định đổi tên thành Công ty bánh
kẹo Hải Hà .
Trong tình hình có sự biến động lớn của thị trường, việc chuyển đổi
sang cơ chế mới có rất nhiều khó khăn, không ít các doanh nghiệp đã
không đứng vững nhưng Hải Hà vẫn tồn tại và ngày càng phát triển .
Điều đó phần nào thể hiện sự đúng đắn về mọi mặt của công ty bánh
kẹo Hải Hà . Đó chính là sự phù hợp sản phẩm của công ty đối với thị
hiếu người tiêu dùng .
Năm 1993, công ty thành lập liên doanh Hải Hà – Kotobuki . Sản
phẩm chủ yếu là kẹo cứng, snack, cookies, kẹo cao su . Đến nay liên
hoạt hoạt động rất hiệu quả .
Năm 1995, thành lập công ty liên doanh mỳ chính Miwon Việt Trì .
Năm 1996, thành lập liên doanh thứ ba là Hải Hà – Kamedanhng rất
tiếc công ty liên doanh này đã hoạt động kém hiệu quả, giải thể vào
tháng 11/1998 .
Uy tín của công ty theo thời gian tăng lên, cho tới nay công ty đã có 5
xí nghiệp thành viên, 2 công ty liên doanh với tổng số cán bộ từ chỗ
chỉ có 9 người đã lên tới 2000 người, có quy mô trang thiết bị tương
đối hiện đại. Công ty là doanh nghiệp nhà nước có tư cách pháp nhân,
hạch toán kinh tế độc lập, được mở tài khoản ở ngân hàng và sử dụng
con dấu riêng theo quy định của nhà nước. Hải Hà đã, đang và sẽ có
một ví thế cao trên thương trường .

những quyết định của nhà quản trị một cách nhanh và hiệu quả
nhất. Bằng chứng là công ty được lọt vào Topten “ Hàng Việt
Nam chất lượng cao” do người tiêu dùng Việt Nam bình chọn
2.2.2 Cơ cấu sản xuất
Cơ cấu sản xuất của công ty được chuyên môn hóa tới từng xí nghiệp,
mỗi xí nghiệp được phân công chế biến những sản phẩm nhất định và
tổ chức sản xuất theo phương pháp dây chuyền liên tục. Sự mạnh dạn
đổi mới mô hình cơ cấu tổ chức sản xuất được công ty thực hiện năm
1995:
- Tập trung 3 phân xưởng sản xuất kẹo thành xí nghiệp kẹo
- Tập trung 2 phân xưởng sản xuất bánh thành xí nghiệp bánh
- Tập trung các bộ phận in hộp, cắt giấy, nề mộc, cơ điện… thành xí
nghiệp phụ trợ
- Sát nhập Nhà máy thực phẩm Việt Trì vào công ty
- Sát nhập Nhà máy bột dinh dưỡng vào công ty
2.3 Đặc điểm kinh tế - kỹ thuật của công ty
2.3.1 Tình hình lao động của công ty
Đặc điểm sản xuất của công ty là lao động nhẹ nhàng, đòi hỏi sự khéo léo
của người lao động nên lao động nữ chiếm tỷ trọng lớn khoảng 80%.
Trong những năm qua lực lượng lao động của công ty không ngừng lớn
mạnh cả về số lượng lẫn chất lượng. Từ một doanh nghiệp nhỏ có số lao
động ít ỏi thì đến nay con số này lên tới gần 2000 lao động . Điều này cho
thấy trong những năm qua công ty hoạt động rất có hiệu quả, từ đó dẫn tới
mở rộng hoạt động sản xuất . Số lượng cán bộ công nhân viên được bố trí
như sau:
Bảng 1: Số lượng và cơ cấu lao động của công ty
STT Nội dung
Tổng
số
Hành


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status