NHỮNG ĐẶC ĐIỂM CƠ BẢN TRONG “HÌNH THÁI XÃ HỘI” CỦA PHƯƠNG THỨC SẢN XUẤT CHÂU Á - Pdf 28

1

MỤC LỤC
MỤC LỤC 1
DẪN LUẬN 2
Chương1. NHỮNG ĐẶC ĐIỂM CƠ BẢN TRONG “HÌNH THÁI XÃ HỘI” CỦA PHƯƠNG
THỨC SẢN XUẤT CHÂU Á (VỚI TÍNH CHẤT NHƯ MỘT HÌNH THÁI KINH TẾ - XÃ HỘI) 3
1.1. Những vấn đề cơ bản của phương thức sản xuất Châu Á 3
1.1.1. Lược khảo khái luận phương thức sản xuất Châu Á của Các Mác – Ănghen 3
1.1.2. Xuất xứ của khái luận phương thức sản xuất Châu Á 5
1.1.3. Những đặc trưng cơ bản của phương thức sản xuất Châu Á 6
1.2. Hình thái xã hội của “phương thức sản xuất chấu Á” 9
Chương 2. NHỮNG ĐẶC ĐIỂM CỦA HÌNH THÁI XÃ HỘI VIỆT NAM GIAI ĐOẠN CỔ -
TRUNG ĐẠI 11
2.1. Xã hội Việt Nam thời kì Văn Lang – Âu Lạc và Bắc thuộc 11
2.1.1. Thời kì Văn Lang – Âu Lạc 11
2.1.2. Thời Bắc thuộc 13
2.2. Xã hội Việt Nam trong thời kì dân tộc tự chủ từ thế kỉ X-XIV 18
2.2.1. Đại Cồ Việt thời Đinh (939 – 980) 18
2.2.2. Đại Cồ Việt thời Tiền Lê (980 – 1009) 19
2.2.3. Đại Việt thời Lý 21
2.2.4. Đại Việt thời Trần 23
2.3. Xã hội Việt Nam trong thời kì phát triển mạnh mẽ của chế độ phong kiến từ thế kỉ XV-
XIX 27
2.3.1. Thời Hậu Lê 27
2.3.2. Thời Nguyễn 30
TỔNG LUẬN 33
TÀI LIỆU THAM KHẢO 34

Ănghen
Mầm mống của khái niệm “Phương thức sản xuất châu Á” xuất phát từ một đoạn
văn trong bài tựa cuốn sách “Phê phán chính trị kinh tế học” của Mác viết năm 1859. Trong
đoạn văn ấy, Mác nhận định: “Về đại thể, có thể coi các phương thức sản xuất Châu Á, cổ
đại, phong kiến và tư sản hiện đại là những thời đại tiến triển dần dần của hình thái kinh tế
xã hội” (C.Mác – Ănghen, Tuyển tập, tập1, trang 578).
Mác chỉ phát biểu một cách đại thể như thế và cũng chỉ phát biểu một lần. Ở đây
cũng như trong toàn bộ tác phẩm trước Mác không hề xác định phương thức sản xuất Châu
Á là phương thức sản xuất của giai đoạn lịch sử nào của Châu Á, phong kiến hay nô lệ hay
công xã nguyên thuỷ mặc dù Mác luôn luôn nói đến Châu Á và đề cập đến nhiều vấn đề
Châu Á. Mãi tới 50 năm sau khi Mác phát biểu, khái niệm phương thức sản xuất Châu Á
mới lại được nhắc tới.
Khái niệm khoa học do Mác đề ra đầu tiên để biểu thị một số đặc thù của xã hội
phương Đông cổ xưa. Trong lời tựa tác phẩm “góp phần phên phái khoa kinh tế chính trị”
xuất bản năm 1859, Mác coi phương thức sản xuất Châu Á cùng với cổ đại, phong kiến và
tư sản hiện đại là những thời đại tiến triển dần dần của hình thái kinh tế xã hội. Mác cùng
với Ănghen đã nghiên cứu lịch sử phương Đông thời trước chủ nghĩa thực dân và tái hiện
nhiều đặc điểm quan trọng của xã hội phương Đông như vai trò của thuỷ lợi trong phát
triển nông nghiệp và hình thành nhà nước, sự bảo tồn lâu dài của công xã nông thôn kiểu
Á châu, hình thái sở hữu nhà nước về ruộng đất, đặc điểm của thành thị và mối quan hệ
mật thiết, không tách rời giữa thành thị và nông thôn, sự hình thành sớm nhà nước quân
chủ tập quyền phát triển theo xu hướng chuyên chế, tình trạng trì trệ vào cuối thời trung
đại… Nhưng Mác – Ănghen chưa đưa ra một kết luận rõ ràng phương thức sản xuất Châu
4

Á có phải là một hình thái kinh tế - xã hội hay không. Vì vậy đã diễn ra cuộc tranh luận về
phương thức sản xuất Châu Á vào cuối những năm 20 đầu những năm 30 ở Liên Xô và
những năm 60 thế kỉ XX ở Pháp rồi lan rộng ra nhiều nước ở Châu Âu, Á, Phi, Mỹ… Trong
tranh luận, hình thành hai xu hướng chủ yếu: Phương thức sản xuất Châu Á là những nét
đặc thù của hình thái kinh tế - xã hội chiếm hữu nô lệ hay phong kiến ở phương Đông;

ra khái niệm phương thức sản xuất Châu Á, coi như một trong những phương thức sản xuất
có trong lịch sử loài người.
1.1.2. Xuất xứ của khái luận phương thức sản xuất Châu Á
Khái luận phương thức sản xuất Châu Á của Mác và Enghen được đúc kết từ ba
nguồn ý tưởng:
Lý luận của các nhà kinh tế học quốc gia thửơ ấy như Streat Mill và Riched Jones
mà Mác đã nghiên cứu vào năm 1853 và sử dụng những khái niệm của họ.
Kiến thức lấy từ các kí sự chuyên đề các xứ phương Đông.
Nguồn kiến thức từ những nghiên cứu về các cộng đồng xóm làng của nhiều xứ
khác trên thế giới mà hai ông đã đặt trọng tâm nghiên cứu vào ý nghĩa của các cộng đồng
này tại các nước phương Đông.
Những công trình nghiên cứu này là những đóng góp hỗ trợ cho công trình nghiên
cứu nền ngoại thương của Anh quốc và sự thịnh vượng kinh tế của xứ này. Thị trường
phương Đông đã trở thành khu vực ảnh hưởng tăng trưởng của nền công nghiệp Anh quốc.
Sự bành trướng xuất cảng hàng hoá Anh đã dẫn tới những xáo trộn sâu rộng nội tại của xã
hội phương Đông. Loạn Thái Bình thiên quốc ở Trung Hoa, cuộc nổi dậy Sepoy tại Ấn Độ
là những phản ứng trực tiếp hay gián tiếp vào quá trình giải thể đang tăng mạnh của các xã
hội trên. Với kiến thức khai phá, Mác và Enghen đã nghiên cứu thí điểm cấu trúc của các
xã hội Châu Á đang lâm vào quá trình tan rã. Từ đó hai ông đã phác thảo đại cương khái
luận phương thức sản xuất Châu Á.
6

1.1.3. Những đặc trưng cơ bản của phương thức sản xuất Châu Á
Những đặc trưng của phức thức sản xuất châu Á theo quan điểm của các tác gia kinh
điển (Mác - Ănghen):
Ở những tác phẩm khác nhau thì những phương sán xuất châu Á được Mác và
Ăngghen chỉ ra (không có tác phẩm riêng biệt nào bàn về phương thức sản xuất châu
Á).Tuy nhiên người ta thống nhất ở mấy đặc trưng sau:
Một, chế độ công xã nông thôn với tất cả sự trì trệ bảo thủ của nó (tiêu biểu nhất là
công xã nông thôn ở Ấn Độ)

qua ông vua chuyên chế và việc bóc lột địa tô của những nhà nước kiểu phương thức sản
xuất Châu Á và phân biệt nó với các phương thức bóc lột khác… sự chiếm hữu địa tô là
hình thái kinh tế dưới đó quyền sở hữu ruộng đất được thực hiện, và mặt khác địa tô giả
định đã phải có quyền sở hữu ruộng đất tức là giả định đã phải có một số người nào đó là
những kẻ sở hữu (bàn về các xã hội tiền tư bản, trang 237).
- Nhà nước chuyên chế cổ đại: Nhà nước thực hiện chuyên chế dựa trên quyền sở
hữu tối cao về ruộng đất được xác lập trên mối quan hệ kẻ thống trị là nhà vua và đẳng cấp,
giai cấp cầm quyền thu cống nạp, giai cấp bị trị nộp cống phẩm, nhà nước thực hiện ba
chức năng, ngoài việc bóc lột nhân dân trong nước bằng hình thức tô kết hợp với thuế làm
một và đi cướp bóc nhân dân các nước khác, chức năng tích cực là chăm lo xây dựng các
công trình mỹ quan và công cộng mà ở phương Đông quan trọng nhất là trị thuỷ, thuỷ lợi.
Với tư cách là kẻ sở hữu tối cao về ruộng đất, nhà nước trực tiếp giữ quyền phân
phối ruộng đất cho bất cứ ai, đồng thời nhà nước cũng can thiệp vào việc thúc đẩy sản xuất
nông nghiệp cấm bỏ hoang ruộng đất thực hiện di dân lập làng. Nhà nước quân chủ Châu
Á do quý tộc quan liêu nắm với tư cách là giai cấp bóc lột thu cống phẩm các công xã nông
8

thôn, lợi ích của nó gắn liền với sự tồn tại của công xã nông thôn. Vì vậy nhà nước bảo vệ
sở hữu công xã, bảo vệ người nông dân công xã khỏi rơi xuống thân phận nô lệ. Nhà nước
hạn chế sự cướp đoạt nông dân, hạn chế sự áp bức bóc lột của bọn quý tộc, quan lại nhằm
bảo vệ người đóng thuế, người đi lính, đi lao dịch cho nhà nước. Nhà nước thực hiện những
chức năng xã hội – xây dựng thuỷ lợi với quy mô lớn và điều khiển việc thuỷ lợi. Rõ ràng
chức năng thủy lợi của nhà nước quân chủ chuyên chế phương Đông là một nét đặc biệt,
nó có thể giải thích phần nào những đặc trưng của nhà nước phương Đông. Một nét chung
của nhà nước theo phương thức sản xuất Châu Á là sự thực hiện những chức năng xây
dựng công cộng. Ngoài thuỷ lợi, đê điều còn có việc mở mang đường giao thông xây cầu
cống, đào sông, xây dựng các công trình kiến trúc lớn như đền đài, cung điện, lăng tẩm quy
mô. Như Mác nói: Đó là nhờ có việc các nhà nước quân chủ phương Đông đã tập trung
trong tay của cải và nhân công mới có thể tiến hành được.
- Công xã nông thôn: Với nền kinh tế tự nhiên, tự cấp tự túc khép kín, kinh tế hàng

nhất là phải chứng minh được “phương thức sản xuất châu Á tồn tại trong lịch sử nhân loại
như một kiểu hình thái kinh tế - xã hội độc lập, ngang hàng với các hình thái kinh tế - xã
hội đã được chứng minh và khẳng định (như chiếm hữu nô lệ, phong kiến hay tư bản chủ
nghĩa). Chỉ có như vậy, chúng ta mới có thể sử dụng một cách khoa học thuật ngữ “hình
thái”.
Và như những gì đã trình bày trong phần các đặc trưng của “phương thức ản xuất
châu Á”, chúng ta có thể dễ dàng nhìn nhận các đặc trưng ấy trải rộng trên tất cả các lĩnh
vực của đời sống con người (kinh tế, văn hóa, chính trị, xã hội. Cụ thể, có thể gom các đặc
trưng ấy và chia lại như sau:
-Về chính trị: Sự tồn tại của Nhà nước chuyên chế đối với quyền lực tối cao nằm
trong một cá nhân người.
-Về xã hội: Sự tồn tại dai dẳng của công xã nông thôn và sự khắc nghiệt của chế độ
đẳng cấp.
10

-Về kinh tế: Sự phổ biến của sở hữu tập thể về ruộng đất mà người đứng đầu là nhà
vua và không có chế độ tư hữu về ruộng đất.Phát triển công nghiệp và nông nghiệp không
tách rời nhau.Thành thị chậm ra đời và hình thức bóc lột theo kiểu cống nạp.
-Về văn hoá: Ảnh hưởng nặng nề bởi tôn giáo.
Mặc dù phương thức sản xuất châu Á đã Mác- Ăngghen nói tới cách đây hàng thế
kỉ, song đến nay vẫn còn rất nhiều ý kiến, quan điểm của các nhà nghiên cứu trong và ngoài
nước về vấn đề này.
Rõ ràng, với việc tìm ra đặc điểm của “phương thức sản xuất châu Á” trên tất cả các
lĩnh vực từ cơ sở hạ tầng đến kiến trúc thượng tầng, chúng ta có một cơ sở vững chắc để
khẳng định đây thực sự là một hình thái kinh tế - xã hội riêng biệt từng tồn tại trong lịch
sử phát triển của xã hội loài người.
Vậy, những đặc điểm cơ bản của hình thái xã hội thời kì này là gì, cũng từ những
đặc trưng đã nêu trên, chúng ta cũng có thể chỉ ra những đặc điểm của xã hội trong “phương
thức sản xuất châu Á”.
Thứ nhất, đây chắc chăn slà một xã hội đã phân chia giai cấp. Bởi lẽ, phương thức

Chương 2. NHỮNG ĐẶC ĐIỂM CỦA HÌNH THÁI XÃ HỘI VIỆT NAM GIAI
ĐOẠN CỔ - TRUNG ĐẠI
2.1. Xã hội Việt Nam thời kì Văn Lang – Âu Lạc và Bắc thuộc
2.1.1. Thời kì Văn Lang – Âu Lạc
Phương thức sản xuất châu Á có từ thời Văn Lang (thế kỷ VII TCN. Đồng chí Phạm
Văn Đồng đã có những hướng dẫn quan trọng về vấn đề phương thức sản xuất Châu Á,
trong đó người đã nói: “Nghiên cứu về giai đoạn lịch sử Hùng Vương, nếu chúng ta làm
tốt hoặc là có những tài liệu đích đáng, có thể chúng ta dựa được vào đây để tìm ra một đôi
ánh sáng về vấn đề cực kì quan trọng đó là vấn đề phương thức sản xuất Châu Á” hay vào
những năm đầu 70, Phan Huy Lê cùng với Chữ Văn Tần sau khi phân tích tình hình của
sức sản xuất, quá trình phân hóa xã hội đã nêu lên những đặc điểm của kết cấu kinh tế xã
hội và tổ chức nhà nước phôi thai thời Hùng Vương và đi đến nhận xét: “Đó là một xã hội
12

có giai cấp sơ kì với những nét đặc trưng của hình thái Á châu, đó không phải là xã hội
chiếm hữu nô lệ mà thuộc hình thái kinh tế xã hội của phương thức sản xuất Châu Á”. ).
Sau khi nghiêm cứu về hình thái xã hội thời Văn Lang- Âu Lạc thì có thể nhận thấy hình
thái xã hội thời kỳ này biểu hiện ở những đặc trưng về công xã nông thôn, chế độ sở hữu
tập thể về ruộng đất, sự bóc lột theo kiểu cống nạp, sự không tách rời giữa thủ công nghiệp
và nông nghiệp, hình thành các tầng lớp xã hội…
Xã hội thời Hùng Vương đã có sự phân chia giai cấp tầng lớp. Vào giai đoạn cuối,
tồn tại 3 tầng lớp xã hội: Tầng lớp quý tộc, tầng lớp nô tỳ, và tầng lớp dân tự do của công
xã nông thôn. Tuy nhiên sự phân chia này chưa dẫn tới sự khắc nghiệt của chế độ đẳng
cấp. Thời kỳ nhà nước Văn Lang mới chỉ hình quan hệ bóc lột phong kiến, chưa có sự
chuyên chế với quyền lực tối cao nằm trong tay vua. Tầng lớp quý tộc là những người
thống trị, vốn là những quý tộc bộ lạc, gồm các tộc trưởng, tù trưởng bộ lạc, thủ lĩnh liên
minh bộ lạc…Tầng lớp nô tỳ ở vào địa vị thấp nhất trong xã hội, là những thành viên công
xã nghèo khổ hay vi phạm tục lệ công xã, hoặc có thể là người ngoại tộc bị bắt làm nô tỳ.
Họ có thể tham gia sản xuất ít nhiều, nhưng chủ yếu là phục dịch trong các gia đình quý
tộc. Tầng lớp dân tự do của công xã nông thôn giữ vai trò lực lượng sản xuất chủ yếu. Họ

hướng này là việc Khâu Hoà (Giao Châu Đại Tổng quản của nhà Đường) hồi đầu thế kỷ
thứ VII đã đề ra chính sách khuôn làng Việt vào mô hình thống trị của Trung Quốc: Đặt ra
hương (trong đó tiểu hương có từ 70 đến 150 hộ và đại hương có từ 160 đến 540 hộ) và
dưới hương là xã (gồm tiểu xã từ 10 đến 30 hộ và đại xã từ 40 đến 60 hộ). Nhưng trong
thực tế phong kiến Trung Quốc đã không thành công. Tuy từ đầu Công nguyên chế độ Lạc
tướng đã bị xoá bỏ và chính quyền đô hộ đã nắm giữ được cấp huyện, nhưng nó vẫn không
thể khống chế nổi cơ sở hạ tầng của xã hội Việt cổ là các công xã (tức là các xóm làng).
Người Việt suốt thời kỳ thống trị của phong kiến phương Bắc đã không ngừng bảo tồn và
củng cố cộng đồng xóm làng, biến xóm làng của mình thành những pháo đài chống Bắc
thuộc, chống đồng hoá, dựa vào làng và xuất phát từ làng mà đấu tranh giành lại nước.
Công xã nông thôn Việt Nam với kết cấu bền chặt của nó không những không bị giải thể
mà trái lại có mặt còn được củng cố trong nghìn năm chống Bắc thuộc. Tuy vậy phong
14

kiến phương Bắc vẫn ra sức củng cố, tổ chức bộ máy cai trị trên đất nước ta, quản lý đi từ
chỗ lỏng lẻo đến chặt chẽ.
Khi chuyển dần sang xã hội có giai cấp, ruộng đất tư từng bước xuất hiện và lấn át
công điền. Sự phân hóa giai cấp làm nảy sinh tình trạng kẻ giàu có, có quyền thế đã chiếm
hữu nhiều đất đai, và kẻ nghèo hèn sa sút thì không có một tấc đất cắm dùi. Chế độ công
hữu ruộng đất ở Việt Nam tồn tại dai dẳng, lâu dài, song song với chế độ tư hữu thường
đân xen lẫn nhau ngay trong cùng một đơn vị (điều mà Mác và Ăngghen gọi là tính nhị
nguyên của chế độ sở hữu công xã nông thôn).
Để củng cố cơ sở vật chất cho chính quyền đô hộ và tăng cường sự bóc lột đối với
người dân, ngay từ thời Mã Viện cai quản Giao Châu đã xuất hiện hàng loạt trang trại của
các địa chủ Hán tộc. Đây là những quan lại, quí tộc TQ khi quyết định sinh cơ lập nghiệp
ở Giao Châu thường mang theo rất nhiều thuộc hạ mà người ta gọi là các “gia nô”, “gia
khách” hay “bôk khúc”. Phần lớn số họ là nững thành viên công xã, những nông dân bị
phá sản phải phụ thuộc vào chủ nhân là những quan lại, quý tộc. Với lực lượng sẵn có, lại
dựa vào sự ủng hộ của chính quyền thống trị Giao Châu, bọn quan lại, quý tộc TQđã tiến
hành chiếm đoạt ruộng đất của nông dân bản xứ, đồng thời khai khẩn, mở rộng them diện

Hình thức cống nạp trong giai đoạn này chưa được quy định rõ về định mức, mà nó
phụ thuộc vào tình hình thực tế ở địa phương. Chính vì vậy, bọn quan lại cấp châu, quận
nhân cơ hội cần thu gom sản vật tiến cống mặc sức vơ vét, chiếm đoạt của cải của người
dân. Hậu Hán thư có chép về tình trạng này: “Xưa đất Giao Chỉ có nhiều sản vật quý, ngọc
minh cơ, lông trả, sừng tê, ngà voi…thứ gì cũng có. Các Thứ sử trước sau phần lớn không
thanh liêm, trên thì bỡ đỡ kẻ quyền quý, dưới thì thu vét của cải của dân, đến khi đày túi
tiền thì xin dời đổi” . Cũng theo Hậu Hán thư thời Đông Hán, Giao Châu luôn phải cống
vải, nhãn cùng các thứ đồ tươi sống.
16

Thời Sĩ Nhiếp: Các mặt hàng thủ công Giao Châu với nguồn nguyên liệu lạ luôn là
thứ đồ ưa thích của các vua chúa và quan lại TQ. Giao Châu đã từng phải cống vải dệt bằng
tơ chuối, lấy từ vỏ và lá trầm hương…
Đời Tống, Tề, Giao Châu vài năm phải cống mũ Đâu mâu bằng bạc. các loại súc vật
phương nam cũng được liệt kê. Thời Tam quốc, Sĩ Nhất em trai Sĩ Nhiếp cống cho vua
Ngô mấy tram con ngựa, rồi voi được thuần phục, gà có tiếng gáy dài…
Người dân Giao Châu không chỉ nộp cống vật mà còn phải đi lao dịch để chuyên
chở những cống vật ấy về triều đình TQ.
Bên cạnh hình thức bóc lột bằng cống nạp, từ thời Đông Hán đến Lục triều, Giao
Châu còn phải chịu sự bóc lột bằng tô, thuế của chính quyền đô hộ phương Bắc. Theo ý
kiến các nhà nghiên cứu, có thể phương thức bóc lột bằng tô thuế đã xuất hiện vào cuối
thời Tây Hán, bởi đầu thời Tây Hán theo Hán thư ở Giao Châu vẫn chưa có thuế, nhưng
khi Hai Bà Trưng khởi nghĩa vào năm 40 (thời Đông Hán), đã xá thuế 2 năm cho dân.
Sau khi Đông Hán bình định được đất Giao Châu, việc bóc lột tô, thuế ngày càng
tang, từ chỗ nhà Hán vẫn phải chở lương thực để nuôi quân sĩ ở đây, đến thời điểm này số
thóc do bóc lột được bằng tô thuế đã đủ để nuôi toàn bộ quan lại, quân sĩ Giao Châu. Sử
cũ ghi rằng số thóc thuế mà chính quyền đô hộ thu được ở Giao Châu thời Đông Hán lên
tới 13.600.000 hộc tương đương 272.000 tấn thóc. Thóc lúa mà chính quyền Giao Châu có
được là do thu thuế các hộ làm nông nghiệp, còn ở vùng biển, các hộ đáng cá, làm muối,
mò ngọc…đều phải chịu mức thuế rất nặng.

vẫn là nông nghiệp trong các công xã nông thôn (kẻ, chạ, chiềng). Bên cạnh đó nền thủ
công nghiệp cổ truyền vẫn tiếp tục phát triển, kèm theo là một số truyền thống kĩ thuật và
kinh nghiệm sản xuất mới của người Hán. Về mặt xã hội, giai cấp thống trị, bên cạnh quý
tộc quan lại người Việt, còn có thêm tầng lớp quý tộc quan lại người Hán. Trong giai đoạn
đầu, chính quyền trung ương, chính quyền đô hộ bản địa, quý tộc, quan lại người Hán,
18

Việt, bóc lột trực tiếp theo nhu cầu, sau chuyển dần sang bóc lột bằng tô thuế theo hạn
định.
Như vậy, dẫn theo GS.Phan huy Lê đã khẳng định về sự tồn tại của phương thức
sản xuất châu Á trong lịch sử Việt Nam, ông cho rằng sau chế độ công xã nguyên thủy,
Việt Nam bước vào xã hội có giai cấp sơ kỳ mang đặc trưng “hình thái Á châu” hay phương
thức sản xuất châu Á, không qua thời kỳ chiếm hữu nô lệ, để sau đó tiến lên chế độ phong
kiến với những đặc điểm khác phương Tây .
Bước sang thế kỷ thứ X trở về sau, tình hình Việt nam có nhiều biến đổi làm cho
phương thức sản xuất châu Á cũng có những biểu hiện khác đi trong từng thời kỳ.
2.2. Xã hội Việt Nam trong thời kì dân tộc tự chủ từ thế kỉ X-XIV
Sang thế kỉ X, với ba triều đại: Ngô, Đinh, Tiền Lê, bộ máy nhà nước là chế độ quân
chủ chuyên chế trung ương tập quyền theo mô hình nhà Tống, nhưng chưa hoàn chỉnh và
cũng có một số khác biệt: Tính tập quyền còn thấp; chưa hoàn thành các cơ quan chuyên
trách như sau này; thành phần quan lại chủ yếu là võ tướng, vai trò quan văn còn mờ nhạt;
vai trò của các tăng quan, đạo quan rất lớn. Xã hội Việt Nam thế kỉ X là một xã hội mang
tính đẳng cấp, gồm: Đẳng cấp quý tộc (vua quan, quý tộc, hào trưởng); tầng lớp bình dân
(nông dân công xã); tầng lớp nô tỳ (không phổ biến). Tuy nhiên chưa có sự phân chia sâu
sắc, khắc nghiệt. Nhà nước là chủ sở hữu tối cao về ruộng đất và thu tô thuế, cống phẩm,
lao dịch của các làng xã. Trong kinh tế, bên cạnh nông nghiệp, thủ công nghiệp nhân dân,
còn xuất hiện chế độ quan xưởng (xưởng thủ công nhà nước) chuyên sản xuất đồ dùng cho
hoàng cung, lễ phục của quan lại, các loại vũ khí. Như vậy có thể thấy các đặc trưng của
phương thức sản xuất châu Á đã thể hiện trên các mặt chính trị, xã hội, kinh tế.
2.2.1. Đại Cồ Việt thời Đinh (939 – 980)

Đinh có những biến đổi nhanh hơn rõ nét hơn. Thời nhà Tiền Lê đạo Phật được coi là quốc
đạo, vì vậy các nhà sư là tầng lớp được xã hội trọng vọng. Tuy tiềm lực kinh tế của tầng
lớp này là khong lớn nhưng uy thế chính trị và vai trò của nó đối với xã hội là rất lớn. Tuy
20

không đông đảo nhưng là tầng lớp có sự chi phối về tư tưởng và tinh thần trong xã hội thời
Tiền Lê.
Với việc khai phá mạnh mẽ vùng đồng bằng châu thổ và ven biển cùng với việc
được ban cấp (do có công lao) đã làm xuất hiện một đôi ngũ các chủ trang trại. Tuy nhiên
các chủ trang trại vẫn còn rất ít. Đó chỉ là mầm móng ban đầu, chưa đủ để trở thành một
giai cấp phong kiến nắm quyền thống trị và chi phối xã hội. Phần lớn tầng lớp thống trị
mới này xuất thân từ những thổ hào, thủ lĩnh địa phương được nhà nước “giao” quyền cai
trị ở các địa phương. Và một số vốn là những công thần của triều đình được ban cấp…
Quyền lực, uy thế của tầng lớp này ngoài tiềm lực kinh tế còn phải dựa trên cơ sở tài năng,
đức độ, kinh nghiệm và có uy tín được xã hội kính phục. Nhìn chung các chủ trang trại,
chủ sở hữu tư nhân hãy còn bé nhỏ cả về số lượng lẫn chất lượng, chưa đủ để hình thành
một “giai cấp” nhưng đó là những tiền đề cơ bản để xác định vị trí và vai trò cảu tằng lớp
này trong xã hội.
Tuy có sự phân hóa đã bắt đầu với việc phân chia các giai tầng trong xã hội, nhưng
vào thời kỳ này, kinh tế nông nghiệp với chế độ sở hữu ruộng đất công vẫn chiếm ưu thế
tuyệt đối nên nông dân công xã là lực lượng lao động cơ bản va đông đảo nhất trong xã
hội. Với sự phát triển chung của đất nước, trong đó có nhu cầu xây dựng kiến thiết và giao
lưu với bên ngoài, một số người vốn xuất thân từ nông dân, nhưng có tay nghề và kih
nghiệm đã bát đầu hình thành các nhóm người chuyên làm nghề thủ công và thương mại.
tuy nhiên tầng lớp này số lượng rất ít và về cơ bản luôn gắn kết chặt chẽ với sản xuất nông
nghiệp. Trong xã hội Đại Cồ Việt thời Tiền Lê đã xuất hiện nhóm cư dân người Champa.
Họ là những tù binh và dân thừng bị bắt trong các cuộc hành quân bình Chiêm. Họ là tầng
lớp thấp nhất trong xã hội trong xã hội Đại Cồ Việt thời Tiền Lê.
Thời Tiền Lê chỉ có 28 năm, tuy phải tiến hành cuộc kháng chiến chống Tống, bình
Chiêm và trấn áp vài cuộc nổi dậy, nhưng nhìn chung là tình hình xã hội vẫn trong thế ổn

tư hữu hóa ruộng đất, giai cấp nông dân làng xã chia thành hia bộ phận: bộ phận nông dân
công xã và bộ phận nông dân tiểu tư hữu. Giai cấp quý tộc cũng tách ra, trong đó bộ phận
có thế lực về kinh tế đã bắt đầu hoạt động kinh doanh và dùng thế lực kiêm tính phần ruộng
22

đất công. Và lúc này họ cũng có thể đem tiền của ra để mua ruộng đất và trở thành địa chủ.
Nhưng đó chỉ là xu hướng chung, còn vào thời điểm này tầng lớp địa chủ vẫn còn ở mức
độ hạn chế, vì chế độ sở hữu ruộng đất mới chỉ phát triển ở giúa các khe hở của chế độ sở
hữu ruộng đất công xã và của nhà nước. Giai cấp địa chủ chỉ có điều kiện phát triển và dần
dần trở thành một giai cấp trong kết cấu xã hội khi mà nhà nước quân chủ có lệnh cho bán
công điền làm tư điền. Cho đến cuối thời Lý, trong xã hội đã hình thành hai giai tầng cơ
bản là địa chủ tư hữu và nông dân tiểu tư hữu. hai giai tầng này dần dần phát triển theo sự
phát triển của chế độ tư hữu ruộng đất và cho đến nữa cuối thế kỷ XVIII (thời Trần) trở đi,
nó mới trở thành một giai cấp.
Nhìn đại thể xã hội thòi Lý được phân theo hia giai tầng chính, đó là: Qúy tộc (vua,
quan) và Bình dân.
Vua là người có uy quyền tuyệt đối và vua là người đứng đầu triều đình cũng như
đứng đầu bộ máy chính quyền nhà nước.vua là người có toàn quyền quyết định về chính
trị, kinh tế, văn hóa của đất nước. Về kinh tế vua cũng là người tối thượng về sở hữu đất
đai và tài sản trong toàn quốc. chỉ có nhà vua mới có quyền phong cấp đất đai (ban thực
phong, thực ấp, thái ấp…) cho các quý tộc công thần. Và dưới vua có tầng lớp quý tộc,
quan liêu.
Tầng lớp bình dân, bình dân là tầng lớp đông đảo nhất trong xã hội thời Lý. Tuy
nhiên, khối quần chúng đông đảo này cũng không phải là thuần nhất mà được phân ra theo
nhiều thành phần xã hội với nhiều đị vị và thân phận khác nhau. Trong tầng lớp này cũng
boa gomog một số là dân thành thị, một bộ phận lớn là dân trong các làng xã vừa làm nông
nghiệp, vừa làm nghề thủ công. Ngoài ra còn có một số ít trong tầng lớp binh dân làm nghề
buôn bán nhỏ hoặc làm những nghề linh tinh khác. Đó là tầng lớp những người tích lũy
nhiều động sản trở thành những địa chủ bình dân phát canh thu tô và tầng lớp nông dân tự
canh và lĩnh canh theo kiểu tá điền. Nhưng xuất phát từ tình hình thực tế đó bộ phận ruộng

quý tộc đi trấn trị ở các địa phương quan trọng. và còn nhiều chế độ khác mà tầng lớp này
được triều đình ưu đãi. Dưới tầng lớp này là tầng lớp quan liêu là những trí thức nho học,
sau khi đỗ đạt, họ được triều đình trọng dụng, hợp thành đội ngũ quan lại phục vụ triều
24

đình. Tầng lớp người cao tuổi, ở buổi đầu nhà Trần, khi tính chất nhà nước quân chủ quý
tộc thịnh trị, vai trò của người cao tuổi rất lớn.
Tầng lớp nhà giàu, có thể gồm những địa chủ, những quan chức nhỏ ở địa phương,
thương gia và tiểu nông có ruộng tư. Và họ tồn tại trong xã hội như một thế lực, nên nhà
nước cũng có lúc cậy nhờ đến tài sản của họ, như huy động thóc gạo khi mất mùa đói kém
để cấp chẩn cho dân. Và với khả năng kinh tế của mình, họ đã chia sẻ được phần nào trách
nhiệm với cộng đồng và triều đình. Vai trò của họ trong xã hội như ghi chép trong chính
sử là tương đối quan trọng.
Tầng lớp nông dân, vì sản xuất nông nghiệp là chĩnh nên tầng lớp nông dân trong
xã hội chiếm số lượng đông đảo. họ làm việc trong các thái ấp, trong các làng xã. Nông
dân làng xã cày cấy trên bộ phận ruộng đất công thì có nghĩa vụ nộp tô thuế cho nhà nước.
nông dân làm việc trong thái ấp, thân phận của họ được tự do hơn nông nô, nô tỳ. triều
đình ban cấp thái ấp cho quý tộc tôn thất là phong cấp đât đai cùng hộ nông dân sống trên
phạm vi đất đai đó. Nông dân lao động cày cấy trên bộ phận ruộng đất đó có nghĩa vụ nộp
tô thuế cho chủ thái ấp. đồng thời thân phận của họ phụ thuộc vào chủ (nhưng không phải
là nông nô). Vì thế, lực lượng lao động trong thái ấp, phần lớn nguyên là nông dân tự canh
(tiểu nông) và số ít là nô tỳ khi có công việc theo hầu chủ còn lúc rãnh rỗi thì lao động sản
xuất. Vai trò của người nông dân đối với nhà nước là thực hiện nghĩa vụ công cộng như,
đào sông đắp đê, đồng thời một trong những nghĩa vụ không thể thiếu đó lag đóng thuế.
Trong suốt thời gian tồn tại triều Trần chỉ có một lần nhà nước điều chỉnh mức thuế do đó
mà thuế mà người nông dân phải gánh chịu nặng thêm. Đó là năm 1378, khi tình hình kinh
tế quốc gia gặp nhiều khó khăn, khủng hoảng kinh tế trầm trọng nhà nước đã ra lênh thu
thuế thân. Nông dân trong xã hôi thời Trần có nông dân tự do và nông dân ta điền. Nông
dâ có ruộng thì đóng thuế theo thứ bậc khác nhau, không có ruộng thì miễn cả. như vậy,
nông dân có ruộng là những nông dân khá giả hơn so với người không có ruộng. trong tầng

nhà nước có vai trò sở hữu tối cao và gián tiếp. Làng xã sở hữu trực tiếp nhưng có tính chất
tương đối (trong điều kiện nhất định nhà nước có quyền lấy ruộng đất của làng xã để ban
cấp cho quan lại). Làng xã phân cho dân đinh cày cấy, và thu tô thuế, làng xã là trung gian.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status