LỜI MỞ ĐẦU
Kinh tế xã hội ngày càng phát triển, các hoạt động kinh doanh đa dạng và
phong phú hơn. Do đó việc phân tích q trình hoạt động kinh doanh của doanh
nghiệp là một vấn đề cần thiết hiện nay. Kết quả phân tích khơng chỉ giúp cho doanh
nghiệp nắm bắt được tình hình hoạt động của cơng ty mà còn dùng để đánh giá dự
án đầu tư, tính tóan mức độ thành cơng trước khi bắt đầu ký kết hợp đồng.
Ngồi ra, việc phân tích tình hình hoạt động kinh doanh còn là một trong
những lĩnh vực khơng chỉ được quan tâm bởi các nhà quản trị mà còn nhiều đối
tựơng kinh tế khác liên quan đến doanh nghiệp. Dựa trên những chỉ tiêu kế hoạch,
doanh nghiệp có thể định tính trước khả năng sinh lời của hoạt động, từ đó phân tích
và dự đốn trước mức độ thành cơng của kết quả kinh doanh. Qua đó, hoạt động
kinh doanh khơng chỉ là việc đánh giá kết quả mà còn là việc kiểm tra, xem xét trước
khi bắt đầu q trình kinh doanh nhằm hoạch định chiến lược tối ưu.
Để đạt được kết quả cao nhất trong sản xuất kinh doanh, các doanh nghiệp
cần phải xác định phương hướng, mục tiêu trong đầu tư, biện pháp sử dụng các điều
kiện vốn có về các nguồn nhân tài, vật lực. Muốn vậy, các doanh nghiệp cần nắm
được các nhân tố ảnh hưởng, mức độ và xu hướng tác động của từng nhân tố đến kết
quả kinh doanh. Điều này chỉ thực hiện được trên cơ sở của phân tích kinh doanh.
Từ những cơ sở về phân tích kinh doanh trên, em nhận thấy việc phân tích
hoạt động kinh doanh đối với công ty Cổ phần Silk Road Hà Nội là một đề tài phù
hợp với công ty hiện nay. Nó góp phần giúp cho công ty hiểu được khả năng hoạt
động trong giai đoạn mới bắt đầu kinh doanh của mình và từ đó có kế hoạch
hoạch đònh chiến lược kinh doanh tốt nhất trong thời gian tới.
SVTH : Trần Quang Hữu 1
PHẦN I:
GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI
SVTH : Trần Quang Hữu 2
I. Mục tiêu của đề tài.
1. Hệ thống cơ sở lý luận về phân tích tình hình hoạt động kinh doanh tại cơng ty
CỔ PHẦN SILKROAD HÀ NỘI.
2. Nghiên cứu thực tế về tình hình hoạt động kinh doanh tại cơng ty CỔ PHẦN
PHN SILKROAD H NI.
Phn 5: Nhn xột v kin ngh.
VI. Cỏc ti liu tham kho:
Phõn tớch hot ng kinh doanh Trửụứng ẹaùi Hoùc Kinh teỏ TPHCM.
Cỏc chng t k toỏn ti cụng ty C phn Silkroad H Ni
Ti liu tham kho ti th vin trng i Hc Bỡnh Dng.
Tỡm hiu cỏc thụng tin trờn mng internet v ngnh ngh hot ng ca cụng
ty C phn Silkroad H Ni.
Thờm thụng tin b sung na
SVTH : Trn Quang Hu 4
PHẦN II:
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÂN
TÍCH TÌNH HÌNH HOẠT
ĐỘNG KINH DOANH
SVTH : Trần Quang Hữu 5
I. Những vấn đề cơ bản của việc phân tích hoạt động kinh doanh.
1. Khái niệm:
“Phân tích, hiểu theo nghĩa chung nhất là sự chia nhỏ sự vật và hiện tượng
trong mối quan hệ hữu cơ giữa các bộ phận cấu thành sự vật, hiện tượng đó”. (PGS.
TS. Phạm Thị Gái.2004. Phân tích hoạt động kinh doanh. NXB Thống Kê, Hà
Nội. Trang 5)
“Phân tích hoạt động kinh doanh là quá trình nghiên cứu để đánh giá toàn bộ
quá trình và kết quả của hoạt động kinh doanh; các nguồn tiềm năng cần khai thác ở
doanh nghiệp, trên cơ sở đó đề ra các phương án và giải pháp để nâng cao hiệu quả
hoạt động sản xuất kinh doanh của DN”. (TS. Trịnh Văn Sơn. 2005. Phân tích hoạt
động kinh doanh. Đại học Kinh tế Huế. Trang 4)
Phân tích hoạt động kinh doanh gắn liền với mọi hoạt động sản xuất kinh
doanh của con người. Ban đầu, trong điều kiện sản xuất kinh doanh chưa phát triển,
yêu cầu thông tin cho quản lý doanh nghiệp chưa nhiều, chưa phức tạp, công việc
phân tích cũng được tiến hành chỉ là những phép tính cộng trừ đơn giản. Khi nền
– nhu cầu để có nhận biết cải tạo chất lượng sản phẩm, dịch vụ và quy mô hoạt động
tốt nhất.
3. Vai trò.
Phân tích hoạt động kinh doanh là công cụ để phát hiện những khả năng tiềm
năng trong kinh doanh, mà còn là công cụ cải tiến quy chế quản lý trong công ty.
Bất kỳ hoạt động kinh doanh trong các điều kiện khác nhau như thế nào đi nữa,
cũng còn những tiềm ẩn, khả năng tiềm tàn chưa được phát hiện. Chỉ có thể thông
qua phân tích Doanh nghiệp mới có thể phát hiện được và khai thác chúng để mang
lại hiệu quả kinh tế cao hơn. Thông qua phân tích, doanh nghiệp thấy rõ nguyên nhân
cùng nguồn gốc của vấn đề phát sinh và có giải pháp cụ thể để cải tiến quản lý.
Phân tích hoạt động kinh doanh cho phép các nhà doanh nghiệp nhìn nhận đúng
đắn về khả năng sức mạnh cũng như hạn chế trong doanh nghiệp của mình. Chính
trên cơ sở này, doanh nghiệp sẽ xác định mục tiêu cùng các chiến lược kinh doanh
đúng đắn.
SVTH : Trần Quang Hữu 7
Phân tích hoạt động kinh doanh là cơ sở quan trọng để ra các quyết định kinh
doanh.
Phân tích hoạt động kinh doanh là công cụ quan trọng trong những chức năng
quản trị có hiệu quả của doanh nghiệp.
Phân tích là quá trình nhận thức hoạt động kinh doanh, là cơ sở quan trọng cho
việc ra quyết định đúng đắn trong chức năng quản lý, nhất là chức năng kiểm tra,
đánh giá, điều hành hoạt động kinh doanh để đạt mục tiêu kinh doanh.
Phân tích hoạt động kinh doanh là biện pháp quan trọng trong việc phòng ngừa
rủi ro.
4. Ý nghĩa:
Phân tích hoạt động kinh doanh là công cụ quan trọng để phát hiện khả năng
tiềm tàng trong hoạt động kinh doanh.
Thông qua phân tích hoạt động doanh nghiệp chúng ta mới thấy rõ được
các nguyên nhân, nhân tố cũng như nguồn gốc phát sinh của các nguyên nhân và
nhân tố ảnh hưởng, từ đó để có các giải pháp cụ thể và kịp thời trong công tác tổ
mua vào, bán ra từng thời gian trong năm cũng không đều nhau.
Việc chi tiết theo thời gian giúp đánh giá được nhịp điệu, tốc độ phát triển của
hoạt động sản xuất kinh doanh qua các thời kỳ khác nhau, từ đó tìm nguyên nhân và
giải pháp có hiệu lực để nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh.
Mặt khác, phân tích chi tiết theo thời gian cũng giúp ta nghiên cứu nhịp điệu
của các chỉ tiêu có liên quan với nhau như: Lượng hàng hoá mua vào, dự trữ với
lượng hàng bán ra; lượng vốn được cấp (huy động) với công việc xây lắp hoàn
thành; lượng nguyên vật liệu cấp phát với khối lượng sản phẩm sản xuất...Từ đó phát
hiện những yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến tiến độ thực hiện các chỉ tiêu trong quá
trình sản xuất kinh doanh.
1.1.1.Chi tiết theo địa điểm và phạm vi kinh doanh:
SVTH : Trần Quang Hữu 9
Kết quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp được thực hiện bởi các bộ
phận, phân xưởng, đội, tổ sản xuất… hay của các cửa hàng, trang trại, xí nghiệp trực
thuộc doanh nghiệp.
Thông qua các chỉ tiêu khoán khác nhau như: Khoán doanh thu, khoán chi
phí,khoán gọn...cho các bộ phận mà đánh giá mức khoán đã hợp lý hay chưa và về
việc thực hiện định mức khoán của các bộ phận như thế nào. Cũng thông qua đó mà
phát hiện các bộ phận tiên tiến, lạc hậu trong việc thực hiện các chỉ tiêu, khai thác
khả năng tiềm tàng trong việc sử dụng các yếu tố sản xuấtkinh doanh. Phân tích chi
tiết theo địa điểm giúp ta đánh giá kết quả thực hiện hoạch toán kinh tế nội bộ.
Phương pháp so sánh:
So sánh là một phương pháp được sử dụng rất rộng rãi trong phân tích kinh
doanh. Sử dụng phương pháp so sánh trong phân tích là đối chiếu các chỉ tiêu, các
hiện tượng kinh tế đã được lượng hoá có cùng một nội dung, một tính chất tương tự
để xác định xu hướng và mức độ biến động của các chỉ tiêu đó. Nó cho phép chúng ta
tổng hợp được những nét chung, tách ra được những nét riêng của các hiện tượng
kinh tế đưa ra so sánh, trên cơ sở đó đánh giá được các mặt phát triển hay các mặt
kém phát triển, hiệu quả hay kém hiệu quả để tìm các giải pháp nhằm quản lý tối ưu
trong mỗi trường hợp cụ thể. Vì vậy, để tiến hành so sánh cần phải thực hiện những
o Số tuyệt đối là số biểu hiện qui mô, khối lượng của một chỉ tiêu kinh tế
nào đó, ta thường gọi là trị số của chỉ tiêu kinh tế. Nó là cơ sở để tính toán các loại số
liệu khác.
o So sánh bằng số tuyệt đối là so sánh giữa trị số của chỉ tiêu kinh tế kỳ
phân tích so với kỳ gốc. Kết quả so sánh biểu hiện biến động khối lượng, quy mô của
các hiện tượng kinh tế.
So sánh mức biến động tương đối điều chỉnh theo hướng quy mô chung là kết
quả so sánh của phép trừ giữa trị số của kỳ phân tích với trị số kỳ gốc đã được điều
SVTH : Trần Quang Hữu 11
chỉnh theo hệ số của chỉ tiêu phân tích có liên quan theo hướng quyết định quy mô
chung
+ Công thức: Mức biến động tương đối = (chỉ tiêu kỳ phân tích - chỉ tiêu kỳ
gốc) * hệ số điều chỉnh.
So sánh bằng số tương đối: Có nhiều loại số tương đối, tuỳ theo yêu cầu phân
tích mà sử dụng cho phù hợp.
o Số tương đối hoàn thành kế hoạch tính theo tỉ lệ: là kết quả của phép
chia giữa trị số của kỳ phân tích so với kỳ gốc của các chỉ tiêu kinh tế. Nó phản ánh tỉ
lệ hoàn thành kế hoạch của chỉ tiêu kinh tế.
Công thức : Số tương đối hoàn thành kế hoạch = chỉ tiêu kỳ phân
tích / chỉ tiêu kỳ gốc * 100%
o Số tương đối kết cấu: So sánh số tương đối kết cấu thể hiện chênh lệch
về tỷ trọng của từng bộ phận chiếm trong tổng số giữa kỳ phân tích với kỳ gốc của
chỉ tiêu phân tích. Nó phản ánh biến động bên trong của chỉ tiêu.
o Số bình quân động thái: Biểu hiện sự biến động về tỷ lệ của chỉ tiêu
kinh tế qua một khoảng thời gian nào đó. Nó được tính bằng cách so sánh chỉ tiêu kỳ
phân tích với chỉ tiêu kỳ gốc. Chỉ tiêu kỳ gốc có thể cố định hoặc liên hoàn, tùy theo
mục đích phân tích. Nếu kỳ gốc cố định sẽ phản ánh sự phát triển của chỉ tiêu kinh tế
trong khoảng thời gian dài. nếu kỳ gốc liên hoàn phản ánh sự phát triển của chỉ tiêu
kinh tế qua 2 thời kỳ kế tiếp nhau.
1.3. Phương pháp so sánh liên hoàn:
Thế lần 1: a1.b0.c0
Thế lần 2: a1.b1.c0
Thế lần 3: a1.b1.c1
Thế lần cuối cùng chính là các nhân tố ở phân tích được thay thế
toàn bộ nhân tố ở kỳ gốc. Như vậy có bao nhiêu nhân tố ảnh hưởng thì có bấy nhiêu
lần thay thế.
o Bước 4: Xác định mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố đến đối tượng
phân tích bằng cách lấy kết quả thay thế lần sau trừ đi kết quả lần thay thế trước nó ta
SVTH : Trần Quang Hữu 13
xác định được mức độ ảnh hưởng của nhân tố đó (kết quả lần thay thế trước của lần
thay thế đầu tiên là so với kỳ gốc) cụ thể:
Ảnh hưởng của nhân tố a: a1.b0.c0 - a0.b0.c0 = Δaa
Ảnh hưởng của nhân tố b: a1.b1.c0 - a1.b0.c0 = Δab
Ảnh hưởng của nhân tố c: a1.b1.c1 - a1.b1.c0 = Δac
Tổng đại số mức ảnh hưởng của các nhân tố: ΔAa + ΔAb + ΔAc = ΔA
1.4. Phương pháp số chênh lệch
Phương pháp số chênh lệch là trường hợp đặt biệt của phương pháp thay thế
liên hoàn, nó tôn trọng đầy đủ các bước tiến hành như phương pháp thay thế liên
hoàn. Nó khác ở chỗ sử dụng chênh lệch giữa kỳ phân tích với kỳ gốc của từng nhân
tố để xác định ảnh hưởng của nhân tố đó đến chỉ tiêu phân tích:
o Ảnh hưởng của nhân tố a: = (a1-a0) .b0.c0
o Ảnh hưởng của nhân tố b: = a1.(b1 -b0) .c0
o Ảnh hưởng của nhân tố c: = a1.b1.(c1-c0)
1.5. Phương pháp liên hệ cân đối:
Trong quá trình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp hình thành nhiều
mối liên hệ cân đối. Cân đối là sự cân bằng về lượng giữa hai mặt, giữa các
yếu tố của quá trình kinh doanh. Ví dụ như giữa tài sản và nguồn vốn kinh doanh,
giữa các nguồn thu và chi, giữa nhu cầu sử dụng vốn và khả năng thanh toán, giữa
nguồn huy động và sử dụng vật tư trong sản xuất kinh doanh.
Phương pháp liên hệ cân đối được sử dụng nhiều trong công tác lập và xây
(%)
Số lượng cổ
phần
Giá trị (USD)
1
CÔNG TY SILKOAD
C&T
TIỀN MẶT 94,16 1.130.000 1.130.000
2 ÔNG HEOKHO, PARK TIỀN MẶT 4,17 50.000 50.000
3
ÔNG CHUNG
HO,JEONG
TIỀN MẶT 1,67 20.000 20.000
1.1.2. Các mốc quan trọng trong quá trình phát triển của công ty
Tháng 12 năm 2007: được cấp giấy chứng nhận đầu tư tại Việt Nam, được sự đồng ý
của Ủy ban nhân dân tỉnh Hải dương, ban quản lý các khu công nghiệp Hải Dương.
Tháng 04 năm 2008: Thành lập công ty cổ phần Silk Road Hà Nội tại Việt Nam.
SVTH : Trần Quang Hữu 16
Tháng 07 năm 2008: Chính thức đi vào hoạt động sản xuất, cấp chuyến hàng đầu tiên
cho dự án toà nhà cao nhất Việt Nam – Keangnam enterprise.
Tháng 01 năm 2009: phát triển qui mô mở rộng thị trường tại Việt Nam.
Tháng 01 năm 2010: Tổng kết sau một năm mở rộng đạt cột mốc đáng nhớ đạt 500%
so với năm 2008.
1.2. Chức năng nhiệm vụ của doanh nghiệp
1.2.1. Các chức năng,nhiệm vụ theo giấy phép kinh doanh của doanh nghiệp
Chức năng: Sản xuất kinh doanh các loại phụ gia bê tông tại thị trường Việt Nam và
xuất khẩu đi các nước.
Nhiệm vụ: thực hiện đúng theo chức năng kinh doanh đã được cấp phép, đồng thời
phải đảm bảo sản xuất kinh doanh các loại phụ gia phù hợp với tiêu chuẩn đã được
công bố và đảm bảo thân thiện với môi trường, tuyệt đối tuân thủ theo pháp luật của
SV 300
SV 200
SV 305
ROADCON
SSA2000
PNS
ROADCON
SR3000F
Máy trộn
T1 (30’)
TANK
TANK
TANK
Nguyên
liệu
Lignin
powder
Máy trộn
T1(30’)
Cấp phối sản
xuất
ROADCON
SAE
TANK
Sản phẩm
hợp. Nguyên liệu sản xuất nhóm ROADCON SAE và ROADCON SSA2000, được
trộn tại Máy trộn T1, Nguyên liệu sản xuất ROADCON HR1000 và ROADCON
SR3000F, được trộn Máy trộn T2, thời gian cho mỗi mẻ trộn là 30 phút, sau đó các
sản phẩm sẽ được trích mẫu đem thí nghiệm, sản phẩm đạt yêu cầu sẽ được bơm vào
tank chứa chờ xuất, sản phẩm chưa đạt yêu cầu sẽ được bơm vào tank chứa chờ sản
Bao gồm các bộ phận: xuất nhập khẩu, nhân sự, tổng hợp đặt dưới sự quản lý
của trưởng phòng hành chính.
Nhiệm vụ:
Làm các công việc liên quan đến nhân sự, thủ tục xuất nhập khẩu hàng hoá
của công ty,cung cấp cho phòng kinh doanh các giấy tờ, tài liệu theo yêu cầu
* Phòng quản lí chất lượng chịu trách nhiệm bởi trưởng phòng kĩ thuật
Nhiệm vụ:
Đảm bảo chất lượng sản phẩm theo đúng yêu cầu đề ra, thường xuyên kiểm tra
chất lượng sản phẩm do công ty cung cấp đến khách hàng, cung cấp dịch vụ thí
nghiệm đối với khách hàng, nghiên cứu tìm ra sản phẩm mới đáp ứng yêu cầu của
khách hàng...
* Phòng kinh doanh: được đặt dưới sự quản lý trực tiếp của giám đốc và tổng giám
đốc
Nhiệm vụ: Marketing sản phẩm, xây dựng kế hoạch, chiến thuật bán hàng đảm
bảo sự phát triển doanh số và thị phần của doanh nghiệp trên thị trường.
* Phòng kế toán: đặt dưới sự quản lý của kế toán trưởng và tổng giám đốc
Nhiệm vụ: Tổng hợp, báo cáo, phân tích tài chính của doanh nghiệp,….
* Phòng sản xuất: đặt dưới sự quản lý của trưởng phòng sản xuất
Nhiệm vụ: Sản xuất hàng hoá theo đúng yêu cầu của khách hàng, cung cấp kịp
thời, đúng chủng loại, đảm bảo công xưởng, máy móc thiết bị luôn luôn hoạt động
tốt.
Tất cả các phòng ban dưới sự quản lý của các trưởng phòng phụ trách, các trưởng
phòng chịu trách nhiệm trực tiếp trước Giám đốc và Tổng giám đốc.
* Ban giám đốc
Chịu trách nhiệm điều hành mọi hoạt động của công ty, hoạch định, xây dựng và
triển khai, kiểm tra mọi hoạt động của công ty, chịu trách nhiệm trước hội đồng quản
trị của tập đoàn về mọi hoạt động tại Việt Nam, đồng thời phối hợp với các đơn vị
của tập đoàn trong khu vực xây dựng sự lớn mạnh của tập đoàn.
SVTH : Trần Quang Hữu 20
II.Đặc điểm
SVTH : Trần Quang Hữu 22
PHẦN IV:
PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH
HOẠT ĐỘNG
KINH DOANH TẠI
CÔNG TY CỔ PHẦN
SILK ROAD HÀ NỘI
SVTH : Trần Quang Hữu 23
I. Đánh giá tổng qt về tình hình hoạt động kinh doanh của CƠNG TY CỔ
PHẦN SILKROAD HÀ NỘI.
Bảng 1: Kết quả kinh doanh của công ty trong năm 2007
CHỈ TIÊU ĐVT: đồng
DOANH THU
- Tổng doanh thu
- Doanh thu tính thuế GTGT
1.938.331.000
1.938.331.000
CHI PHÍ
KINH DOANH
Tổng số :
1.245.657.000
2.933.000
764.296.000
316.876.000
KẾT QUẢ
KINH DOANH
Lãi + Lỗ - ( Kể cả chính phụ,
liên doanh,liên kết)
Trong đó: SXKD chính
cơng của phương thức mà doanh nghiệp tiếp thị và bán sản phẩm của mình... Tóm lại,
mơi trường kinh doanh của doanh nghiệp rất sinh động và ln biến đổi. Những biến
đổi trong mơi trường có thể gây ra những bất ngờ lớn và những hậu quả nặng nề. Vì
vậy doanh nghiệp cần nghiên cứu phân tích mơi trường để có thể dự đốn những khả
năng có thể xảy ra để đưa ra những biện pháp ứng phó kịp thời. Thơng qua phân tích
mơi trường kinh doanh giúp cho doanh nghiệp nhận thấy được mình đang trực diện
với những gì để từ đó xác định chiến lược kinh doanh cho phù hợp. Khi phân tích
mơi trường cần chú trọng phân tích các mặt sau đây:
1.1.1. Mơi trường vi mơ:
Khách hàng: Nhân tố khách hàng và nhu cầu của khách hàng quyết định quy
mơ và cơ cấu nhu cầu trên thị trường của cơng ty và là yếu tố quan trọng hàng đầu
khi xác định chiến lược kinh doanh. Do vậy cơng ty cần nghiên cứu kỹ khách hàng
của mình.
SVTH : Trần Quang Hữu 25