Giáo trình nguyên lý chủ nghĩa Mac Lenin TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG TPHCM - Pdf 28

TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG
TP. HỒ CHÍ MINH
KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
TẬP BÀI GIẢNG MÔN:
NHỮNG NGUYÊN LÝ CƠ BẢN CỦA CHỦ NGHĨA MÁC – LÊ NIN
HỌC PHẦN 1

Biên tập: Giảng viên Đặng Hoàng Vũ
- Tập bài giảng nhằm mục đích phục vụ nhu cầu học tập và nghiên cứu của sinh viên;
1
- Tập bài giảng có sử dụng nhiều tư liệu quý báu của đồng nghiệp và Internet;
- Tập bài giảng này không có giá trị chứng nhận bản quyền tác giả;
- Lưu hành nội bộ.
TP. HỒ CHÍ MINH, 2012
MỤC LỤC
PHẦN NHẬP MÔN: KHÁI LƯỢC NHỮNG NGUYÊN LÝ CƠ BẢN CỦA CHỦ
NGHĨA MÁC-LÊNIN Trang 5
I. KHÁI LƯỢC VỀ CHỦ NGHĨA MÁC-LÊNIN Trang 5
1. Chủ nghĩa Mác-Lênin và ba bộ phận lý luận hình thành học thuyết Trang 5
2. Khái lược quá trình hình thành và phát triển chủ nghĩa Mác-Lênin Trang 6
II. ĐỐI TƯỢNG, MỤC ĐÍCH VÀ YÊU CẦU VỀ PHƯƠNG PHÁP HỌC TẬP,
NGHIÊN CỨU NHỮNG NGUYÊN LÝ CƠ BẢN CỦA CHỦ NGHĨA MÁC – LÊNIN
Trang 12
1. Đối tượng và mục đích của việc học tập, nghiên cứu Trang 12
2. Một số yêu cầu cơ bản về phương pháp học tập, nghiên cứu Trang 14
PHẦN THỨ NHẤT: THẾ GIỚI QUAN VÀ PHƯƠNG PHÁP LUẬN TRIẾT HỌC
CỦA CHỦ NGHĨA MÁC-LÊNIN Trang 15
CHƯƠNG I: CHỦ NGHĨA DUY VẬT BIỆN CHỨNG Trang 15
I. CHỦ NGHĨA DUY VẬT VÀ CHỦ NGHĨA DUY VẬT BIỆN CHỨNG Trang 15
1. Sự đối lập giữa chủ nghĩa duy vật với chủ nghĩa duy tâm trong việc giải quyết vấn đề
cơ bản của triết học Trang 15

V. LÝ LUẬN NHẬN THỨC DUY VẬT BIỆN CHỨNG Trang 52
1. Thực tiễn, nhận thức và vai trò của thực tiễn với nhận thức Trang 52
2. Con đường biện chứng của sự nhận thức chân lý Trang 57
CHƯƠNG III: CHỦ NGHĨA DUY VẬT LỊCH SỬ Trang 62
I. VAI TRÒ CỦA SẢN XUẤT VẬT CHẤT VÀ QUY LUẬT QUAN HỆ SẢN XUẤT
PHÙ HỢP VỚI TRÌNH ĐỘ PHÁT TRIỂN CỦA LỰC LƯỢNG SẢN XUẤT
1. Sản xuất vật chất và vai trò của nó Trang 62
2. Quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất
Trang 64
II. BIỆN CHỨNG CỦA CƠ SỞ HẠ TẦNG VÀ KIẾN TRÚC THƯỢNG TẦNG
1. Khái niệm cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng Trang 66
2. Quan hệ biện chứng giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng Trang 68
III. TỒN TẠI XÃ HỘI QUYẾT ĐỊNH Ý THỨC XÃ HỘI VÀ TÍNH ĐỘC LẬP TƯƠNG
ĐỐI CỦA Ý THỨC XÃ HỘI Trang 69
1. Tồn tại xã hội quyết định ý thức xã hội Trang 69
2. Tính độc lập tương đối của ý thức xã hội Trang 72
IV. HÌNH THÁI KINH TẾ - XÃ HỘI VÀ QUÁ TRÌNH LỊCH SỬ-TỰ NHIÊN CỦA SỰ
PHÁT TRIỂN CÁC HÌNH THÁI KINH TẾ - XÃ HỘI Trang 73
1. Khái niệm, cấu trúc hình thái kinh tế - xã hội Trang 73
2. Quá trình lịch sử - tự nhiên của sự phát triển các hình thái kinh tế - xã hội
4
Trang 74
3. Ý nghĩa phương pháp luận (giá trị khoa học của lý luận hình thái kinh tế - xã hội)
Trang 75
V. VAI TRÒ CỦA ĐẤU TRANH GIAI CẤP VÀ CÁCH MẠNG XÃ HỘI ĐỐI VỚI SỰ
VẬN ĐỘNG, PHÁT TRIỂN CỦA XÃ HỘI CÓ ĐỐI KHÁNG GIAI CẤP Trang 76
1. Giai cấp và vai trò của đấu tranh giai cấp đối với sự phát triển của xã hội có đối kháng
giai cấp Trang 76
2. Cách mạng xã hội và vai trò của nó đối với sự phát triển của xã hội có đối kháng giai
cấp Trang 79

Ba bộ phận cấu thành chủ nghĩa Mác - Lênin có đối tượng nghiên cứu cụ thể khác
nhau nhưng đều nằm trong hệ thống lý luận khoa học thống nhất – Đó là khoa học về sự
nghiệp giải phóng giai cấp vô sản, giải phóng nhân dân lao động khỏi chế độ áp bức, bóc
lột, tiến tới giải phóng con người.
6
2. Khái lược quá trình hình thành và phát triển chủ nghĩa Mác-Lênin
a. Những điều kiện, tiền đề của sự ra đời chủ nghĩa Mác
Điều kiện kinh tế - xã hội
Chủ nghĩa Mác ra đời vào những năm 40 thế kỷ XIX. Đây là thời kỳ phương thức
sản xuất tư bản chủ nghĩa ở các nước Tây Âu đã phát triển mạnh mẽ trên cơ sở những
thành tựu của cuộc cách mạng công nghiệp. Cách mạng công nghiệp không những đánh
dấu sự chuyển biến từ nền sản xuất thủ công sang đại công nghiệp mà còn làm thay đổi
sâu sắc cục diện xã hội, nhất là sự hình thành và phát triển của giai cấp vô sản. Cách
mạng công nghiệp làm cho mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất mang tính xã hội hoá với
quan hệ sản xuất mang tính tư nhân tư bản chủ nghĩa ngày càng gay gắt. Biểu hiện của
mâu thuẫn trên là sự xuất hiện của khủng hoảng kinh tế (xảy ra lần đầu tiên ở Anh vào
năm 1825)
Phong trào công nhân phát triển mạnh mẽ, tiêu biểu là cuộc khởi nghĩa của công
nhân ngành dệt thành phố Liôn (Pháp) năm 1831, 1834; Phong trào Hiến chương Anh
(1835-1848), khởi nghĩa của công nhân dệt ở Silêdi (Đức) năm 1844, Điều đó chứng tỏ
giai cấp công nhân đã trở thành lực lượng chính trị độc lập. Thực tiễn cuộc đấu tranh giai
cấp đặt ra đòi hỏi khách quan là giai cấp công nhân cần phải được trang bị vũ khí về lý
luận làm cơ sở cho đấu tranh giai cấp.
Vì vậy, thực tiễn cách mạng là tiền đề thực tiễn cho sự phát triển lý luận của chủ
nghĩa Mác.
Tiền đề lý luận:
Chủ nghĩa Mác ra đời dựa trên sự kế thừa tinh hoa di sản lý luận của nhân loại
trong đó trực tiếp là Triết học cổ điển Đức, Kinh tế chính trị học cổ điển Anh và Chủ
nghĩa xã hội không tưởng Pháp.
Triết học cổ điển Đức với các đại biểu xuất sắc là L.Phơbách (Ludwig Andreas

dự báo thiên tài về xã hội tương lai. Hạn chế của họ là không phân tích được một cách
khoa học bản chất của chủ nghĩa tư bản, chưa thấy được sứ mệnh lịch sử của giai cấp
công nhân, song tinh thần nhân đạo và những dự báo của các ông đã trở thành tiền đề lý
luận quan trọng cho sự ra đời của lý luận khoa học về chủ nghĩa xã hội trong chủ nghĩa
Mác.
Tiền đề khoa học tự nhiên
8
Chủ nghĩa duy vật biện chứng của C.Mác là kết quả của sự tổng kết những thành
tựu khoa học của nhân loại, nhất là ba phát minh trong khoa học tự nhiên:
- Định luật bảo toàn và chuyển hóa năng lượng. Đây là cơ sở khoa học để khẳng
định rằng vật chất và vận động của vật chất không do ai sáng tạo ra và không thể bị tiêu
diệt. Chúng chỉ chuyển hóa từ dạng này sang dạng khác, từ hình thức này sang hình thức
khác.
- Thuyết tiến hóa của ĐácUyn (Charles Robert Darwin, 1809 – 1882) đã đem lại
cơ sở khoa học về sự phát sinh, phát triển của các giống loài, mối liên hệ hữu cơ giữa các
loài thực vật, động vật trong quá trình chọn lọc tự nhiên.
- Thuyết tế bào Học thuyết tế bào do GS. M.Slaiđen (trường Đại học Gana,ở
Đức) xây dựng năm 1838. Ông cho rằng, tế bào là đơn vị sống cơ bản nhất trong kết cấu
của mọi thực vật. Quá trình phát dục của thực vật là quá trình hình thành và phát triển của
tế bào. Sau đó, vào năm 1839 GS. T.Svannơ (GS phẫu thuật người của trường Đại học
Ruăng ở Đức) đã mở rộng học thuyết tế bào từ giới thực vật sang giới động vật, khiến loài
người nhận thức được rằng, tế bào là đơn nguyên kết cấu chung của mọi cơ thể sinh vật.
Những phát hiện nêu trên đã vạch ra quá trình biện chứng của sự vận động, phát triển,
chuyển hoá không ngừng của bản thân giới sinh vật. Như vậy, sự ra đời của chủ nghĩa
Mác là hiện tượng hợp quy luật, nó vừa là sản phẩm của tình hình kinh tế xã hội đương
thời, của tri thức nhân loại trong các lĩnh vực khoa học, vừa là sản phẩm năng lực tư duy
và tinh thần nhân văn của những người sáng lập ra nó.
b. Các giai đoạn hình thành và phát triển chủ nghĩa Mác
Giai đoạn hình thành chủ nghĩa Mác (1842-1848)
Trong giai đoạn này với các tác phẩm chủ yếu như: "Bản thảo kinh tế-triết học"

c. V.I Lênin bảo vệ và phát triển chủ nghĩa Mác trong điều kiện lịch sử mới
Bối cảnh lịch sử và nhu cầu bảo vệ, phát triển chủ nghĩa Mác
Cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, chủ nghĩa tư bản đã chuyển sang giai đoạn chủ
nghĩa tư bản độc quyền. Bản chất bóc lột và thống trị của chủ nghĩa tư bản ngày càng
được bộc lộ rõ nét, mâu thuẫn của chủ nghĩa tư bản trở nên gay gắt. Các nước tư bản chia
nhau thị trường thế giới và gây ra cuộc Chiến tranh thế giới lần thứ nhất (1914-1918) Tại
các nước thuộc địa, cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa đế quốc tạo nên sự thống nhất giữa
cách mạng giải phóng dân tộc với cách mạng vô sản mà trung tâm là Cách mạng Tháng
Mười Nga. Sau khi Ph.Ăngghen qua đời, các phần tử cơ hội trong Quốc tế II tìm mọi cách
10
nhằm xuyên tạc chủ nghĩa Mác. Trước tình hình đó đòi hỏi V.I.Lênin phải tiến hành đấu
tranh bảo vệ và phát triển chủ nghĩa Mác.
Cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, trong khoa học tự nhiên, nhất là trong vật lý học,
có nhiều phát minh khoa học làm đảo lộn quan niệm siêu hình về vật chất và vận động,
gây ra cuộc khủng hoảng về thế giới quan trong triết học. Chủ nghĩa duy tâm đã lợi dụng
tình trạng khủng hoảng này để tấn công và bác bỏ chủ nghĩa duy vật. Trong hoàn cảnh đó,
V.I.Lênin tiến hành đấu tranh chống chủ nghĩa duy tâm để bảo vệ và phát triển chủ nghĩa
duy vật.
Quá trình bảo vệ và phát triển chủ nghĩa Mác chia thành ba thời kỳ:
- Giai đoạn 1893-1907:
Là thời kỳ V.I.Lênin tập trung chống lại phái Dân túy. Trong tác phẩm: "Những
người bạn dân là thế nào và họ đấu tranh chống những người dân chủ - xã hội ra sao"
(1894), V.I.Lênin đã phê phán tính chất duy tâm và những sai lầm của phái Dân túy về
nhận thức những vấn đề lịch sử - xã hội, vạch rõ ý đồ xuyên tạc chủ nghĩa Mác bằng cách
xóa nhòa ranh giới giữa phép biện chứng duy vật của C.Mác với phép biện chứng duy
tâm của G.Hêghen, nêu lên mối quan hệ giữa lý luận và thực tiễn.Trong tác phẩm "Làm
gì"? (1902) V.I.Lênin phát triển lý luận của chủ nghĩa Mác về các hình thức đấu tranh giai
cấp của giai cấp vô sản trước khi giành chính quyền; đề cập đến nhiều vấn đề đấu tranh
kinh tế, chính trị, tư tưởng; đặc biệt ông nhấn mạnh quá trình hình thành hệ tư tưởng của
giai cấp vô sản.

Chủ nghĩa Mác-Lênin với cách mạng vô sản Nga (1917)
Chủ nghĩa Mác ra đời đã ảnh hưởng to lớn đến phong trào cộng sản và công nhân
quốc tế. Cách mạng tháng Ba năm 1871 ở Pháp với sự ra đời của nhà nước chuyên chính
vô sản (công xã Pari) là sự kiểm nghiệm đầu tiên của chủ nghĩa Mác. Tháng 8 năm 1903,
chính đảng vô sản đầu tiên được thành lập ở Nga và lãnh đạo cuộc cách mạng 1905.
Tháng Mười năm 1917, cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa của giai cấp vô sản thắng lợi,
mở ra một kỷ nguyên mới cho nhân loại, chứng minh tính hiện thực của chủ nghĩa Mác-
Lênin trong lịch sử.
Chủ nghĩa Mác-Lênin với phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc và xây dựng chủ
nghĩa xã hội trên phạm vi thế giới.
12
Sau 1917, học thuyết Mác-Lênin tiếp tục có những ảnh hưởng sâu rộng: năm 1919
Quốc tế Cộng sản được thành lập; năm 1922 Liên bang Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Xô
viết ra đời; sau chiến tranh thế giới thứ 2, hàng loạt nước xã hội chủ nghĩa ra đời, hình
thành nên hệ thống xã hội chủ nghĩa thế giới bao gồm các nước Mông Cổ, Ba Lan,
Rumani, Hunggari, Việt Nam, Tiệp Khắc, Cộng hòa dân chủ Đức, Trung Quốc, Cu Ba,
Nam Tư, Anbani, Bungari.
Những sự kiện trên đã cổ vũ mạnh mẽ phong trào công nhân và phong trào giải
phóng dân tộc trên thế giới. Vai trò định hướng của chủ nghĩa Mác Lênin đã đem lại
những thành quả lớn lao cho sự nghiệp vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã
hội.
Do nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan mà đặc biệt là do sai lầm trong việc
vận dụng chủ nghĩa Mác của những người cộng sản đã dẫn tới hệ thống xã hội chủ nghĩa
thế giới lâm vào khủng hoảng, thoái trào, song đó không phải là sự sụp đổ của chủ nghĩa
Mác-Lênin; sự sụp đổ của Liên Xô và các nước Đông Âu không đồng nhất với sự sụp đổ
của chủ nghĩa xã hội nói chung. Một số nước xã hội chủ nghĩa như Trung Quốc, Việt
Nam thực hiện thành công công cuộc đổi mới chủ nghĩa xã hội, chẳng những đã có thể
ra khỏi khủng hoảng, mà còn thực hiện tốt hơn những mục tiêu của công cuộc xây dựng
chủ nghĩa xã hội. Quyết tâm xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội vẫn được khẳng định
ở nhiều quốc gia và chiều hướng đi theo con đường xã hội chủ nghĩa vẫn lan rộng ở các

Trong phạm vi lý luận kinh tế chính trị của chủ nghĩa Mác-Lênin, đó là nghiên cứu
học thuyết giá trị lao động, học thuyết giá trị thặng dư, học thuyết về chủ nghĩa tư bản độc
quyền và chủ nghĩa tư bản độc quyền nhà nước; khái quát những quy luật kinh tế cơ bản
của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa từ giai đoạn hình thành đến giai đoạn phát
triển cao của nó.
Trong phạm vi chủ nghĩa xã hội khoa học, đó là nghiên cứu về sứ mệnh lịch sử của
giai cấp công nhân và tiến trình cách mạng xã hội chủ nghĩa; những quy luật của sự hình
thành, phát triển của hình thái kinh tế xã hội cộng sản chủ nghĩa và những định hướng cho
hoạt động của giai cấp công nhân.
Mục đích của việc nghiên cứu, học tập môn Những nguyên lý cơ bản của chủ
nghĩa Mác-Lênin:n
- Nắm vững quan điểm khoa học, cách mạng, nhân văn của chủ nghĩa Mác Lênin;
14
- Hiểu rõ cơ sở lý luận quan trọng nhất của Tư tưởng Hồ Chí Minh và Đường lối
cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam;
- Xây dựng thế giới quan, phương pháp luận khoa học và vận dụng sáng tạo những
nguyên lý đó trong hoạt động nhận thức và thực tiễn, hiểu rõ nền tảng tư tưởng của Đảng;
- Học tập, nghiên cứu Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin là để xây
dựng niềm tin, lý tưởng cách mạng, rèn luyện tu dưỡng đạo đức, đáp ứng yêu cầu của con
người Việt Nam trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước.
2. Một số yêu cầu cơ bản về phương pháp học tập, nghiên cứu
Trong quá trình học tập, nghiên cứu những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác-
Lênin cần thực hiện một số yêu cầu cơ bản sau:
- Học tập, nghiên cứu Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác- Lênin cần phải
hiểu đúng tinh thần, thực chất của nó; tránh bệnh kinh viện, giáo điều trong quá trình học
tập, nghiên cứu và vận dụng các nguyên lý cơ bản đó trong thực tiễn.
- Những luận điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin có quan hệ mật thiết với nhau, bổ
sung và hỗ trợ cho nhau, vì vậy, nghiên cứu mỗi luận điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin phải
đặt chúng trong mối liên hệ với các luận điểm khác, mỗi bộ phận cấu thành trong mối
quan hệ với các bộ phận cấu thành khác để thấy sự thống nhất trong tính đa dạng và nhất

trường phái lớn: chủ nghĩa duy tâm và chủ nghĩa duy vật; khả tri luận (thuyết có thể biết)
và bất khả tri luận (không thể biết). Ngoài ra còn có chủ nghĩa nhị nguyên và hoài nghi
luận.
Chủ nghĩa duy vật là trường phái triết học xuất phát từ quan điểm: bản chất của thế
giới là vật chất; vật chất là tính thứ nhất, ý thức là tính thứ hai; vật chất có trước ý thức và
quyết định ý thức.
Chủ nghĩa duy tâm là trường phái triết học cho rằng: bản chất của thế giới là tinh
thần; ý thức là tính thứ nhất, vật chất là tính thứ hai; ý thức có trước và quyết định vật
chất.
16
Chủ nghĩa duy tâm có hai trường phái cơ bản là Chủ nghĩa duy tâm khách quan và
chủ nghĩa duy tâm chủ quan. Chủ nghĩa duy tâm khách quan thừa nhận tính thứ nhất của
tinh thần, ý thức nhưng tinh thần, ý thức đó được quan niệm là tinh thần khách quan, ý
thức khách quan có trước và tồn tại độc lập với giới tự nhiên và con người. Những đại
biểu của trào lưu này là Platon, Hêghen, Tômat Đacanh, … Chủ nghĩa duy tâm chủ quan
thừa nhận tính thứ nhất của ý thức con người, khẳng định ý thức quyết định vật chất, vật
chất không tồn tại độc lập mà phụ thuộc vào cảm giác, ý thức. Những đại biểu của trào
lưu này là G.Beccơli, D.Hium.
Ngoài sự phân biệt chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm, người ta còn phân biệt:
Thuyết nhất nguyên là khuynh hướng triết học cho rằng thế giới chỉ có một bản
nguyên, là thực thể vật chất hoặc thực thể tinh thần có trước và quyết định. Tùy theo quan
niệm cho rằng vật chất hay tinh thần là thực thể của thế giới mà thuyết nhất nguyên có hai
hình thức tương ứng: thuyết nhất nguyên duy vật và thuyết nhất nguyên duy tâm.
Thuyết nhị nguyên cho rằng có hai thực thể vật chất và ý thức song song tồn tại,
không phụ thuộc lẫn nhau.
Thuyết đa nguyên là khuynh hướng triết học cho rằng có nhiều cơ sở, nhiều bản
nguyên của tồn tại, chúng không phụ thuộc lẫn nhau.
Trong việc giải quyết mặt thứ hai vấn đề cơ bản của triết học có hai khuynh hướng
đối lập nhau là thuyết khả tri và thuyết bất khả tri. Đa số các nhà triết học khẳng định rằng
con người có khả năng nhận thức được thế giới, có khả năng đạt được chân lý khách

nhưng chủ nghĩa duy vật siêu hình đã góp phần vào việc chống lại thế giới quan duy tâm
và tôn giáo, nhất là giai đoạn lịch sử chuyển tiếp từ thời Trung cổ sang thời Phục hưng ở
các nước Tây Âu.
c. Chủ nghĩa duy vật biện chứng:
Chủ nghĩa duy vật biện chứng do C.Mác và Ph.Ăngghen xây dựng từ những năm
40 của thế kỷ XIX và được V.I.Lênin phát triển. Chủ nghĩa duy vật biện chứng ra đời trên
cơ sở kế thừa tinh hoa trong lịch sử triết học, dựa trên cơ sở những thành tựu của khoa
học tự nhiên vì vậy, đã khắc phục được hạn chế của chủ nghĩa duy vật chất phác và chủ
nghĩa duy vật siêu hình. Trên cơ sở phản ánh đúng đắn hiện thực khách quan trong mối
liên hệ phổ biến và sự phát triển, chủ nghĩa duy vật biện chứng là công cụ vĩ đại cho hoạt
động nhận thức và thực tiễn cách mạng.
18
II. QUAN ĐIỂM CỦA CHỦ NGHĨA DUY VẬT BIỆN CHỨNG VỀ VẬT
CHẤT, Ý THỨC VÀ MỐI QUAN HỆ GIỮA VẬT CHẤT VÀ Ý THỨC
1. Vật chất
a. Phạm trù vật chất:
Vật chất với tư cách là phạm trù triết học đã có lịch sử phát triển trên 2500 năm và
có quá trình phát triển gắn liền với thực tiễn và nhận thức của con người:
Chủ nghĩa duy tâm quan niệm bản chất của thế giới, cơ sở đầu tiên của mọi tồn tại
là bản nguyên tinh thần, còn vật chất là sản phẩm của bản nguyên tinh thần ấy. Chủ nghĩa
duy tâm phủ nhận vật chất với tính cách là thực tại khách quan, cho rằng thế giới vật chất
là tạo vật của thượng đế, hoặc là “sự phức hợp” những cảm giác của con người.
Chủ nghĩa duy vật cổ đại đã đồng nhất vật chất với những dạng tồn tại cụ thể của
vật chất. Thí dụ: nước (quan niệm của Talet); không khí (quan niệm Anaximen); lửa
(quan niệm của Hêraclit); nguyên tử (quan niệm của Đêmôcrit); đất, nước, lửa, gió (quan
niệm của triết học Ấn Độ); kim, mộc, thủy, hỏa, thổ (quan niệm trong Thuyết ngũ hành ở
Trung Quốc).
Chủ nghĩa duy vật thế kỷ XVII - XVIII đồng nhất vật chất với nguyên tử và khối
lượng. Với quan niệm vật chất là một hay một số chất tự có, đầu tiên, sản sinh ra vũ trụ
chứng tỏ các nhà duy vật trước C.Mác đã đồng nhất vật chất với vật thể. Hạn chế này tất

- Thứ hai, đặc trưng quan trọng nhất của vật chất là thuộc tính khách quan, tức là
thuộc tính tồn tại ngoài ý thức, độc lập, không phụ thuộc vào ý thức con người, dù con
người có nhận thức được nó hay không.
- Thứ ba, vật chất (dưới hình thức tồn tại cụ thể của nó) là cái có thể gây nên cảm
giác ở con người khi nó trực tiếp hay gián tiếp tác động đến giác quan của con người. Ý
thức của con người là sự phản ánh đối với vật chất, còn vật chất là cái được ý thức phản
ánh.
Phương pháp định nghĩa mà V.I.Lênin dùng để định nghĩa vật chất là đối lập vật
chất với phạm trù ý thức, chỉ ra thuộc tính cơ bản để phân biệt vật chất với ý thức.
Định nghĩa vật chất của V.I.Lênin có ý nghĩa quan trọng đối với sự phát triển của
chủ nghĩa duy vật và nhận thức khoa học:
20
Một là, với việc tìm ra thuộc tính quan trọng nhất của vật chất là thuộc tính khách
quan, V.I.Lênin đã phân biệt sự khác nhau giữa vật chất và vật thể, khắc phục được sự
hạn chế trong quan niệm về vật chất của chủ nghĩa duy vật cũ; cung cấp căn cứ nhận thức
khoa học cho sự phát triển của triết học và các khoa học khác và là cơ sở lý luận cho việc
xây dựng quan điểm duy vật về lịch sử.
Hai là, với việc khẳng định vật chất là thực tại khách quan “được đem lại cho con
người trong cảm giác” và “được cảm giác của chúng ta chép lại, chụp lại, phản ánh” V.I
Lênin khẳng định vật chất là tính thứ nhất, ý thức là tính thứ hai đồng thời thừa nhận
khả năng của con người có thể nhận thức được thực tại khách quan.
b. Phương thức và hình thức tồn tại của vật chất:
Theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng, vận động là phương thức tồn tại
của vật chất; không gian, thời gian là những hình thức tồn tại của vật chất.
Vận động là phương thức tồn tại của vật chất
Ph.Ăngghen viết: “Vận động, hiểu theo nghĩa chung nhất, tức được hiểu là một
phương thức tồn tại của vật chất, là một thuộc tính cố hữu của vật chất, thì bao gồm tất cả
mọi sự thay đổi và mọi quá trình diễn ra trong vũ trụ, kể từ sự thay đổi vị trí đơn giản cho
đến tư duy” (C.Mác và Ph.Ăngghen: Toàn tập, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2002,
t.20, tr.519.)

động cơ bản, Ph.Ăngghen đã đặt cơ sở cho việc phân loại, phân ngành, hợp loại, hợp
ngành khoa học.
Vận động và đứng im:
Chủ nghĩa duy vật biện chứng khẳng định vận động là tuyệt đối, là vĩnh viễn nhưng
điều đó không có nghĩa là phủ nhận sự đứng im, cân bằng ; song đứng im, cân bằng chỉ là
hiện tượng tương đối, tạm thời và thực chất đứng im, cân bằng chỉ là một trạng thái đặc
biệt của vận động.
Đứng im là tương đối vì đứng im, cân bằng chỉ xảy trong một số quan hệ nhất định,
chứ không phải trong tất cả mọi quan hệ. Đứng im, cân bằng chỉ xảy ra trong một hình
thức vận động.
22
Đứng im là tạm thời vì đứng im không phải là cái tồn tại vĩnh viễn mà chỉ tồn tại
trong một thời gian nhất định, chỉ là xét trong một hay một số quan hệ nhất định, ngay
trong đứng im vẫn diễn ra những quá trình biến đổi nhất định. Đứng im là trạng thái đặc
biệt của vận động, đó là vận động trong thế cân bằng, ổn định, vận động chưa làm thay
đổi cơ bản về chất, về vị trí, hình dáng, kết cấu của sự vật
Không gian và thời gian là những hình thức tồn tại của vật chất
Quan điểm siêu hình coi không gian là một cái hòm rỗng trong đó chứa vật chất.
Có không gian và thời gian không có vật chất. Có sự vật, hiện tượng không tồn tại trong
không gian và thời gian.
Quan điểm duy vật biện chứng cho rằng mọi dạng cụ thể của vật chất đều tồn tại ở
một vị trí nhất định, có một quảng tính (chiều cao, chiều rộng, chiều dài) nhất định và tồn
tại trong các mối tương quan nhất định (trước hay sau, trên hay dưới, bên phải hay bên
trái, …) với những dạng vật chất khác.
Những hình thức tồn tại như vậy gọi là không gian. Mặt khác sự tồn tại của sự vật
còn được thể hiện ở quá trình biến đổi: nhanh hay chậm, kế tiếp và chuyển hóa,… những
hình thức tồn tại như vậy được gọi là thời gian.
Ph.Ăngghen cho rằng: “Các hình thức cơ bản của mọi tồn tại là không gian và thời
gian; tồn tại ngoài thời gian thì cũng hết sức vô lý như tồn tại ở ngoài không gian”, do đó
có thể hiểu:

vật biện chứng khẳng định nguồn gốc vật chất, bản chất phản ánh vật chất của ý thức để
rút ra vai trò của ý thức trong mối quan hệ với vật chất.
Quan điểm duy tâm khách quan cho rằng nguồn gốc của ý thức từ một lực lượng
siêu tự nhiên (Ý niệm, Brahman, Thượng đế, Trời, v.v.).
Quan điểm duy tâm chủ quan cho rằng ý thức là cái vốn có của con người, không
do thần thánh ban cho, cũng không phải là sự phản ánh thế giới bên ngoài.
Quan điểm duy vật siêu hình coi ý thức là một dạng vật chất; “óc tiết ra ý thức cũng
như gan tiết ra mật”.
24
Quan điểm duy vật biện chứng cho rằng ý thức ra đời là kết quả của quá trình tiến
hóa lâu dài của tự nhiên và xã hội. Ý thức có hai nguồn gốc là nguồn gốc tự nhiên và
nguồn gốc xã hội
- Nguồn gốc tự nhiên của ý thức: Thể hiện qua sự hình thành của bộ óc con người
và hoạt động của bộ óc đó cùng mối quan hệ của con người với thế giới khách quan, trong
đó thế giới khách quan tác động đến bộ óc con người tạo ra quá trình phản ánh năng động,
sáng tạo.
Về bộ óc người: Ý thức là thuộc tính của dạng vật chất có tổ chức cao là bộ óc
người, là chức năng của bộ óc, là kết quả hoạt động sinh lý thần kinh của bộ óc. Bộ não
người là kết quả của quá trình tiến hóa lâu dài của giới sinh vật. Bộ óc càng hoàn thiện,
hoạt động sinh lý thần kinh của bộ óc càng có hiệu quả, ý thức con người càng phong phú
và sâu sắc. Bộ não của động vật chỉ đạt đến trình độ phản xạ, bản năng, tâm lý động vật,
trong khi đó bộ óc người có khả năng phản ánh thế giới bằng tư duy trừu tượng.
Về mối quan hệ giữa con người với thế giới khách quan tạo ra quá trình phản ánh
năng động, sáng tạo: Trong mối quan hệ giữa con người với thế giới khách quan, thông
qua hoạt động của các giác quan, thế giới khách quan tác động đến bộ óc người, hình
thành quá trình phản ánh.
Phản ánh là sự tái tạo những đặc điểm của dạng vật chất này ở dạng vật chất khác
trong quá trình tác động qua lại với nhau giữa chúng.
Những đặc điểm được tái tạo ở dạng vật chất nhận sự tác động bao giờ cũng mang
thông tin của dạng vật chất tác động được gọi là cái phản ánh; còn dạng vật chất tác động


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status