THU HOẠCH NẮM VỮNG VÀ VẬN DỤNG SÁNG TẠO CHỦ NGHĨA MÁC LÊ NIN VÀO SỰ NGHIỆP ĐỔI MỚI CỦA CÁCH MẠNG VIỆT NAM - Pdf 23

NẮM VỮNG VÀ VẬN DỤNG SÁNG TẠO CÁC NGUYÊN LÝ
CHỦ NGHĨA MÁC - LÊNIN VÀO sù nghiÖp ®æi míi ë viÖt
nam - BÀI HỌC RÚT RA TỪ SỰ KHỦNG HOẢNG, SỤP ĐỔ CỦA
CHẾ ĐỘ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở LIÊN XÔ VÀ ĐÔNG ÂU
1. Xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và Đông Âu.
* Thành tựu trong xây dựng chủ nghĩa xã hội.
Thực tiễn hơn 70 năm hình thành và phát triển, chủ nghĩa xã hội hiện
thực ở Liên Xô và Đông âu đã đạt được những thành quả to lớn. Những thành
tựu ấy xét về mặt lô gíc, nó là kết quả của sự vận động tất yếu của nhân loại;
xét về mặt quy mô, tính chất của sự ảnh hưởng, nó vạch ra một xu thế phát
triển mới, sâu sắc và rộng lớn trên thế giới; xét về mặt lịch sử đã đánh dấu
một giai đoạn mới về chất trong sự phát triển của xã hội.
Chủ nghĩa xã hội từ chỗ chỉ là khát vọng, ước mơ tốt đẹp của loài
người, một lý luận khoa học, đã trở thành hiện thực trong xã hội và phát
triển thành một hệ thống thế giới từ sau chiến tranh thế giới thứ hai, đạt
được những thành tựu to lớn về kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội trong xây
dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa cũng như là thành trì vững chắc
của hoà bình và an ninh thế giới.
Mặc dù, quá độ lên chủ nghĩa xã hội từ một nước tư bản trung bình,
điểm xuất phát thấp và trong vòng vây thù địch của hệ thống đế quốc thế
giới, nhưng Liên Xô và các nước Đông Âu đã nhanh chóng, tập trung, ưu
tiên phát triển lực lượng sản xuất, đào tạo con người trở thành lực lượng
lao động mới có trình độ văn hoá, tay nghề cao, phẩm chất đạo đức nghề
nghiệp trong sáng, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã
hội, tạo sự khác biệt về chất so với người lao động trong chế độ cũ Nga
Hoàng; không ngừng cách mạng hoá công cụ lao động, đưa máy móc hiện
đại vào quá trình sản xuất, phát triển nền kinh tế theo hướng cơ khí hoá, tự
động hoá …cùng với phát triển lực lượng sản xuất, từng bước xây dựng và
hoàn thiện quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa tạo ra sự phù hợp thúc đẩy
sản xuất phát triển, xoá bỏ chế độ chiếm hữu tư nhân, xây dựng chế độ
công hữu về tư liệu sản xuất. Tổ chức, điều hành nền kinh tế một cách hợp

cho con người phát triển toàn diện, có đời sống tinh thần lành mạnh, có nền
văn hoá mang đậm bản sắc dân tộc, hoà quện với tinh hoa văn hoá nhân loại
nhằm phục vụ chính bản thân quần chúng nhân dân lao động. Đây cũng là sự
khác biệt căn bản giữa chế độ xã hội chủ nghĩa với chế độ xã hội cũ - xã hội
tư bản chủ nghĩa. Trong xã hội tư bản chủ nghĩa quần chúng nhân dân lao
động không có gì khác ngoài sức lao động để bán cho nhà tư bản, họ không
có điều kiện để phát triển toàn diện cá nhân. trái lại dưới chủ nghĩa xã hội con
người luôn được giáo dục phát triển toàn diện, có lối sống trong sạch lành
mạnh “mình vì mọi người, mọi người vì mình”. Dựa trên cơ sở cùng chung
lợi ích – hài hòa về lợi ích cá nhân, tập thể và xã hội để hình thành các mối
quan hệ lành mạnh bền vững, khác xa với xã hội cũ là quan hệ giữa con người
với con người là quan hệ sòng phẳng, không tình nghĩa, quan hệ lấy đồng tiền
làm tiêu chí, không phải vì tình người….nhờ những giá trị đích thực này mà
quá trình hình thành và phát triển, chủ nghĩa xã hội hiện thực đã bảo vệ vững
chắc được thành quả cách mạng, cuộc sống bình yêu của nhân dân lao động,
đặc biệt là tạo ra được thế cân bằng về so sánh lực lượng đối trọng với chủ
nghĩa đế quốc, giữ vững hoà bình và an ninh thế giới, ngăn chặn được sự răn
đe xâm lược không cho chủ nghĩa đế quốc làm mưa, làm gió, bá chủ toàn cầu,
hình thành một thế giới hai cực. Đánh bại chủ nghĩa phát xít cứu loài người ra
khỏi thảm hoạ diệt vong, tạo điều kiện cho phong trào cách mạng thế giới nổ
ra và giành thắng lợi ở nhiều nước, làm cho hệ thống thuộc địa của chủ nghĩa
đế quốc bị sụp đổ, thu hẹp đáng kể phạm vi ảnh hưởng và sinh tồn của chủ
nghĩa tư bản, buộc nó phải tự điều chỉnh, thích nghi để kéo dài thêm sự tồn
tại; giúp đỡ sự nghiệp chính nghĩa của giai cấp công nhân và nhân dân lao
động của nhiều quốc gia, dân tộc trên cả hành tinh; không những thế, còn có
tác dụng tích cực và mạnh mẽ tới xã hội của thế giới tư bản.
3
* Liên Xô lâm vào tình trạng “trì trệ” và công cuộc cải tổ
Năm 1973, cuộc khủng hoảng dầu mỏ nghiêm trọng chưa từng có bùng
nổ rồi nhiều cuộc khủng hoảng chính trị, kinh tế, tài chính, tiền tệ… tiếp diễn

khăn trở ngại: sự suy sụp về kinh tế kéo theo những khó khăn về chính trị và
những tệ nạn xã hội; sự xung đột giữa các dân tộc và sắc tộc dẫn đến hiện
tượng li khai của một số nước cộng hoà ra khỏi Liên bang Xô viết (ba nước
Ban Tích, Grudia, Mônđôva…), sự chia rẽ và tách thành nhiều phe phái trong
nội bộ Đảng Cộng sản Liên Xô, sự ngóc đầu dậy của các thế lực chống lại chủ
nghĩa xã hội với những hoạt động chống phá của nó v.v… Đất nước Liên Xô
đứng trước những khó khăn và thử thách nghiêm trọng chưa từng có.
Ngày 19 - 8 - 1991, một số người lãnh đạo Đảng, Nhà nước Xô viết đã
tiến hành cuộc đảo chính lật đổ Tổng thống Goocbachốp. Cuộc đảo chính bị
thất bại ngày 21 - 8 và đã gây ra những hậu quả cực kỳ nghiêm trọng đối với
đất nước Xô viết: Đảng Cộng sản Liên Xô bị đình chỉ hoạt động trong toàn
liên bang; chính phủ Xô viết bị giải thể; 11 nước cộng hoà tuyên bố độc lập,
tách khỏi liên bang; một làn sóng chống Đảng Cộng sản, chống chủ nghĩa xã
hội dâng lên khắp mọi nơi.
Ngày 21 - 12 - 1991, những người lãnh đạo 11 nước cộng hoà trong
Liên bang Xô viết đã kí hiệp định thành lập Cộng đồng các quốc gia độc
lập (tiếng Nga viết tắt là SNG), bao gồm: Nga, Ucraina, Bêlarut,
Cadăcxtan, Udơbêkixtan, Tatgikixtan, Cưrơgưxtan, Tuôcmênixtan,
Adecbaigian, Ác mênia, Mônđôva. Sự ra đời của SNG buộc Tổng thống
Liên Xô M. Goocbachốp phải từ chức ngày 25 - 12 - 1991, và cùng ngày
này, lá cờ đỏ búa liềm trên nóc điện Kremli bị hạ xuống.
Như thế, chế độ xã hội chủ nghĩa đã bị sụp đổ ở Liên Xô và Liên bang
cộng hoà xã hội chủ nghĩa Xô viết, ra đời năm 1922, đã bị tan vỡ.
5
* Cuộc khủng hoảng của chủ nghĩa xã hội ở các nước Đông Âu từ
cuối năm 1988 đến 1991
Năm 1985, Liên Xô đã bước vào cải tổ, tuy rằng quá muộn, nhưng các
nước Đông Âu vẫn chưa hề chuyển động: Anbani vẫn bảo thủ giữ nguyên
những cơ chế cũ của 30 năm trước đây và “khép kín cửa” đối với bên ngoài;
các nhà lãnh đạo Rumani, Cộng hoà dân chủ Đức, Bungari thì cho rằng nước

Đây là một bước thụt lùi và một thất bại nặng nề của chủ nghĩa xã hội trên
phạm vi toàn thế giới, dẫn đến hệ thống thế giới của chủ nghĩa xã hội trên thực tế
không còn tồn tại nữa. Sự sụp đổ của chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và các
nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu vào cuối những năm 80 - đầu những năm 90
của thế kỷ XX không phải là tất yếu. Đây là sự kiện bi kịch lịch sử mà những
người cộng sản và nhân dân lao động toàn thế giới còn phải tiếp tục suy ngẫm
nhiều để từ đó rút ra những bài học cần thiết, sâu sắc về lý luận và thực tiễn.
Sau khi chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và các nước Đông Âu bị sụp
đổ, nhiều nhà chính trị phản động và cơ hội đã coi Cách mạng Tháng Mười là
"một sai lầm của lịch sử", là "một cuộc cách mạng đẻ non". Hoàn toàn không
phải như vậy ! Bất kỳ sự kiện lịch sử nào cũng đều có nguyên nhân của nó.
Cách mạng Tháng Mười đã nổ ra trong điều kiện khác với điều kiện mà Mác
dự đoán, nhưng lại nổ ra ở nơi mà giai cấp công nhân và chính đảng của nó đã
chuẩn bị đầy đủ và là nơi tình thế cách mạng đã chín muồi. Chủ nghĩa xã hội
ở Liên Xô đã phát triển với những thành tựu căn bản và rực rỡ mà đỉnh cao
của nó đã đạt được vào những năm 70 của thế kỷ XX. Vào thời kỳ đó, chủ
nghĩa xã hội đã biết đặt ra và giải quyết những vấn đề cốt lõi nhất của mình ở
một quy mô rộng lớn. Nhưng để củng cố những thành tựu đó, chủ nghĩa xã
hội cần phải phát triển theo chiều sâu, điều mà về mặt nhận thức lúc đó đã quá
rõ ràng. Chính sự chậm trễ trong việc phát hiện và khắc phục những thiếu sót,
khuyết tật của mô hình cũ về chủ nghĩa xã hội đã làm cho chủ nghĩa xã hội bắt
7
đầu lâm vào khủng hoảng cũng từ đỉnh cao những năm 70 ấy, khi xã hội Xô-viết
đã mất động lực đổi mới về cả lý luận lẫn thực tiễn trên nhiều vấn đề cơ bản.
Kế hoạch hóa kinh tế là phát minh của chủ nghĩa xã hội và ngày nay nó trở
thành giá trị của nhân loại. Chủ nghĩa xã hội đã đưa ra và thực thi một mô hình phát
triển kinh tế có kế hoạch khi thế giới còn bị thống trị bởi sự hỗn loạn của kinh tế thị
trường tư bản chủ nghĩa tự do cạnh tranh, của khủng hoảng định kỳ và đại khủng
hoảng, của tình trạng tất cả phó thác cho "bàn tay vô hình" của thị trường. Nền kinh
tế kế hoạch hóa đã chứng minh ưu thế của nó ở tính tổ chức, sự cân đối, khả năng

cấp trong Đảng làm cho trong Đảng cũng mất dần tinh thần dân chủ của các
thời kỳ cách mạng. Từ đó Đảng mất khả năng tự đổi mới, mất chỗ dựa to lớn
của mình là quần chúng công - nông. Đảng Cộng sản - bộ tham mưu chiến
đấu của giai cấp công nhân - đã bị mất sức chiến đấu, bị tê liệt ý chí ; còn
đảng viên bị mất hết bản lĩnh chính trị, thậm chí một số người trở nên cơ hội.
Kết quả là, một đảng mặc dù lớn như vậy đã bị tan rã bởi một lời tuyên bố và
bị đặt ra "ngoài vòng pháp luật" trong một trò chơi chính trị.
Điểm yếu của công cuộc cải tổ ở Liên Xô và Đông Âu là ở chỗ nó
không được chuẩn bị đầy đủ và có hệ thống về mặt lý luận ; bệnh giáo
điều về lý luận đã làm cho tư duy chính trị bị xơ cứng. Nó còn bị tâm lý
phản kháng bất bình, với những động cơ cả tiêu cực lẫn tích cực vốn bị
dồn nén qua hàng chục năm, chi phối. Những tâm lý này lại được sự kích
thích bởi kẻ thù của Liên Xô cả bên trong lẫn bên ngoài với phương châm
"càng xấu càng tốt", cộng thêm sự phản bội của những người đứng đầu
trong ban lãnh đạo của Đảng đã làm cho việc sửa chữa những khuyết tật
của mô hình chủ nghĩa xã hội Xô-viết biến thành việc phá bỏ toàn bộ mô
hình đó. Mà phá bỏ mô hình đó cũng đồng nghĩa với phá bỏ chủ nghĩa xã
hội hiện thực ở Liên Xô. Phá bỏ Nhà nước Xô-viết đối với kẻ thù của nó
vừa là phá bỏ chủ nghĩa xã hội vừa là tiêu diệt một đối thủ chính trị chiến
lược, một đối trọng quyền lực trên trường chính trị và quân sự quốc tế, tạo
ra thế đơn cực dưới sự thống trị của Mỹ.
9
Sự sụp đổ của Liên Xô và hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa làm cho
chủ nghĩa xã hội tạm thời lâm vào thoái trào. Nó buộc những người xã hội
chủ nghĩa và các đảng của họ phải tìm kiếm hình thức mới, nội dung mới cho
chủ nghĩa xã hội. Bởi vì chủ nghĩa xã hội phát triển trong lòng nhân loại, hấp
thụ tinh hoa nhân loại và nở hoa kết trái cho nhân loại. Sự thất bại hay sự biến
dạng của chủ nghĩa xã hội nơi này hoặc nơi khác không phải do bản chất của
chủ nghĩa Mác-Lênin Cách mạng Tháng Mười không chịu trách nhiệm về
những sai lầm chủ quan của các nhà lãnh đạo sau đó. Chủ nghĩa xã hội thế

tầng và của ý thức xã hội đến mức xa rời các nguyên tắc của chủ nghĩa duy
vật. Trong quá trình cải tổ, cải cách và đổi mới, hầu hết các đảng cộng sản
đều đã phải thừa nhận mắc sai lầm chủ quan, duy ý chí.
Mác nói rằng con người làm ra lịch sử của mình, nhưng không thể hành
động tùy tiện, bất chấp quy luật. Ở các nước xã hội chủ nghĩa người ta thường
nói rất nhiều đến đủ các loại quy luật, phát hiện ra rất nhiều quy luật hoặc
những vấn đề có tính quy luật, những sai lầm nghiêm trọng và phổ biến lại là
không tôn trọng và hành động không theo quy luật khách quan. Cái gọi là
những tính quy luật phổ biển của cách mạng xã hội chủ nghĩa và xây dựng
chủ nghĩa xã hội ngày nay ít được nhắc đến. Cái gọi là những quy luật kinh tế
của chủ nghĩa xã hội chẳng qua chỉ là sản phẩm của ý muốn chủ quan.
Mác nói tư tưởng mà không gắn với lợi ích thì tư tưởng đó tự bôi nhọ
mình. Thế nhưng ở các nước xã hội chủ nghĩa, tư tưởng thường được quan
tâm nhiều hơn so với lợi ích nhất là lợi ích cá nhân. Ai nói đến lợi ích cá nhân
có thể bị coi là mắc bệnh chủ nghĩa cá nhân xấu xa. Chính vì thế mà trước đây
chúng ta bàn nhiều vê động lực của sự phát triển xã hội, nhưng xã hội tiến rất
chậm vì bỏ quên mất động lực mạnh nhất là lợi ích và cũng do đó không phát
huy được tính tích cực cá nhân. Thật là sai lầm nếu tưởng rằng chủ nghĩa xã
hội có thể được xây dựng chỉ cần dựa trên nhiệt tình của quần chúng, mà
không cần quan tâm đến lợi ích của họ.
11
Mác đã có công phát hiện ra vai trò quyết định của quần chúng nhân dân
trong lịch sử, nhưng một số nước xã hội chủ nghĩa đã lâm vào tình trạng sùng
bái cá nhân, thần thánh hóa cá nhân người lãnh đạo, coi nhẹ vai trò của quần
chúng nhân dân. Một điều gần như nghịch lý là có nhà lãnh đạo hay nói
những điều cao siêu về đạo đức, ba hoa về lối sống xã hội chủ nghĩa cao đẹp
nhưng trong thực tế lại vi phạm thô bạo những tiêu chuẩn tối thiểu của đạo
đức và do đó bị mất uy tín đối với quần chúng nhân dân.
Mác viết: "Vấn đề tìm hiểu xem tư tưởng con người có thể đạt tới chân
lý khách quan hay không, không phải là một vấn đề lý luận, mà là một vấn đề

vì lúc đó chưa có đủ điều kiện để Mác có thể nghiên cứu đầy đủ và đi đến
những kết luận cuối cùng. Có những vấn đề Mác mới chỉ nêu ra những suy
nghĩ ban đầu, những gợi ý, những dự đoán đòi hỏi các thế hệ sau phải tiếp tục
nghiên cứu, giải quyết. Chủ nghĩa Mác phải được bổ sung và có khi phải tự
phủ định điểm này hay điểm khác, và chỉ có như thế nó mới có sức sống. Ngay
từ khi Mác và Ănghen còn sống, các ông đã luôn luôn tự phê phán, vạch rõ
những sai lầm đưa ra trước đó và nhấn mạnh sự cần thiết phải thay thế bằng
những luận điểm mới cho phù hợp với sự biến đổi của tình hình.
Có lúc Mác và Ănghen đã dự đoán rằng cách mạng vô sản ở Châu Âu
nhất định sẽ nổ ra nhanh chóng. Nhưng thực tế lại không diễn ra như vậy. Vì
thế Ănghen đã thừa nhận: "Lịch sử đã chứng minh rằng chúng tôi và tất cả
những ai nghĩ giống như chúng tôi đều sai lầm. Lịch sử đã chỉ rõ rằng trạng
thái phát triển kinh tế trên lục địa lúc bấy giờ còn rất lâu mới chín muồi để
xoá bỏ phương thức sản xuất Tư bản chủ nghĩa"
(5)
. Lê nin cũng nhận xét:
"Đúng, Mác và Ănghen đã lầm nhiều và thường lầm khi phán đoán cách
mạng sắp nổ ra trong khi hai ông hy vọng cách mạng sẽ thắng lợi (chẳng hạn
năm 1848 ở Đức)"
(6)
.
Sự cần thiết phải bổ sung các nguyên lý của Chủ nghĩa Mác - Lênin
không chỉ vì trong hệ thống lý luận của Mác - Lênin có nhiều vấn đề còn để
ngỏ, mà còn vì thế giới ngày nay đang có những biến đổi to lớn và sâu sắc đặt
ra những thách thức mới đối với triết học Mác. Cuộc khủng hoảng toàn diện ở
hàng loạt nước xã hội chủ nghĩa dẫn đến sự sụp đổ của chế độ xã hội chủ nghĩa
13
ở Liên xô và Đông Âu đặt ra yêu cầu phải nhận thức lại cơ sở lý luận của chủ
nghĩa xã hội. Cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại đặt ra nhiều vấn
đề mới đòi hỏi triết học phải lý giải. Cuộc cách mạng đó đã dẫn đến sự phát

mà lại tập trung nhiều biến đổi to lớn, đa dạng, phức tạp và có ảnh hưởng sáu
sắc tới đời sống nhân loại như mấy năm gần đây. Chúng ta đang sống ờ một
thời điểm dồn dập các sự kiện, cái cũ chưa kịp mất đi trong khi cái mới chưa
kịp định hình. Có thể nói nhiều biến đổi đã diễn ra mà khi sinh thời Mác
không thể nào hình dung nổi. Chúng ta là những người được chứng kiến và
sống trong những sự kiện đó, vì thế chính các Đảng Cộng sản phải nghiên cứu
và rút ra những kết luận cho mình.
3. Công cuộc đổi mới, sự trung thành và vận dụng sáng tạo chủ
nghĩa Mác-Lênin vào điều kiện cụ thể ở Việt Nam.
Việt Nam thực hiện công cuộc đổi mới toàn diện đất nước b¾t ®Çu tõ
n¨m 1986. §ổi mới ở nước ta có những nét đặc thù riêng. Đổi mới ở nước ta
diễn ra từ hai chiều: "từ dưới lên", tức là ở các hợp tác xã, doanh nghiệp và
"từ trên xuống", tức là các quyết định của Đảng và Nhà nước. Mối liên hệ hai
chiều ấy đã làm cho công cuộc đổi mới ở nước ta diễn ra không có sự xung đột
giữa "phía trên" và "phía dưới", cũng như không có các "cú sốc" được tạo ra
bởi các chính sách và biện pháp điều chỉnh vĩ mô quá cứng rắn và duy ý chí
của bộ máy lãnh đạo "phía trên" như ở một số nước khác. Đó là đặc điểm nổi
bật của quá trình đổi mới ở Việt Nam. Nói một cách khái quát, đặc điểm nổi
bật của quá trình đổi mới ở Việt Nam là, vừa có sự sáng tạo của nhân dân ở cơ
sở, vừa có sự lãnh đạo từ trên xuống. Do vậy, đổi mới ở nước ta đã dẫn đến
những thành công to lớn, có ý nghĩa lịch sử.
Khác với các nước Đông Âu và Liên Xô, ở Việt Nam, nhu cầu đổi mới
các chính sách trước hết xuất phát từ chính lĩnh vực kinh tế, chứ không phải là
hệ quả của những biến động chính trị. Đổi mới ở Việt Nam do Đảng Cộng sản
15
Việt Nam đề xướng và lãnh đạo, tổ chức thực hiện. Ngay từ đầu, Đảng ta đã
xác định, đổi mới không phải là xóa bỏ chủ nghĩa xã hội mà chính là để có
chủ nghĩa xã hội nhiều hơn, từng bước xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội
phù hợp với điều kiện lịch sử, xã hội nước ta trên cơ sở đổi mới tư duy lý luận
về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của nước ta.

Chỳng ta ang sng trong thi i quỏ t ch ngha t bn lờn ch ngha
xó hi trờn phm vi ton th gii, c m u t Cỏch mng Thỏng Mi
Nga v i. Sut hn 80 nm, ch ngha xó hi di ỏnh sỏng soi ng ca
hc thuyt Mỏc, ó t c nhng thnh tu to ln v nhiu mt, gúp phn
lm thay i i sng cỏc dõn tc trờn hnh tinh.
Tuy nhiờn, lch s thng rt phc tp, khụng theo con ng thng tp,
m tri qua nhng khỳc quanh. H thng xó hi ch ngha sau mt giai on
phỏt trin mnh m, do nhiu nguyờn nhõn khỏch quan v ch quan ó tm i
vo thoỏi tro. Nhng ngi i ch vi ch ngha xó hi, i ch vi ch
ngha Mỏc coi õy l "thi c vng", ra sc bỏc b ch ngha Mỏc, bỏc b ch
ngha xó hi. H rờu rao "ch ngha Mỏc ó li thi", "ch ngha xó hi v
ch ngha cng sn khụng phi l ớch m loi ngi hng ti", "nn vn
minh tin hc khụng dung np ch ngha xó hi", "ch ngha Mỏc l sn phm
ca nn vn minh c khớ, nú ch thớch hp th k XIX, ch khụng phự hp
vi thi i ngy nay", "s sp ca ch xó hi ch ngha mt mng
ln trờn th gii, chng t ch ngha Mỏc - Lờ-nin l mt sai lm" Nhng
lun iu i ch thiu cn c khoa hc y ca h ó khin nhiu ngi dao
ng, mt phng hng, gim lũng tin vo con ng xó hi ch ngha. ú
chớnh l thỏch thc ln nht i vi ch ngha Mỏc hin nay. Vỡ th, vic bo
v v phỏt trin ch ngha Mỏc l nhim v quan trng, bc thit ca chỳng ta
hin nay.
Sc sng ca hc thuyt Mỏc th hin nhiu lnh vc, nhng bao trựm
ch nú gii ỏp nhng vn m t tng tiờn tin ca loi ngi t ra, soi
sỏng cỏc nhim v lch s ó chớn mui ca nhõn loi, ú l nhim v gii
17
phóng con người khỏi mọi ách áp bức, bóc lột, khỏi mọi sự tha hóa của con
người. Sức sống của học thuyết Mác cũng được thể hiện trong thực tiễn đời
sống xã hội hiện đại, mặc dù đời sống xã hội trải qua những thăng trầm,
quanh co, khúc khuỷu, song vẫn không ra ngoài những quy luật phổ biến đã
được trình bày một cách khoa học, sáng rõ trong học thuyết Mác, mặc cho

từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Thắng lợi của cuộc tổng khởi nghĩa
Tháng Tám năm 1945, lập nên Nhà nước công nông đầu tiên ở Đông - Nam
Á, của hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ cùng bọn
tay sai của chúng; giành lại độc lập chủ quyền của dân tộc; những thành tựu
trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam đã khẳng định tính
đúng đắn, sức sống của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh đối
với con đường cách mạng Việt Nam, khẳng định sức mạnh đại đoàn kết của
nhân dân Cu-ba, nhân dân Mỹ - La-tinh và nhân dân tiến bộ thế giới với nhân
dân Việt Nam.
Trước tình trạng khủng hoảng chung của chủ nghĩa xã hội, Đại hội VI của
Đảng Cộng sản Việt Nam (12-1986) đã xác định, đối với Việt Nam đổi mới là
yêu cầu bức thiết của sự nghiệp cách mạng và là vấn đề có ý nghĩa sống còn.
Nhưng muốn đổi mới, Đảng Cộng sản Việt Nam phải nắm vững bản chất
cách mạng và khoa học của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh.
Đảng Cộng sản Việt Nam xác định, đổi mới dựa trên lý luận chủ nghĩa
Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Đổi mới không đổi màu, vẫn kiên trì
mục tiêu, lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Đổi mới vẫn giữ vững
vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản, phát huy quyền làm chủ của nhân dân,
xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Phát huy nội lực kết hợp với sức
mạnh của thời đại. Đổi mới kinh tế là trọng tâm, xây dựng Đảng là then chốt,
phát triển văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội.
19
Đổi mới ở Việt Nam do Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng và lãnh đạo,
tổ chức thực hiện. Ngay từ đầu, Đảng xác định đổi mới không phải là từ bỏ
chủ nghĩa xã hội mà chính là để có chủ nghĩa xã hội nhiều hơn, từng bước xây
dựng chủ nghĩa xã hội phù hợp với điều kiện lịch sử, xã hội Việt Nam trên cơ
sở đổi mới tư duy lý luận về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa
xã hội ở Việt Nam.
Đổi mới ở Việt Nam diễn ra trong bối cảnh quốc tế có nhiều biến đổi lớn,
hầu như các nước đều có sự điều chỉnh chính sách của mình. Những kinh

cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng trong tình hình mới.
Từ thực tiễn 20 năm đổi mới, Đại hội X đã rút ra một số bài học kinh
nghiệm lớn.
Một là, trong quá trình đổi mới phải kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và
chủ nghĩa xã hội trên nền tảng chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí
Minh.
Hai là, đổi mới toàn diện, đồng bộ, có kế thừa, có bước đi, có hình thức và
cách làm phù hợp.
Ba là, đổi mới phải vì lợi ích của nhân dân, dựa vào nhân dân, phát huy vai
trò chủ động, sáng tạo của nhân dân, xuất phát từ thực tiễn, và luôn nhạy bén
với cái mới.
Bốn là, phát huy cao độ nội lực, đồng thời ra sức tranh thủ ngoại lực, kết
hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại trong điều kiện mới.
Năm là, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, không
ngừng đổi mới hệ thống chính trị, xây dựng và từng bước hoàn thiện nền dân
chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm quyền lực thuộc về nhân dân.
Tiếp tục quán triệt chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh soi sáng
con đường cách mạng Việt Nam, trong công cuộc đổi mới hiện nay, Đại hội
XI của Đảng khẳng định toàn Đảng, toàn dân tranh thủ thời cơ, vượt qua
thách thức, đổi mới mạnh mẽ, toàn diện và đồng bộ phát triển nhanh, bền
21
vững thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, c«ng b»ng văn
minh theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Tiếp tục hoàn thiện thể chế kinh tế
thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại
hóa gắn với phát triển kinh tế tri thức. Nâng cao chất lượng, hiệu quả giáo dục
đào tạo, khoa học và công nghệ, phát triển nguồn nhân lực. Thực hiện tiến bộ
và công bằng xã hội ngay trong từng bước và từng chính sách phát triển. Phát
triển văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội. Tăng cường quốc phòng và an
ninh, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Mở rộng quan hệ
đối ngoại, chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế. Phát huy sức mạnh

mạng đúng đắn của Việt Nam. Điều đó đặt ra cho những người cộng sản chân
chính Việt Nam nhiệm vụ không ngừng học tập, nghiên cứu để nắm vững,
vận dụng, bảo vệ và phát triển tích cực chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ
Chí Minh trong thời đại ngày nay.

23
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. V.I Lênin: Toàn tập, Nxb Tiến bộ, Mat - xcơ - va, 1978, t45,
tr141.
2. C.Mác và Ph.Ănghen: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội,
1993, t.13, tr.15.
3. C.Mác và Ph.Ănghen: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội,
1995, t.3, tr.9-10.
4. C.Mác và Ph.Ănghen: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội,
2004, t.20, tr.455.
5. C.Mác và Ph.Ănghen: Tuyển tập, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1984,
tr.603.
6. V.I Lênin: Toàn tập, Nxb Tiến bộ, Mat - xcơ – va, 1979, t.15,
tr.293-294.
24


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status