Khãa luËn tèt nghiÖp Trêng §HSP Hµ Néi 2
SVTH: Bïi ThÞ Trang Khoa: GDCT
1
HÀ NỘI - 2011
Khóa luận tốt nghiệp Trờng ĐHSP Hà Nội 2
SVTH: Bùi Thị Trang Khoa: GDCT
2
Lời cảm ơn
Trong quá trình triển khai và hoàn thành khoá luận tốt nghiệp của mình.
Em xin bày tỏ lời cảm ơn chân thành tới cô Nguyễn Thị Thuỳ Linh đã tận tình
hớng dẫn và giúp đỡ em hoàn thành khoa luận này.
Em xin bày tỏ lời cảm ơn tới các thầy cô giáo trong khoa Giáo dục Chính
trị và các thầy cô giáo trong trờng Đại học S phạm Hà Nội 2 đã tận tình giảng
dạy em trong suốt khoá học để em có điều kiện tích luỹ kiến thức.
Em xin cũng bày tỏ lời cảm ơn tới gia đình cùng bạn bè đã động viện, giúp
đỡ em trong suốt thời gian em thực hiện khoá luận.
Tuy nhiên, trong điều kiện thời gian có hạn cũng nh kiến thức hạn chế
của bản thân, nên khoá luận khó tránh khỏi những thiếu sót. Kính mong sự góp ý
của quý thầy cô cùng bạn bè.
Em xin chân thành cảm ơn!
Sinh viên thực hiện
Bùi Thị Trang Khóa luận tốt nghiệp Trờng ĐHSP Hà Nội 2
SVTH: Bùi Thị Trang Khoa: GDCT
3
1.1.1. Khái niệm phủ định và phủ định biện chứng 6
1.1.2. Nội dung quy luật phủ định của phủ định 7
1.1.3. Nguyên tắc phơng pháp luận của quy luật phủ định của phủ định
và ý nghĩa của nó đối với sự nghiệp đổi mới giáo dục ở Việt Nam hiện nay 9
1.2. Vận dụng quy luật phủ định của phủ định vào sự nghiệp đổi mới giáo
dục Việt Nam hiện nay 10
1.2.1. Khái niệm giáo dục 10
1.2.2. Vai trò, vị trí của giáo dục và đào tạo 11
1.2.3. Quán triệt nguyên tắc phủ định của phủ định vào sự nghiệp đổi mới
giáo dục ở Việt Nam hiện nay 13
Chơng 2: Thực trạng nền giáo dục Việt Nam hiện nay 15
2.1. Những thành tựu của nền giáo dục Việt Nam 15
Khóa luận tốt nghiệp Trờng ĐHSP Hà Nội 2
SVTH: Bùi Thị Trang Khoa: GDCT
5
2.2. Những yếu kém, bất cập của nền giáo dục Việt Nam 19
Chơng 3: Phơng hớng và một số giải pháp cơ bản nhằm thúc đẩy sự
nghiệp đổi mới giáo dục ở Việt Nam hiện nay. 24
3.1. Bối cảnh quốc tề và trong nớc những thập niên đầu thế kỷ 21. 24
3.1.1. Bối cảnh quốc tế 24
3.1.2. Bối cảnh trong nớc 25
3.1.3. Cơ hội và thách thức đối với nền giáo dục Việt Nam 26
3.2. Phơng hớng đổi mới giáo dục Việt Nam hiện nay 28
3.3. Một số giải pháp cơ bản nhằm góp phần thúc đẩy sự nghiệp đổi mới
giáo dục ở Việt Nam hiện nay 30
3.3.1. Các nguyên tắc chung của sự nghiệp đổi mới giáo dục Việt Nam
( Vận dụng quy luật phủ định của phủ định) 30
3.3.2. Một số giải pháp cơ bản nhằm góp phần thúc đẩy sự nghiệp đổi mới
giáo dục ở Việt Nam hiện nay 31
đang phát triển. Các nớc này đang mày mò, trăn trở tìm lời giải trong việc đúng
đắn những giá trị tích cực của nền giáo dục truyền thống để kế thừa và phát huy.
Trong quá trình đổi mới giáo dục - đào tạo, bên
cạnh những mặt tích cực thì sự nghiệp giáo dục - đào tạo ở Việt Nam còn có
khuynh hớng lệch lạc. Cha khắc phục đợc những truyền thống xấu, lạc hậu
của nền giáo dục cũ nh chạy theo bằng cấp, nặng lý thuyết, nhẹ thực hành, có
Khóa luận tốt nghiệp Trờng ĐHSP Hà Nội 2
SVTH: Bùi Thị Trang Khoa: GDCT
7
khuynh hớng thơng mại hoá trong giáo dục, môi trờng giáo dục có chỗ cha
lành mạnh, phơng pháp giảng dạy và học tập còn lạc hậu. Truyền thống tốt của
giáo dục nh truyền thống hiếu học, tôn s trọng đạo, coi trọng giáo dục đạo đức
cha phát huy đúng mức, do vậy sản phẩm của giáo dục có khuynh hớng coi
nhẹ hoặc phủ nhận những giá trị quý báu của truyền thống dân tộc đợc hun đúc
trong hàng nghìn năm lịch sử và những thành quả của chủ nghĩa xã hội trớc
đây.
Hơn bao giờ hết giáo dục - đào tạo phải ngăn chặn những xu hớng sai
lầm, xác lập những xu hớng đúng đắn, xây dựng tinh thần độc lập tự chủ, ý chí
tự cờng, phát huy năng lực nội sinh của dân tộc, đi đôi với tiếp thu tinh hoa giáo
dục - đào tạo của thế giới, góp phần hình thành mẫu ngời hiện đại, đậm đà bản
sắc Việt Nam. Vấn đề kế thừa và phát huy những giá trị truyền thống giáo dục
và đào tạo của dân tộc với những tinh hoa giáo dục - đào tạo của nhân loại trong
sự nghiệp đổi mới giáo dục - đào tạo, nắm bắt tính quy luật, đánh giá đúng thực
trạng của nền giáo dục Việt Nam, đề xuất những giải pháp để thúc đẩy sự nghiệp
đổi mới giáo dục ở Việt Nam hiện nay vừa có ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực
tiễn sâu sắc, giúp cho việc lãnh đạo quản lý giáo dục - đào tạo đợc tốt hơn.
Vì vậy, việc nghiên cứu Vận dụng quy luật phủ định của phủ định
trong triết học Mác - Lênnin vào sự nghiệp đổi mới giáo dục ở Việt Nam hiện
nay là cần thiết và cấp bách, nên tôi đã chọn đề tài này để làm khoá luận tốt
dục và Đào tạo, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 1995; Vấn đề giáo dục và đào tạo của
Phạm Văn Đồng, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1999; Giáo dục tại Việt Nam:
xu hớng phát triển và những khác biệt, Nxb Thống kê, Hà Nội, 1996. Đặc biệt
là bộ sách Những vấn đề về chiến lợc phát triển công nghiệp hoá, hiện đại hoá
gồm 9 tập của Viện nghiên cứu Phát triển giáo dục, (Nxb Giáo dục, Hà Nội,
1998) đã đánh giá chi tiết thực trạng của nền giáo dục Việt Nam trên hầu các
lĩnh vực của giáo dục - đào tạo.
Những kết quả nghiên cứu trên đã đề cập đến nền giáo dục - đào tạo trên
nhiều phơng diện khác nhau. Song cha có bài viết nào đề cập đến việc Vận
dụng quy luật phủ định của phủ định vào sự nghiệp đổi mới giáo dục ở Việt Nam
hiện nay. Vì vậy tôi mạnh dạn nghiên cứu vấn đề này để làm rõ thực trạng và
đa ra phơng hớng và một số giải pháp cơ bản nhằm góp phần thúc đẩy công
cuộc đổi mới nền giáo dục Việt Nam hiện nay.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Khóa luận tốt nghiệp Trờng ĐHSP Hà Nội 2
SVTH: Bùi Thị Trang Khoa: GDCT
9
3.1. Mục đích nghiên cứu
Mục đích của đề tài là nhằm nghiên cứu vai trò của quy luật phủ định của
phủ định vào sự nghiệp đổi mới giáo dục Việt Nam và đề ra phơng hớng, một
số giải pháp cơ bản để góp phần thúc đẩy sự nghiệp giáo dục nớc ta trong giai
đoạn hiện nay.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Đề tài nhằm giải quyết những nhiệm vụ sau:
- Hệ thống hoá một cách khái quát lại nội dung quy luật phủ định của phủ
định.
- Làm rõ sự vận dụng vai trò của quy luật vào sự nghiệp đổi mới sự nhgiệp
giáo dục Việt Nam hiện nay.
- Đồng thời chỉ ra thực trạng, nguyên nhân và kiến nghị một số giải pháp
CHƯƠNG 1
một số vấn đề lý luận chung về quy luật phủ định của
phủ định và đổi mới giáo dục
1.1. Nội dung quy luật phủ định của phủ định
1.1.1. Quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng về phủ định của phủ
định
Bất cứ sự vật, hiện tợng nào trong thế giới đều trải qua quá trình phát
sinh, phát triển và diệt vong. Sự vật cũ mất đi đợc thay thế bằng sự vật mới triết
học gọi đó là phủ định.
Phép biện chứng duy vật không đề cập đến sự phủ định chung mà chỉ nói
đến sự phủ định làm tiền đề tạo điều kiện cho sự phát triển, cho cái mới ra đời
thay thế cái cũ. Đó là sự phủ định biện chứng.
Phủ định biện chứng là sự tự phủ định diễn ra do mâu thuẫn bên trong sự
vật, hiện tợng quy định. Sự phủ định này đã đợc các nhà triết học Hy Lạp cổ
Khóa luận tốt nghiệp Trờng ĐHSP Hà Nội 2
SVTH: Bùi Thị Trang Khoa: GDCT
11
đại phát hiện ra và trình bày dới dạng sơ khai, mộc mạc.Chúng ta không thể
quên luẩn điểm Con ngời không thể tắm hai lần trên cùng một dòng nớc,
Mặt trời mỗi ngày một đổi mới, nó luôn luôn đổi mới và vĩnh viễn đổi mới [2,
tr.154]. Mọi cái chỉ xảy ra có một lần, không lặp lại dù các sự vật có sự kế thừa
nhất định. Hay nh Talet cho rằng mọi sự vật không ngừng biến đổi, sinh ra và
chết đi. Toàn bộ thế giới tồn tại nh một vòng tuần hoàn biến đổi không ngừng.
Tuy nhiên, quan niệm của các nhà triết học Hy Lạp cổ đại mới chỉ đợc thể hiện
dới hình thức ngây thơ và mang tính duy vật tự phát.
Ngời đầu tiên trong lịch sử đã đa ra những t tởng rõ ràng về phủ định
biện chứng là Hêghen. Cùng với quan niệm mâu thuẫn, ông đã đa ra quan niệm
về phủ định. Hêghen phân biệt phủ định trừu tợng với phủ định cụ thể. Phủ định
dựng nó lại và xây dựng một phép biện chứng mới (phép biện chứng duy vật)
và coi đó là nhiệm vụ triết học quan trọng của mình. Các ông đã kế thừa, tiếp thu
có phê phán phép biện chứng duy tâm của Hêghen và tìm ra quy luật cơ bản chi
phối sự vận động, phát triển của lịch sử.
Theo C.Mác và PH.Ăngghen, phạm trù phủ định là sản phẩm của t duy,
là kết quả nhận thức thế giới khách quan của con ngời. Nội dung của phạm trù
phủ định là sự phản ánh, là hình ảnh của sự phủ định diễn ra trong tự nhiên và
trong lịch sử. Không phải nội dung của sự phủ định trong t duy quy định nội
dung sự phủ định trong tự nhiên, trong lịch sử. Trái lại, nội dung phủ định trong
tự nhiên và lịch sử sẽ quy định trong t duy.
Về phạm trù trong triết học duy vật biện chứng, trớc hết chúng ta phải kể
đến luận điểm sau đây của Ăngghen: phủ định, trong phép biện chứng, không
phỉa có nghĩa giản đơn là nói: không hoặc giả là tuyên bố rằng một sự vật là
không tồn tại, hay phá huỷ sự vật ấy theo một cách nào đó [1, tr.15].
Về một phơng diện nhất định, luận điểm trên là một định nghĩa của triết
học duy vật biện chứng với t cách là một phạm trù triết học. PH.Ăngghen đã
định nghĩa phủ định trong phép biện chứng bằng cách đa ra nội dung của một
loại phủ định khác phủ định trong phép biện chứng. Xét theo nội dung, đó
chính là phủ định hoàn toàn, tuyệt đối một cách siêu hình. Đó là loại phủ định
không căn cứ vào quá trình phát triển của sự vật, hiện tợng mà chỉ là một ý kiến
từ bên ngoài áp đặt vào quá trình đó, nên sự phủ định này không có khả năng dẫn
đến bất kỳ sự phủ định nào. Từ đó PH.Ăngghen đã chỉ rõ những đặc điểm của
Khóa luận tốt nghiệp Trờng ĐHSP Hà Nội 2
SVTH: Bùi Thị Trang Khoa: GDCT
13
phủ định trong phép biện chứng. Đó là phủ định căn cứ vào quá trình phát triển
hiện thực của sự vật, hiện tợng. Ăngghen nói về phơng thức phủ định nh sau:
Không những tôi phải phủ định, mà còn phải xoá bỏ sự phủ định ấy một lần
nữa. Cho nên phải thiết lập sự phủ định th nhất nh thế nào cho sự phủ định lần
Nh vậy, từ một số luận điểm trên chúng ta có thể hiểu nội dung cơ bản
của quy luật phủ định của phủ định nh sau: Quy luật này nói lên mối liên hệ, sự
kế thừa giữa cái khẳng định và cái phủ định, nhờ đó phủ định biện chứng là điều
kiện cho sự phát triển; nó bảo tồn nội dung tích cực của giai đoạn trớc và bổ
sung những thuộc tính mới làm cho sự phát triển đi theo đờng xoáy ốc.
Phủ định biện chứng có hai đặc trng cơ bản là tính khách quan và tính kế
thừa.
Phủ định biện chứng mang tính khách quan vì nguyên nhân của sự phủ
định nằm trong ngay bản thân sự vật. Đó chính là giải quyết những mâu thuẫn
bên trong sự vật. Nhờ việc giải quyết những mâu thuẫn mà sự vật luôn phát triển,
vì thế phủ định biện chứng là tất yếu khách quan trong quá trình vận động và
phát triển của sự vật. Phủ định biện chứng không phụ thuộc vào ý muốn chủ
quan của con ngời, con nời chỉ có thể tác động làm cho sự phủ định ấy diễn ra
nhanh hay chậm trên cơ sở nắm vững quy luật phát triển của sự vật.
Phủ định biện chứng mang tính kế thừa là kết quả của sự phát triển tự thân
của sự vật, nên nó không thể là sự thủ tiêu, sự phá huỷ hoàn toàn cái cũ. Cái mới
chỉ có thể ra đời trên nền tảng cái cũ, là sự phát triển tiếp tục của cái cũ trên cơ
sở gạt bỏ những mặt tiêu cực, lỗi thời, lạc hậu của cái cũ và chọn lọc, giữ lại, cải
tạo những mặt còn thích hợp, những mặt tích cực, bổ sung những mặt mới phù
hợp với hiện thực.
Trong quá trình phủ định biện chứng, sự vật khẳng định lại những mặt tốt,
mặt tích cực và chỉ phủ định những cái lạc hậu, cái tiêu cực. Do đó phủ định
đồng thời cũng là khẳng định.
Mặt khác, phủ định biện chứng không chỉ là sự khắc phục cái cũ, mà còn
là sự liên kết giữa cái cũ và cái mới, sự vật cũ với sự vật mới, giữa khẳng định với
phủ định, quá khứ và hiện thực. Phủ định biện chứng mang tính tất
yếu của mỗi liên hệ và phát triển.
1.1.2. Nguyên tắc phơng pháp luận của quy luật phủ định của phủ định và
ý nghĩa của nó đối với sự nghiệp đổi mới giáo dục ở Việt Nam hiện nay
chứng. Đồng thời trong quá trình đổi mới nền giáo dục, chúng ta phải chống lại
sự phủ định sạch trơn hoặc những t tởng bảo thủ, kế thừa một cách nguyên si
nền giáo dục cũ, đổi mới giáo dục Việt Nam cần biết kế thừa có chọn lọc những
Khóa luận tốt nghiệp Trờng ĐHSP Hà Nội 2
SVTH: Bùi Thị Trang Khoa: GDCT
16
thành tựu cuả nền giáo dục truyền thống, coi đó là tiền đề để xây dựng một nền
giáo dục Việt Nam mới.
1.2. Một số vấn đề lý luận về đổi mới giáo dục
1.2.1. Khái niệm giáo dục và đổi mới giáo dục
* Khái niệm giáo dục
Giáo dục luôn là một trong những vấn đề quan trọng đối với sự phát triển
của mọi thời đại. Vì vậy khái niệm giáo dục đã nhiều ngời bàn đến với nhiều
góc độ khác nhau.
Nhà bác học Mendelev (nớc Nga) cho rằng:Giáo dục là cái vốn tự mình
thu lợm đợc tơng ứng tiêu phí thời gian và lao động và với việc tích luỹ trí tuệ
và kinh nghiệm của con ngời.
Trong bảng phân loại giáo dục theo tiêu chuẩn quốc tế, thuật ngữ giáo dục
đợc định nghĩa là: Sự giao lu có tổ chức và đợc duy trì nhằm vào học tập.
Về cơ bản, các giáo trình về Giáo dục học ở Việt Nam đều trình bày: Giáo
dục là hiện tợng xã hội đặc biệt, bản chất của nó là sự truyền đạt và lĩnh hội
kinh nghiệm lịch sử xã hội của các thế hệ loài ngời.
Định nghĩa trên nhấn mạnh đến sự truyền đạt và lĩnh hội giữa các thế hệ,
nhấn mạnh đến yếu tố dạy học.
Theo J. Dewey, cá nhân con ngời không bao giờ vợt qua đợc quy luật
của sự chết, và cùng với sự chết thì những kiến thức, kinh nghiệm mà cá nhân
mang theo cũng sẽ biến mất. Tuy nhiên, tồn tại xã hội lại đòi hỏi những kiến
thức, kinh nghiệm của mỗi con ngời phải vợt qua đợc sự khống chế của sự
chết để duy trì tính liên tục của sự sống xã hội. Giáo dục là khả năng của loài
Đổi mới toàn diện giáo dục - đào tạo ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay
cần bao hàm nội dung kế thừa những giá trị tích cực của nền giáo dục truyền
thống, loại bỏ những nhân tố không còn phù hợp, đồng thời tiếp thu thành tựu
nền giáo dục nhân loại vào sự nghiệp đổi mới giáo dục Việt Nam.
1.2.2. Sự nghiệp đổi mới giáo dục ở Việt Nam qua các thời kỳ lich sử
Dân tộc Việt Nam vốn có truyền thống hiếu học và một nền giáo dục lâu
đời. Từ khi cộng đồng ngời Việt xuất hiện đã lu truyền việc giáo dục kiến thức
để làm ra của cải vật chất, mu sinh, dạy nhau tổ chức đời sống xã hội và giáo
Khóa luận tốt nghiệp Trờng ĐHSP Hà Nội 2
SVTH: Bùi Thị Trang Khoa: GDCT
18
dục đạo đức nhân sinh, tạo nên nhân cách con ngời Việt Nam. Làm nên giá trị
giáo dục truyền thống của dân tộc.
*Giáo dục Việt Nam trớc cách mạng tháng tám năm 1945
Năm 938, dân tộc Việt Nam khôi phục nền độc lập, thống nhất quốc gia,
xây dựng nhà nớc phong kiến. Nền giáo dục phong kiến do Nhà nớc chỉ đạo
đợc hình thành và phát triển qua 10 thế kỷ, cơ bản là giống nhau về cơ cấu, nội
dung, cách tổ chức việc dạy và học, thi hành chế độ khoa cử. Các triều đại
thờng chú trọng việc xây dựng một trờng đại học ở kinh đô, đặt các giáo chức
ở các phủ, lộ để trông coi học hành. Tại các trờng lớp t gia, do các ông đồ ngồi
dạy trẻ. Các ông đồ đợc ngời dân tôn kính, quý trọng bởi họ là những nhà nho,
bậc hi quan, các nhà khoa bảng. Nội dung dạy và học từ lớp t gia đến các
trờng lớp ở lộ, phủ, kinh đô đều lây Tứ th, Ngũ kinh làm sách giáo khoa.
Trải qua nghìn năm lịch sử, nền giáo dục phong kiến Việt Nam đã đào tạo
nhiều thế hệ tri thức tinh hoa của dân tộc, đồng thời cung cấp lực lợng chủ yếu
cho hệ thống quan chức quản lý nhà nớc và xã hội. Nền giáo dục ấy đã đào tạo
nên nhiều nhà bác học, nhà văn, nhà viết sử, nhà giáo, thầy thuốc có danh tiếng
cùng những thế hệ tri thức giữ vai trò quan trọng trong việc xây dựng, vun đắp
nền văn hiến Việt Nam. Một nền giáo dục phong kiến coi trọng luân lý, lễ nghĩa,
tiêu cao cả là: Tôn trọng nhân phẩm, rèn luyện chí khí, phát triển tài năng, đề cao
tinh thần khoa học, học tập và giảng dạy bằng tiếng Việt từ các trờng phổ thông
đến đại học.
Trong phiên họp đầu tiên sau ngày mùng 2-9-1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh
phát động chiến dịch chống nạn mù chữ trong cả nớc. Các lớp học bình dân
đợc mở rộng ở khắp nơi. Từ tháng 9-1945, cả nớc cùng khai giảng năm học
mới. Nhân ngày khai trờng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gửi th cho học sinh,
trong đó Ngời chỉ rõ: Non sông Việt nam có trở nên tơi đẹp hay không, dân
tộc Việt Nam có bớc tới đài vinh quang để sánh vai với các cờng quốc năm
châu hay không, chính là một phần lớn ở công học tập của các em.
Khi thực dân Pháp quay lại xâm chiếm nớc ta một lần nữa, cuộc kháng
chiến toàn quốc bùng nổ. Các trờng học ở thành phố di chuyển về nông thôn và
các khu an toàn. Phong trào xoá mù chữ vẫn đợc duy trì.
Năm 1950, Trung ơng Đảng và Chính phủ quyết định tiến hành cải cách
giáo dục: Nền giáo dục của dân, do dân và vì dân đợc thiết kế trên ba nguyên
Khóa luận tốt nghiệp Trờng ĐHSP Hà Nội 2
SVTH: Bùi Thị Trang Khoa: GDCT
20
tắc: dân tộc, khoa học và đại chúng. Phơng châm giáo dục là học đi đôi với
hành, lý luận đi đôi với thực tiễn.
- Giai đoạn giáo dục phục vụ sự nghiệp xây dựng xã hội chủ nghĩa ở miền
Bắc và thống nhất đất nớc (1954-1975).
Sau năm 1954, nền giáo dục dân chủ nhân dân đợc xây dựng trong kháng
chiến, giáo dục chuyển hớng mạnh mẽ nhằm đáp ứng yêu cầu mới của nhiệm
vụ xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và đấu tranh giải phóng miền Nam,
thống nhất đất nớc.
Cuộc cải cách giáo dục lần thứ hai ở miền Bắc là bớc đi quan trọng trong
quá trình xây dựng nền giáo dục xã hội chủ nghĩa. Hệ thống giáo dục mới này
đợc tiến hành không chỉ ở giáo dục phổ thông, mà còn ở giáo dục đại học và
dục ba năm (1987-1990). Sau ba năm đổi mới, ngành giáo dục đã dần tháo gỡ
khó khăn, khắc phục tình trạng yếu kém và thu đợc những kết quả đáng khích
lệ.
Năm 1991, Quốc hội thứ VIII, kỳ họp thứ 9 đã thông qua Luật phổ cập
giáo dục tiểu học. Trớc đó Nhà nớc đã quyết định phổ cập giáo dục tiểu học và
xoã mù chữ là chơng trình mục tiêu quốc gia.
Hội nghi Trung ơng Đảng lần thứ t (khoá VII) đã đề ra về nghị quyết về
tiếp tục sự nghiệp đổi mới sự nghiệp giáo dục và đào tạo. Nghị quyết nêu lên
bốn quan điểm chỉ đạo phát triển giáo dục - đào tạo trong đó nhấn mạnh giáo
dục và đào tạo cùng với khoa học công nghệ đợc xem là quốc sách hàng đầu.
Hơn nửa thế kỷ qua, dới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam nhân
dân Việt Nam đã xây dựng một nền giáo dục xã hội chủ nghĩa, có tính nhân dân,
tính dân tộc, khoa học, hiện đại, lấy chủ nghĩa Mác Lênin và t tởng Hồ Chí
Minh làm nền tảng. Đây là cơ sở cho việc nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi
dỡng nhân tài phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nớc.
Bớc sang thế kỷ 21, Việt Nam trong điều kiện kinh tế xã hội chuyển
mạnh sang kinh tế thị trờng định hớng xã hội chủ nghĩa, từ xã hội truyền
thống và khép kín sang xã hội chịu sự tác động của xu thế hiện đại và hội nhập,
đã và đang có những thang biến động và định hớng giá trị với những biểu hiện
cả tiêu cực, cả tích cực trong đời sống xã hội cũng nh trong hoạt động giáo dục.
Trong bối cảnh xu hớng toàn cầu hoá tác động đến mọi mặt của đời sống xã hội
và con ngời ở mọi quốc gia thì giáo dục cần tận dụng tối đa mọi cơ hội để đáp
ứng với những triển vọng và thách thức. Bắt đầu từ những viên gạch, chất kết
Khóa luận tốt nghiệp Trờng ĐHSP Hà Nội 2
SVTH: Bùi Thị Trang Khoa: GDCT
22
dính cùng nhiều vật liệu khác. Giáo dục liên tiếp tạo ra sự vững trái, đẹp đẽ cho
những ngôi nhà mới trên cái nền truyền thống. Để đáp ứng yêu cầu của thời đại
mới giáo dục Việt Nam cần phải tiến hành đổi mới toàn diện.
Vận dụng quy luật phủ định của phủ định vào sự nghiệp đổi mới giáo dục
là cần thiết. Giúp Đảng và Nhà nớc ta lựa chọn đợc khuynh hớng đúng đắn
cho sự phát triển nền giáo dục nớc nhà.
Khóa luận tốt nghiệp Trờng ĐHSP Hà Nội 2
SVTH: Bùi Thị Trang Khoa: GDCT
24
chơng 2
thực trạng của sự nghiệp đổi mới giáo dục ở việt naM
2.1. Bối cảnh quốc tế và trong nớc những thập niên đầu thế kỷ XXI
2.1.1. Bối cảnh quốc tế
Cuộc cách mạng khoa học công nghệ tiếp tục phát triển mạnh mẽ, làm
nền tảng cho sự phát triển kinh tế tri thức. Thế giới đang hớng tới cuộc cách
mạng công nghiệp, lấy tri thức làm động lực phát triển của mỗi quốc gia. Khoa
học công nghệ trở thành động lực cơ bản của sự phát triển kinh tế xã hội. Sự
phát triển của khoa học công nghệ đã làm thay đổi mạnh mẽ nội dung, phơng
pháp giáo dục trong các nhà trờng, đồng thời đòi hỏi giáo dục phải cung cấp
đợc nguồn nhân lực có trình độ cao.
Toàn cầu hoá và hội nhập quốc tế vừa là quá trình hợp tác để phát triển
vừa là quá trình đấu tranh của các nớc đang phát triển để bảo vệ quyền lợi quốc
gia. Cạnh tranh kinh tế giữa các quốc gia ngày càng trở nên quyết liệt, đòi hỏi
các nớc phải đổi mới công nghệ để tăng năng xuất lao động, đặt ra vị trí mới
của giáo dục. Các nớc đều xem sự phát triển của giáo dục là nhiệm vụ trọng
tâm của sự phát triển kinh tế xã hội, dành cho giáo dục những u tiên, đầu t,
đẩy mạnh cải cách giáo dục nhằm dành u thế cạnh tranh trên trờng quốc tế.
Quá trình toàn cầu hoá cũng chứa đựng nguy cơ chảy máu chất xám ở các nớc
đang nớc đang phát triển khi mà các nhân lực u tú có nhiều khả năng bị thu
hút sang các nớc giàu có. Giáo dục trong thế kỷ XXI phải thực hiện đợc sứ
mệnh nhân văn hoá quá trình toàn cầu hoá, biến toàn cầu hóa thành điều có ý
qua tăng liên tục từ 337 USD năm 1997 đã lên đến 823 USD năm 2007. Cơ cấu
kinh tế tiếp tục chuyển dịch theo hớng tăng cờng công nghiệp và dịch vụ. Tỷ
trọng nông, lâm nghiệp và thuỷ sản trong GDP ngày càng giảm; tỷ trọng công
nghiệp và dịch vụ ngày càng tăng. Đời sống nhân dân đợc cải thiện rõ rệt. Tỷ lệ
hộ nghèo giảm đáng kể, còn khoảng 14%. Việt Nam đang tích cực tham gia vào
hội nhập quốc tế với nhịp độ tăng trởng kinh tế khá cao, với môi trờng chính
trị ổn định và mức sống của tầng lớp nhân dân ngày càng đợc cải thiện. Việc
tích cực hội nhập quốc tế, và gia nhập Tổ chức Thơng mại thế giới (WTO) tạo
thêm nhiều điều kiện thuận lợi cho sự phát triển kinh tế xã hội của đất nớc.