Khóa luận tốt nghiệp
Khoa Giáo dục Chính trị
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ
==***==
BÙI THỊ THANH XUÂN
QUAN NIỆM CỦA KHỔNG TỬ VỀ GIÁO
DỤC VÀ SỰ VẬN DỤNG QUAN NIỆM NÀY
VÀO SỰ NGHIỆP GIÁO DỤC Ở VIỆT NAM
HIỆN NAY
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Triết học
GV: NGUYỄN THỊ THÙY LINH
HÀ NỘI - 2012
1
Khóa luận tốt nghiệp
Khoa Giáo dục Chính trị
LỜI CẢM ƠN
Trong suốt thời gian thực hiện khóa luận cũng như học tập tại trường,
em đã nhận được sự quan tâm giúp đỡ và tạo điều kiện của các thầy cô giáo
Nếu sai em xin hoàn toàn chịu trách nhiệm
Hà Nội, ngày 05 tháng 05 năm 2012
Sinh viên thực hiện
Bùi Thị Thanh Xuân
3
Khóa luận tốt nghiệp
Khoa Giáo dục Chính trị
MỤC LỤC
trang
MỞ ĐẦU…………………………………………………………
Chƣơng 1: Quan niệm của Khổng Tử về giáo dục
1.1. Cơ sở hình thành quan niệm của Khổng Tử về giáo dục ……………..
1.1.1.Hoàn cảnh kinh tế, chính trị xã hội Trung Quốc thời cổ đại với việc hình
thành quan niệm của Khổng Tử về giáo dục
1.1.2. Giới thiệu về Khổng Tử
1.2. Quan niệm của Khổng Tử về giáo dục ……………………………......
1.2.1. Khái niệm về giáo dục …………………………………………………
1.2.2. Nội dung quan niệm của Khổng Tử về giáo dục………………………
Chƣơng 2: Sự vận dụng quan niệm của Khổng Tử về giáo dục vào sự
nghiệp giáo dục ở Việt Nam hiện nay
2.1. Thực trạng của nền giáo dục Việt Nam hiện nay……………………
2.1.1. Bối cảnh trong nước và ngoài nước tác động đến nền giáo dục Việt
Nam hiện nay
2.1.2. Những thành tựu và hạn chế của nền giáo dục Việt Nam hiện nay
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Giáo dục là một hiện tượng xã hội đặc biệt, trong đó thế hệ đi trước
truyền đạt lại những kinh nghiệm xã hội cho thế hệ đi sau và thế hệ đi sau lĩnh
hội những kinh nghiệm xã hội đó, để tham gia vào đời sống xã hội, tham gia
lao động sản xuất, và các hoạt động xã hội khác. Giáo dục xuất hiện cùng với
sự xuất hiện của loài người và chỉ có trong đời sống xã hội loài người. Trải
qua quá trình phát triển lâu dài của lịch sử, cùng sự phát triển mạnh mẽ của xã
hội, giáo dục đã khẳng định vai trò ưu việt của mình trong việc hoàn thiện
nhân cách con người.
Trong thời đại ngày nay, thời đại của hội nhập kinh tế quốc tế, thời đại
của công nghệ thông tin, thì giáo dục càng giữ vai trò quan trọng đối với việc
thúc đẩy tiến trình phát triển của mỗi quốc gia và hội nhập kinh tế quốc tế. Đó
là phương tiện hữu hiệu phát triển nguồn nhân lực, vì mục tiêu phát triển kinh
tế - xã hội. Đối với Việt Nam, chúng ta đang trong giai đoạn đẩy mạnh công
nghiệp hóa, hiện đại hóa để tạo nên cơ sở vật chất, kĩ thuật của chủ nghĩa xã
hội, thì việc đào tạo, sử dụng nguồn nhân lực càng có ý nghĩa quyết định. Vấn
đề đào tạo và sử dụng con người luôn được Đảng và Nhà nước ta quan tâm.
Đại hội toàn quốc lần thứ VII của Đảng đã xác định: “Giáo dục và đào tạo
được xem là quốc sách hàng đầu để phát huy nhân tố con người, động lực
trực tiếp của sự phát triển xã hội”. Đại hội toàn quốc lần thứ IX của Đảng lại
tiếp tục khẳng định: “Phát triển giáo dục và đào tạo là một trong những động
lực quan trọng thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, là điều kiện
phát huy nguồn nhân lực con người - yếu tố cơ bản để phát triển xã hội, tăng
trưởng kinh tế nhanh và bền vững” [5, tr.108 - 109].
Như vậy, phát triển giáo dục - đào tạo là một trong những nhiệm vụ cấp
thiết của toàn Đảng, toàn dân, có ý nghĩa chiến lược trong sự nghiệp đổi mới
6
dục hiện đại. Một nguyên nhân khác không kém phần quan trọng là trong
nhiều năm gần đây, do quá coi trọng và hướng theo những thành tựu của nền
7
Khóa luận tốt nghiệp
Khoa Giáo dục Chính trị
giáo dục hiện đại mà dường như chúng ta đã lãng quên, chưa có sự khai thác
một cách triệt để, có hiệu quả những nhân tố, những giá trị tích cực trong tư
tưởng giáo dục của Khổng Tử. Nếu gạt bỏ những hạn chế do điều kiện lịch sử
chi phối, biết kế thừa một cách có chọn lọc những nhân tố và giá trị hợp lý
trong quan niệm của Khổng Tử về giáo dục. Vì vậy, việc nghiên cứu quan
niệm của Khổng Tử về giáo dục cho phép chúng ta nhìn lại quá khứ để đánh
giá những thành tựu, ưu điểm đạt được từ quan niệm của ông về giáo dục.
Là một sinh viên sư phạm, sau này sẽ trở thành một người giáo viên
trong tương lai, kế tục sự nghiệp giáo dục của đất nước. Em nhận thấy việc
nghiên cứu những nội dung trong quan niệm của Khổng Tử về giáo dục là rất
cần thiết nhằm vận dụng quan niệm này vào sự nghiệp giáo dục ở Việt Nam
hiện nay, góp phần xây dựng và hoàn thiện nền giáo dục nước nhà. Chính vì
vậy, em đã lựa chọn vấn đề “Quan niệm của Khổng Tử về giáo dục và sự
vận dụng quan niệm này vào sự nghiệp giáo dục ở Việt Nam hiện nay” làm
đề tài khóa luận tốt nghiệp của mình.
2. Tình hình nghiên cứu của đề tài
Như chúng ta đã biết, Nho giáo là một trường phái triết học lớn, lại
được ra đời từ thời cổ đại tại một quốc gia có nền văn minh rực rỡ nên Nho
giáo nói chung và hệ thống tư tưởng của Khổng Tử nói riêng, trong đó có
quan niệm của Khổng Tử về giáo dục là một đề tài thu hút được nhiều học giả
Nhìn chung, các công trình trên nghiên cứu một cách khái quát về tư
tưởng giáo dục của Nho giáo, trong đó có quan niệm về giáo dục của Khổng
Tử, cũng như nghiên cứu ảnh hưởng của Nho giáo nói chung đến Việt Nam,
mà chưa có đề tài nào đi sâu vào nghiên cứu từng nội dung cụ thể trong quan
niệm về giáo dục của Khổng Tử để từ đó làm rõ những mặt tích cực và hạn
chế trong quan niệm của ông về giáo dục và vận dụng quan niệm đó vào sự
nghiệp giáo dục ở Việt Nam hiện nay.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
Mục đích nghiên cứu:
Mục đích nghiên cứu của đề tài là nhằm tìm hiểu quan niệm về giáo
dục của Khổng Tử, đánh giá những mặt hạn chế và tích cực trong quan niệm
9
Khóa luận tốt nghiệp
Khoa Giáo dục Chính trị
về giáo dục của Khổng Tử và sự vận dụng quan niệm này vào sự nghiệp giáo
dục ở Việt Nam hiện nay.
Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Làm rõ cơ sở lý luận hình thành quan niệm của Khổng Tử về giáo
dục.
- Đánh giá những mặt tích cực và hạn chế trong quan niệm của Khổng
Tử về giáo dục.
- Tìm hiểu thực trạng của nền giáo dục Việt Nam hiện nay và những
định hướng về phát triển giáo dục nước ta hiện nay.
- Làm rõ sự vận dụng quan niệm của Khổng Tử về giáo dục vào sự
nghiệp giáo dục ở Việt Nam hiện nay.
7. Kết cấu của khóa luận
Ngoài phần mở đầu và kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phần nội
dung gồm 2 chương và 4 tiết
11
Khóa luận tốt nghiệp
Khoa Giáo dục Chính trị
Chƣơng 1
QUAN NIỆM CỦA KHỔNG TỬ VỀ GIÁO DỤC
1.1. Cơ sở hình thành quan niệm của Khổng Tử về giáo dục
1.1.1. Hoàn cảnh kinh tế, chính trị - xã hội Trung Quốc thời cổ đại với
việc hình thành quan niệm của Khổng Tử về giáo dục
Không có một học thuyết, tư tưởng nào lại ra đời trên một mảnh đất
trống không mà bao giờ sự ra đời của nó cũng có những điều kiện tiền đề
trước đó đem lại, trong đó có điều kiện khách quan như hoàn cảnh kinh tế,
chính trị - xã hội chi phối. Quá trình hình thành và phát triển tư tưởng giáo
dục của Khổng Tử cũng không phải là một ngoại lệ, nằm ngoài quy luật trên.
Do đó, muốn nghiên cứu tư tưởng của Khổng Tử không thể không đi vào
nghiên cứu, tìm hiểu điều kiện kinh tế, chính trị - xã hội, văn hóa thời kỳ
Xuân Thu - Chiến Quốc (770 - 221 trước Công nguyên), thời đại mà tư tưởng
của Khổng Tử nói chung cũng như tư tưởng giáo dục của Khổng Tử nói riêng
nảy sinh, hình thành và phát triển.
Thời kỳ Xuân Thu - Chiến Quốc là thời kỳ xã hội Trung Quốc đang có
những chuyển biến hết sức căn bản. Chế độ chiếm hữu nô lệ theo kiểu
phương Đông mà đỉnh cao là chế độ “tông pháp” nhà Chu đang suy tàn, chế
độ phong kiến sơ kỳ đang hình thành. Thời kỳ Xuân Thu đánh dấu bằng sự
chiếm chính quyền như họ Quý ở nước Lỗ, họ Trần ở nước Tề.
Như vậy, kết quả của những biến động về kinh tế đã dẫn đến sự đa
dạng trong kết cấu giai tầng của xã hội. Nhiều giai tầng mới xuất hiện, mới cũ
đan xen và mâu thuẫn ngày càng gay gắt, trong xã hội Trung Quốc bấy giờ
nổi lên những mâu thuẫn cơ bản sau:
Mâu thuẫn giữa tầng lớp mới lên có tư liệu sản xuất, có địa vị kinh tế
trong xã hội (Hiển tộc) mà không được tham gia chính quyền với giai cấp quý
tộc thị tộc cũ của nhà Chu đang nắm chính quyền.
Mâu thuẫn giữa tầng lớp sản xuất nhỏ, thợ thủ công, thương nhân với
giai cấp quý tộc thị tộc Chu.
Trong bản thân giai cấp quý tộc thị tộc Chu có một bộ phận tách ra,
chuyển lên giai cấp mới; một mặt họ muốn bảo lưu nhà Chu, một mặt họ cũng
13
Khóa luận tốt nghiệp
Khoa Giáo dục Chính trị
không hài lòng với trật tự cũ của nó. Họ muốn cải biến nó bằng con đường cải
lương, cải cách.
Tầng lớp tiểu quý tộc thị tộc, một mặt họ đang bị tầng lớp mới lên tấn
công về chính trị và kinh tế, mặt khác họ cũng có mâu thuẫn với tầng lớp đại
quý tộc thị tộc đang nắm chính quyền.
Mâu thuẫn nông dân công xã thuộc các thị tộc người Chu bị nô dịch với
nhà Chu và tầng lớp mới lên đang ra sức bóc lột, tận dụng sức lao động của
họ.
Đó là những mâu thuẫn của thời kỳ lịch sử đang đòi hỏi giải thể chế độ
thị tộc, tiến nhập vào xã hội phong kiến; đòi hỏi giải thể nhà nước của chế độ
đạo suy vi”, “Bá đạo” nổi lên lấn át “Vương đạo” của nhà Chu nên tuổi thơ
ông trải qua nhiều biến có đau buồn.
Khổng Tử sinh ra trong một gia đình quý tộc nhưng nghèo, cha là Thúc
Lương Ngột, làm chức võ quan nhỏ ở nước Lỗ, can đảm, mạnh mẽ, có chút
chiến công, sinh Khổng Tử khi ông bước sang tuổi 60. Mẹ là Nhan Thị Trưng
Tại, một người phụ nữ hiểu biết về văn hóa truyền thống. Năm Khổng Tử lên
2 tuổi thì cha mất. Khổng Tử ngay từ nhỏ đã thích chơi trò lễ tế và ham học
hỏi. Ông không học riêng một thầy nào mà hồi nhỏ được theo học trường
công mở dạy con cháu quý tộc về lục nghệ: lễ, xạ, nhạc, ngự, thủ, số. Năm 15
tuổi, Khổng Tử đã học hết chương trình đó để trở thành một Nho sinh và ông
bắt đầu để tâm trí vào việc tự học, nghiên cứu về lễ.
Năm 19 tuổi, Khổng Tử thành gia thất, nhận một chức quan nhỏ ở nước
Lỗ. Năm 22 tuổi, ông bắt đầu dạy học. Khoảng 30 tuổi, ông về kinh đô nhà
Chu khảo về luật lệ, tế lễ của các triều trước, rồi trở về nước Lỗ. Học trò của
ông theo học ngày càng nhiều. Ông vừa dạy học vừa đọc sách, suy nghĩ về
đạo của vua Nghiêu, Thuấn và Chu Công.
Vào tuổi “ngũ thập”, Khổng Tử có cơ hội ra làm quan và giữ các chúc
vụ quan trọng trong triều đình như: Trung Đô Tể (quan cai trị thành trung đô);
Tiểu Tư Không (quan quản lý ruộng đất và dân sự toàn nước Lỗ); sau đó
được phong làm Đại Tư Khâu, quan cai quản hình pháp, sau 4 năm ông được
vua nước Lỗ phong chức nhiếp chính sự. Trong suốt thời gian làm quan,
15
Khóa luận tốt nghiệp
Khoa Giáo dục Chính trị
Khổng Tử luôn luôn kiên trì tư tưởng trọng dân, lấy lễ giáo đặt trên pháp giáo.
Khoa Giáo dục Chính trị
1.2. Quan niệm của Khổng Tử về giáo dục
1.2.1. Khái niệm giáo dục
Giáo dục luôn là một trong những vấn đề quan trọng đối với sự phát
triển của mọi thời đại. Đồng thời, giáo dục cũng luôn thay đổi cùng với sự
vận động, phát triển của xã hội. Do đó, bàn tới giáo dục có rất nhiều quan
niệm khác nhau.
Theo quan niệm của nhà bác học Mendelev (người Nga) cho rằng: Giáo
dục là cái vốn có tự mình thu lượm được tương ứng tiêu phí thời gian và lao
động và với việc tích lũy trí tuệ và kinh nghiệm của con người.
Theo J.Dewey, cá nhân con người không bao giờ vượt qua quy luật của
sự chết, và cùng với sự chết thì là những kiến thức, kinh nghiệm mà cá nhân
mang theo cũng biến mất. Tuy nhiên, tồn tại xã hội lại đòi hỏi kiến thức, kinh
nghiệm của mỗi con người phải vượt qua được sự khống chế của sự chết để
duy trì tính liên tục của sự sống xã hội. Giáo dục là “khả năng” của loài người
để đảm bảo sự tồn tại của xã hội.
Trong bảng phân loại giáo dục theo tiêu chuẩn quốc tế, thuật ngữ giáo
dục được định nghĩa là: “Sự giao lưu có tổ chức và được duy trì nhằm vào
học tập”.
Về cơ bản, các giáo trình giáo dục học ở Việt Nam đều trình bày: Giáo
dục là một hiện tượng xã hội đặc biệt, bản chất của nó là sự truyền đạt và lĩnh
hội những kinh nghiệm lịch sử - xã hội các thế hệ loài người.
Trong tiếng Anh, từ “Giáo dục” là “Education”. Đây là một từ gốc Latinh
ghép bởi hai từ “Ex” và “Ducere” có nghĩa là dẫn con người qua khỏi hiện tại
của nó mà vươn tới những gì tốt lành hơn, hạnh phúc hơn. Trong định nghĩa này,
mục tiêu sâu xa của giáo dục là sự hoàn thiện của mỗi cá nhân. Người giáo dục
(thế hệ đi trước) có nghĩa vụ phải hướng dẫn, truyền lại cho thế hệ sau tất cả
những gì có thể làm cho thế hệ sau phát triển hơn, hạnh phúc hơn.
hạn chế, song có thể nói Khổng Tử là người đầu tiên trong lịch sử Trung
Quốc xây dựng được một hệ thống quan niệm về giáo dục khá hoàn chỉnh cả
về mục đích, đối tượng, nội dung, phương pháp giáo dục. Điều đó thể hiện
18
Khóa luận tốt nghiệp
Khoa Giáo dục Chính trị
tầm nhìn chiến lược, sâu sắc của ông, để lại cho đời sau nhiều bài học kinh
nghiệm quý báu về giáo dục.
1.2.2.1. Vai trò, mục đích và đối tượng giáo dục của Khổng Tử
Vai trò của giáo dục:
Khổng Tử cho rằng, giáo dục có vai trò, ý nghĩa tối quan trọng đối với
xã hội và từng cá nhân. Đối với xã hội, nếu giáo dục tốt cho mọi người thì sẽ
tác động trực tiếp vào việc thực hiện lẽ công bằng xã hội, đến tôn ti trật tự xã
hội, tác động đến cuộc sống sinh hoạt của người dân. Đối với cá nhân, giáo
dục có vai trò giáo hóa và hình thành nhân cách của mỗi cá nhân. Vì vậy, nếu
mọi người được giáo dục tốt về nhân, lễ… thì sẽ làm cho xã hội ổn định, thần
dân trăm họ sống trong cảnh thanh bình.
Đối với mỗi con người, giáo dục là yếu tố cơ bản và quyết định việc
hình thành bản tính con người hay còn gọi là “tính người”. Theo Trung Dung
thì tính của con người là do trời phú cho. Sự phú tính ấy, về cơ bản là đồng
đều. Khổng Tử nói "bản tính con người ta đều gần giống nhau nhưng do chịu
ảnh hưởng khác nhau mà thành khác xa nhau”. Như vậy, trong tư tưởng
Khổng Tử đã sớm nhận thức được vai trò của giáo dục trong việc giáo dưỡng
con người, “tính người”, để tạo nên những bậc quân tử.
Đối với xã hội, theo Khổng Tử muốn xã hội bình yên và hưng thịnh thì
Khổng Tử nói : "kẻ sĩ để chí vào đạo lý” [12, tr.273], tức là kẻ sĩ phải lấy việc
tu thân và lý tưởng chính trị làm mục tiêu phấn đấu. Có như vậy trên dưới
mới được rõ ràng, muôn dân mới được thuân lòng; trên vua thuận long trời, ắt
thiên hạ sẽ được bình yên.
Thứ hai, học để hoàn thiện nhân cách: Theo Khổng Tử người hấp thụ
giáo dục phải tự hoàn thiện nhân cách của mình. Ông cho rằng : “Cổ chi học
giã vị kỉ, kim chi học giã vị nhân” [12, tr.544]. Tức là kẻ xưa đi học chỉ lo cho
mình, ngày nay kẻ đi học còn lo cho người. Cho nên, mục đích giáo dục của
Khổng Tử là làm cho các đệ tử tự động hoàn thiện nhân cách của mình, trên
tinh thần đó công việc giáo dục của ông luôn hướng học trò vươn tới nhân
cách lý tưởng, thể hiện tính cách và phẩm chất của bậc thánh nhân, của người
20
Khóa luận tốt nghiệp
Khoa Giáo dục Chính trị
quân tử, kẻ sĩ. Đó bao gồm các đức tính: nhân, lễ, trung, hiếu,… Tóm lại,
nhân cách lý tưởng là hệ thống chuẩn mực đạo đức của một con người hoàn
thiện mà Khổng Tử nói riêng, Nho giáo nói chung luôn hướng đến và coi đây
là mục tiêu để đào tạo ra tầng lớp Nho sĩ của chế độ phong kiến.
Thứ ba, mục đích lớn lao nhất trong tư tưởng giáo dục của Khổng Tử
là xây dựng một xã hội lý tưởng. Trong xã hội đó, con người sống “chính
danh”, vua ra vua, tôi ra tôi, cha đúng nghĩa là cha, con đúng nghĩa là con, vợ
giữ đạo làm vợ, chồng đúng mực làm chồng… Mỗi người làm tròn bổn phận
của mình và thực hành đúng đạo lý xã hội, đâu cũng thấy nhân nghĩa, cương
thường được đặt lên đầu. Muốn đạt được mục đích này thì hai mục đích trên
phải được thực hiện và là tiền đề, cơ sở để xây dựng một xã hội lý tưởng, đối
loại”, Khổng Tử đã bứt ra khỏi hệ tư tưởng thần quyền và thế quyền đang
thống trị xã hội Trung Quốc lúc bấy giờ, tước bỏ đặc quyền học vấn, giáo dục
của quý tộc, đem nó phổ cập cho dân chúng, phá bỏ hàng rào ngăn cách giữa
quý tộc và bình dân, tạo điều kiện cho tầng lớp những người lao động có điều
kiện tu dưỡng, học tập. Như vậy, Khổng Tử là người mở đường trong việc tạo
lập sự công bằng xã hội trong giáo dục. Với Khổng Tử, bất kì ai muốn theo
học chỉ cần có lòng thành không cần lễ bạc, đặc biệt là biết giữ lễ, có lòng tín
thầy thì lúc nào ông cũng vui lòng truyền dạy. Đối với Khổng Tử, việc giảng
dạy cho học trò là vì nghĩa, vì trách nhiệm giúp đời, giúp người chứ không
phải vì danh lợi. Điều này được chứng minh bằng cuộc đời thanh bạch của
ông. Nhờ tư tưởng “hữu giáo vô loại” và tấm lòng bao dung, độ lượng mà
Khổng Tử đã thu nhận hơn 3.000 học trò.
Mặt khác, Khổng Tử lại cho rằng, có những hạng người khác nhau, có
những hạng người được chia theo địa vị xã hội và nhân cách con người (quân
tử, kẻ sĩ và tiểu nhân), có những hạng người được phân biệt bằng năng lực
nhận thức (thượng trí, trung nhân, hạ ngu). Tùy từng đối tượng mà dạy cho họ
biết ở những mức độ khác nhau. Ông phân biệt giữa “người thượng trí” và
“kẻ hạ ngu”. Ông còn phân biệt “tam phẩm”; đặc biệt là ông không tính đến
vai trò của giáo dục đối với phụ nữ. Khổng Tử coi phụ nữ là người khó dạy
22
Khóa luận tốt nghiệp
Khoa Giáo dục Chính trị
“phụ nhân nan hóa”. Ở đây rõ ràng thể hiện tư tưởng “trọng nam, khinh nữ”
của Khổng Tử nói riêng và của Nho giáo nói chung.
Như vậy, có thể nói, đối tượng giáo dục của Khổng Tử, một mặt mang
Khoa Giáo dục Chính trị
hành phẩm chất đạo đức, ngôn ngữ chủ yếu dành cho những người cần biện
luận lý thuyết, chính sự dành cho những người hoạt động chính trị, cai quản
quốc gia, văn học cho những người đi sâu nghiên cứu văn chương. Trên cơ sở
sự phân loại đó mà Khổng Tử có sự điều chỉnh nội dung và phương pháp
giảng dạy phù hợp, bồi dưỡng học trò thành nhân tài. Tuy nhiên, đối với tất cả
các loại học trò thì việc học “đạo làm người” vẫn là vấn đề quan trọng nhất,
chính vì vậy mà ông coi “đạo” và “đức” là nội dung quan trọng nhất trong
quá trình giáo dục.
Trong sự nghiệp giáo hóa con người, Khổng Tử luôn đề cao yếu tố
“đức”. Đức trong quan niệm của Khổng Tử là trí, dũng, nhân. Đó là nền tảng,
cơ sở, là cứu cánh đối với mỗi con người và xã hội, là cái gốc của đạo trị
quốc. Ông từng viết “làm chính trị bằng đức, thì tự mình sẽ giống như sao
Bắc Đẩu, ở nguyên một chỗ mà mọi vì sao khác chầu quanh mình” [12,
tr.244]. Vậy muốn dẫn dắt dân chúng, nhà cầm quyền phải dùng đức hạnh để
soi sáng đường lối. Đạo đức trong quan niệm của Khổng Tử không phải là có
sẵn trong mỗi người mà muốn đạt được đạo đức phải trải qua quá trình tu
dưỡng, rèn luyện và không ngừng học hỏi.
Đi liền với “đức” trong nội dung giáo dục, Khổng Tử cũng đề cao yếu
tố “đạo”, đó là ba mối quan hệ trong xã hội: vua - tôi, cha - con, vợ - chồng.
“Đạo” của Khổng Tử ít nói đến “thiên đạo” mà chủ yếu nói về “nhân đạo”.
Trong các mối quan hệ trên, Khổng Tử đòi hỏi phải có tính chất hai chiều:
vua lễ - tôi trung, cha từ - con hiếu… Đạo không phải cái gì đó cao siêu, tách
rời con người mà đạo là đạo người, đạo vì con người “đạo hiếu”. Theo ông
“đạo hiếu” là cái gốc trọng yếu nhất của con người trong phạm vi gia đình, từ
đó mở rộng ra phạm vi thiên hạ. Khổng Tử nói: “Đệ tử vào thì hiếu, ra thì đễ,
cẩn thận và giữ tín, thương yêu dân, gần gũi với người thân, làm những điều
đó rồi còn dư sức thì để học văn” [12, tr.224]. Trong luận điểm này, Khổng
chính bản thân mình. Như khi Trọng Cung hỏi Khổng Tử về điều nhân ông
đáp: “Điều gì không muốn, chớ thi hành cho người khác” [12, tr.473]; còn khi
Tử Cống hỏi về nhân, Khổng Tử trả lời: “Người nhân là người muốn xây
25