Đề án Kinh tế thương mại
LỜI NÓI ĐẦU
Việt Nam là vùng đất nhiều sông hồ, đầm phá, kênh rạch chi chít và bờ biển
dài với vùng biển dồi dào nguồn lợi. Với điều kiện tự nhiên thuận lợi,nguồn lợi sinh
vật phong phú, đa dạng như vậy, thuỷ sản Việt Nam đã hình thành và ngày càng phát
triển.
Trong điều kiện kinh tế hội nhập quốc tế, nhât là khi Việt Nam mới gia nhập
WTO ngành thuỷ sản Việt Nam có những cơ hội và thách thức không nhỏ. Đó vừa là
điều kiện vừa là rào cản đối với sự phát triển của ngành thuỷ sản Việt Nam. Đứng
trước những cơ hội và thách thức như vậy, vấn đề đặt ra cho ngành thuỷ sản Việt
Nam là phải biết tận dụng cơ hội, hạn chế thách thức, biến thách thức thành cơ hội và
ngày càng khắc phục được những hạn chế đang tồn tại trong ngành thuỷ sản, lấy
thành tựu làm tiền đề, bàn đạp cho sự phát triển.
Cùng với xu hướng thị trường thuỷ sản trong nước cũng như nước ngoài ngày
càng tăng, thuỷ sản Việt Nam đã và đang cố gắng từng ngày đáp ứng nhu cầu tiêu dùng
của người dân trong nước và ngoài nước. Xuất hiện trên thị trường nhiều mặt hàng nội
địa mới từ các nguồn nguyên liệu mới có (ví dụ như cá tra, cá ba sa, một số loài cá biển
và hải sản.. . ). Đã có sự gần nhau đáng kể về thị hiếu và an toàn vệ sinh giữa thuỷ sản
xuất khẩu và thuỷ sản nội địa. Năm 2006, vừa qua, thuỷ sản Việt Nam đã có một dấu
mốc quan trọng trong lịch sử phát triển ngành thuỷ sản, đó là xuất khẩu thuỷ sản đã
vượt quá ngưỡng 3 tỷ đô la giá trị xuất khẩu. Xuất khẩu thuỷ sản Việt Nam khá vững
chắc ở vị trí 1 trong 10 nước có giá trị xuất khẩu hàng đầu thế giới và nằm trong 4
ngành hàng có giá trị xuất khẩu hơn 3 tỷ đô la năm 2006.
Để có thể giữ vững và phát triển thị trường thuỷ sản, ngành thuỷ sản nói
chung và doanh nghiệp thuỷ sản nói riêng, phải đặt ra các mục tiêu cụ thể, có các giải
pháp phát triển rõ ràng. Bên cạnh đó, các chính sách của nhà nước phải được lựa
chọn và đề ra phù hợp với tình hình thuỷ hải sản hiện nay.
Hoàng Thị Thu Hiền Lớp: Thương mại 46A
1
Đề án Kinh tế thương mại
CHƯƠNG I: NHỮNG LÍ LUẬN CƠ BẢN VỀ TIÊU THỤ
2
Các yếu tố
sản xuất
Tiêu thụSản phẩm Sản xuất
Đề án Kinh tế thương mại
2. Đặc điểm TTSP thủy sản
Những đặc điểm TTSP của cơ sở sản xuất kinh doanh thuỷ sản gắn liền với
với những đặc điểm sản xuất thuỷ sản, với sản phẩm thuỷ sản và thị trường thuỷ sản.
Những đặc điểm đó là:
- Sản phẩm thuỷ sản và thị trường thuỷ sản mang tính chất vùng và khu vực.
Đặc điểm này xuất phát từ đặc điểm của sản xuất thuỷ sản gắn chặt với điều kiện tự
nhiên mang tính chất vùng và khu vực. Lợi thế so sánh và lợi thế tuyệt đối các vùng
là yếu tố rất quan trọng trong việc lựa chọn hướng sản xuất kinh doanh của cơ sở sản
xuất và tổ chức hợp lý quá trình TTSP. Đối với những sản phẩm chỉ thích ứng với
một vùng, thậm chí tiểu vùng và lợi thế tuyệt đối được coi như là những đặc điểm mà
ở vùng khác, khu vực khác không có, có thể có những hình thức và phương pháp tiêu
thụ đặc biệt. Đối với những loại sản phẩm khá phổ biến mà vùng nào cũng có thì phải
có hình thức tiêu thụ thích hợp.
- Tính chất mùa vụ của sản xuất thuỷ sản có tác động mạnh mẽ đến cung cầu
thị trường thuỷ sản và giá cả sản phẩm thuỷ sản. Sự khan hiếm dẫn đến giá cả cao
vào đầu mùa vụ, cuối vụ và sự dư thừa làm cho giá cả giảm vào chính vụ là một biểu
hiện của đặc điểm này. Việc chế biến, bảo quản và dự trữ sản phẩm để đảm bảo cung
cầu tương đối ổn định là một yêu cầu cần được chú ý trong quá trình tổ chức TTSP.
- Sản phẩm thuỷ sản rất đa đạng, phong phú và ngày càng trở thành nhu cầu
hàng ngày của mỗi người, với thị trường rất rộng lớn nên việc tổ chức TTSP phải hết
sức linh hoạt. Sản phẩm cồng kềnh, tươi sống, khó bảo quản, chuyên chở xa, vì vậy,
cần tổ chức các chợ nông thôn, các cửa hàng lưu động và nhiều hình thức linh hoạt,
thuận tiện cho người tiêu dùng, hoặc sơ chế trước khi đưa vào tiêu thụ, đồng thời
phải sử dụng các phương tiện chuyên dùng riêng khi vận chuyển, bảo quản.
- Một bộ phận hàng thuỷ sản được tiêu dùng nội bộ hoặc với tư cách là tư liệu
kinh tế của thị trường sản phẩm thuỷ sản, hay nói cách khác, đó là những yếu tố cấu
thành thi trường sản phẩm thuỷ sản. Quan hệ cung cầu trên thị trường sản phẩm thuỷ
sản là quan hệ giữa khối lượng sản phẩm hàng hoá thuỷ sản cung ứng cho thị trường
và nhu cầu có khả năng thanh toán của thị trường. Nhưng cung và cầu vận động nhờ
vào sự tác động mang tính “xúc tác” là giá cả của hàng hoá. Vì vây, nghiên cứu cung
cầu sản phẩm thuỷ sản trên thị trường phải đặt trong mối quan hệ tác động qua lại
với giá cả của sản phẩm hàng hoá trên thuỷ sản.
Thị trường sản phẩm thuỷ sản nói chung có vai trò vô cùng quan trọng đối với
sản xuất kinh doanh của ngành và cơ sở sản xuất kinh doanh thuỷ sản. thị trường sản
phẩm thuỷ sản là cầu nối giữa sản xuất và tiêu dùng. Nắm bắt thị trường, nghiên cứu
Hoàng Thị Thu Hiền Lớp: Thương mại 46A
4
Đề án Kinh tế thương mại
đầy đủ và dự báo chính xác thị trường tiêu thụ giúp cho cơ sở sản xuất kinh doanh
thuỷ sản có kế hoạch và chiến lược đúng đắn trong hoạt động sản xuất kinh doanh
của mình. Vì vậy, nghiên cứu và dự báo thị trường và nội dung quan trọng trước tiên,
là việc thường xuyên phải được tiến hành trong hoạt động sản xuất kinh doanh của cơ
sở sản xuất kinh doanh.
- Nghiên cứu thị trường: Nghiên cứu thị trường nhằm xác định khả năng tiêu
thụ sản phẩm của cơ sở sản xuất kinh doanh. Trên cơ sở đó nâng cao khả năng thích
ứng với thị trường của sản phẩm của cơ sở sản xuất kinh doanh từ đó tiến hành tổ
chức sản xuất và tiêu thụ sản phẩm của cơ sở sản xuất kinh doanh có hiệu quả theo
yêu cầu của thị trường. Nghiên cứu thị trường bao gồm việc: Nghiên cứu khả năng
thâm nhập và mở rộng thị trường của cơ sở sản xuất kinh doanh; Nghiên cứu các đối
tượng tiêu dùng sản phẩm của cơ sở sản xuất kinh doanh về cơ cấu, chất lượng, số
lượng, chủng loại, thời gian và địa điểm; Nghiên cứu cả những đối thủ cạnh tranh của
mình nghĩa là nghiên cứu không chỉ nhóm người mua mà cả nhóm người bán. Việc
nghiên cứu cả nhóm người bán tức là cả các đối thủ cạnh tranh của cơ sở sản xuất
kinh doanh cho phép tìm ra khả năng thâm nhập và mở rộng thị trường của cơ sở sản
xuất kinh doanh trong điều kiện có nhiều người bán và nhiều người mua tức là thị
cơ sở sản xuất kinh doanh? Thị trường nào là chính? Để cải tiến và nâng cao hiệu quả
tiêu thụ sản phẩm, cơ sở sản xuất kinh doanh nên tiến hành như thế nào? Bắt đầu từ
đâu? Thu hẹp hay mở rộng khả năng sản xuất của cơ sở sản xuất kinh doanh…?
1.2 Xác định giá cả tiêu thụ
Giá cả là một phạm trù của kinh tế hàng hóa. Với chức năng là thước đo giá
trị, giá cả như là tín hiệu của nhà sản xuất, người tiêu dùng và là thông tin quan trọng
thể hiện sự biến động cung cầu trên thị trường. Giá cả trở thành công cụ quan trọng
điều khiển quan hệ cung cầu, vì vậy giá cả vừa có tác dụng kích thích sản xuất, vừa
hạn chế đối với người sản xuất và tiêu dùng, mặt khác giá cả còn là một công cụ để
phân phối lại lợi nhuận của cơ sở sản xuất kinh doanh.
Việc xác định hợp lý giá cả của cơ sở sản xuất kinh doanh bảo đảm cho cơ sở
sản xuất kinh doanh bảo tồn được vốn sản xuất và có lãi. Giá tiêu thụ sản phẩm của
cơ sở sản xuất kinh doanh được quyết định bởi tổng chi phí sản xuất và lưu thông sản
phẩm.
Giá bán sản phẩm có thể tăng do 3 nguyên nhân:
- Tăng chi phí sản xuất: tăng cầu quá mức và tăng tiền quá mức (lạm phát).
Trong trường hợp các chi phí sản xuất tăng lên như chi phí lao động, thuế, chi phí
trung gian, chi phí hành chính… thì để đảm bảo giữ nguyên lợi nhuận, người sản
xuất buộc phải tăng giá. Về nguyên tắc để đảm bảo lợi nhuận, các chi phí sản xuất
phải được chuyển vào giá bán. Song trong điều kiện có cạnh tranh không phải bất cứ
sự tăng chi phí nào cũng đều làm tăng giá cả sản phẩm.
- Ảnh hưởng của cầu làm tăng giá. Sự tăng cầu một sản phẩm nào đó dẫn đến
làm tăng năng lực sản xuất sản phẩm đó. Nếu cầu vượt quá khả năng sản xuất thì
người bán có thể tăng giá. Song do cạnh tranh nên không thể tăng giá liên tục.
- Phát hành tiền quá mức cũng làm cho giá sản phẩm tăng lên. Đây là trường
hợp nền kinh tế lâm vào thị trường lạm phát.
Hoàng Thị Thu Hiền Lớp: Thương mại 46A
6
Đề án Kinh tế thương mại
Khi xem xét và quyết định mức giá bán ra của sản phẩm, cơ sở sản xuất kinh
Người tiêu
dùng
Bán thông qua các tổ
chức thươg mại,chế biến
Bán trực tiếp
Đề án Kinh tế thương mại
+ Sản phẩm có thể đến người tiêu dùng qua khâu tổ chức trung gian là chức
năng thương nghiệp: các đại lý, các công ty thương nghiệp và tư thương… Ở đây,
các cơ sở sản xuất kinh doanh bán buôn thủy sản cho các tổ chức thương nghiệp để
họ thực hiện bán lẻ thủy sản cho người tiêu dùng.
Hệ thống cơ sở hạ tầng TTSP thuỷ sản của Việt Nam đang từng bước phát
triển. Các chợ sản phẩm thuỷ sản đã hình thành và hoạt động sôi động. Các chợ cá
thường đi cùng với các bến hoặc cảng cá. Nói chung các chợ cá nằm trên đất liền, tuy
nhên gần đây, trên toàn quốc đã có 4 cảng cá và chợ cá ở vùng khơi mới hình thành.
Việt Nam có chợ cá độc lập hoặc tổng hợp cho các sản phẩm thuỷ sản.
Chợ bán buôn nội địa : Trước năm 2002, cả nước chưa có trung tâm kinh
doanh hay chợ bán buôn riêng biệt dành cho các sản phẩm thuỷ sản. Kinh doanh thuỷ
sản thường được tiến hành ở bến cá hoặc rải rác ở chỗ những người kinh donh thuỷ
sản. Các thành phần nghề cá không có đủ thông tin về sản lượng, khả năng tiếp cận
và tiêu thụ sản phẩm, giá cung cấp thuỷ sản không phản ánh giá thị trường thực tế.
Những người kinh doanh và tiêu dùng thuỷ sản không thể thoã mãn với các sản phẩm
kinh doanh.
Chợ và cửa hàng bán lẻ: người tiêu dùng có thể tiếp cận với sản phẩm thuỷ
sản ở các chợ khác nhau. Có thể mua được nhiều loại, dạng, số lượng và chất lượng
thuỷ sản ở các chợ tuỳ thuộc vào phạm vi và quy mô của chợ. Các chợ thường tập
trung nhiều nhất ở các thành phố và khu đô thị lớn nhằm cung cấp thực phẩm nói
chung và thuỷ sản nói riêng cho người tiêu dùng.
1.4. Tổ chức thông tin quảng cáo, giới thiệu sản phẩm của cơ sở sản xuất
kinh doanh
Hướng dẫn người tiêu dùng sử dụng sản phẩm của mình, thu hút sự chú ý của
+ Số khách hàng bán được,doanh số trên một khách hàng bình quân.
+ Tỷ lệ hoàn thành kế hoạch bán hàng về khối lượng và giá trị
+ Tỷ phần thị trường của doanh nghiệp trong kỳ, tỷ phần tăng thêm (giảm đi)
trong kỳ
* Chi phí bán hàng
+ Tổng chi phí bán hàng, các khoản mục chi phí bán hàng như chi khấu hao,
chi tiền lương, chi lãi vay ngân hàng.
+ Chi phí trực tiếp và gián tiếp bán hàng, chi phí cố định, chi phí biến đổi.
+ Vốn lưu động bình quân sử dụng.
+ Số vòng quay của vốn lưu động,thời gian một vòng quay.
+ Chi phí hàng hoá tồn kho.
+ Chi phí hàng mất không thu hồi.
Hoàng Thị Thu Hiền Lớp: Thương mại 46A
9
Đề án Kinh tế thương mại
* Hiệu quả bán hàng
+ Lãi gộp, lãi thuần.
+ Mực lợi nhuận trên doanh thu, chi phí và vốn kinh doanh.
+ Đánh giá mức độ hài lòng của khách hàng về hàng hoá, về dịch vụ,về nhân
viên phục vụ.
+ Những ý kiến không hài lòng của khách hàng
III. Những nhân tố ảnh hưởng đến tổ chức tiêu thụ sản phẩm của cơ sở sản
xuất kinh doanh thủy sản.
Các nhân tố ảnh hưởng đến tổ chức tiêu thụ sản phẩm có thể phân theo các
nhóm sau đây:
1. Nhóm nhân tố thị trường
Hiện nay các cơ sở sản xuất kinh doanh thủy sản tiến hành các hoạt động sản
xuất kinh doanh theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước. Tùy theo quy mô,
trình độ chuyên môn hóa, trình độ công nghệ… của từng loại cơ sở sản xuất kinh
doanh mà ảnh hưởng của thị trường có khác nhau. Mặc dù vậy, nhân tố thị trường có
Để tổ chức tốt việc tiêu thụ sản phẩm, các cơ sở sản xuất kinh doanh phải hiểu rõ
được đối thủ cạnh tranh của mình về mặt số lượng, chất lượng sản phẩm và đối
tượng khách hàng.
- Khi nghiên cứu về cung cầu sản phẩm, các cơ sở sản xuất kinh doanh một
mặt phải xem xét lại khả năng sản xuất kinh doanh của mình đối với sản phẩm, mặt
khác phải tìm hiểu kỹ các khả năng sản xuất của các sản phẩm mà mình sản xuất trên
thị trường. Đặc biệt cầu chú ý đến cải tiến và nâng cao chất lượng, mẫu mã, chủng
loại sản phẩm. Khi xem xét cung sản phẩm nhiều khi phải chú ý đến mấy yếu tố ảnh
hưởng đến cung sản phẩm sau dây: giá cả sản phẩm bao gồm giá cả sản phẩm đang
sản xuất, sản phẩm thay thế bổ sung và giá cả các đầu vào, trình độ kỹ thuật và ứng
dụng công nghệ vào sản xuất, môi trường tự nhiên và cơ chế chính sách đang được
thực hiện, đồng thời phải chú ý đến cả các áp lực của cầu.
- Giá cả là 1 yếu tố quan trọng, là thước đo sự cần bằng cung – cầu trong nền
kinh tế thị trường. Giá cả tăng cho thấy sản phẩm đó đang khan hiếm, cầu lớn hơn cung
và ngược lại. Tuy nhiên khi xem xét yếu tố giá cả cần chú ý đến các loại sản phẩm:
+ Loại sản phẩm cao cấp thông thường giá cả tăng lên thì cầu lại giảm.
+ Loại sản phẩm thay thế: khi giá cả của các loại sản phẩm này tăng lên thì
cầu của sản phẩm thay thế có thể tăng lên.
+ Loại sản phẩm bổ sung là những sản phẩm mà khi sử dụng sản phẩm này
phải sử dụng kèm theo loại sản phẩm khác.
2. Nhóm nhân tố về cơ sở vật chất – Kỹ thuật và công nghệ của sản xuất
và tiêu thụ sản phẩm.
Các nhân tố về cơ sở vật chất-kỹ thuật và công nghệ bao gồm hệ thống cơ sở
hạ tầng như đường sá giao thông, phương tiện vận tải, hệ thống bến cảng kho bãi, hệ
Hoàng Thị Thu Hiền Lớp: Thương mại 46A
11
Đề án Kinh tế thương mại
thống thông tin liên lạc…hệ thống này đóng vai trò quan trọng trong việc lưu thông
nhanh chóng kịp thời, đảm bảo an toàn cho việc tiêu thụ sản phẩm.
- Các nhân tố về kỹ thuật và công nghệ sản xuất và tiêu thụ đặc biệt quan
- Chính sách đầu tư và ứng dụng tiến bộ kỹ thuật vào thủy sản: đầu tư trước
hết vào việc xây dựng và cải tạo hệ thống cơ sở hạ tầng như hệ thống điện, đường
Hoàng Thị Thu Hiền Lớp: Thương mại 46A
12
Đề án Kinh tế thương mại
giao thông nông thôn và ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất, thực hiện
việc chuyển đổi cơ cấu thủy sản, nông thôn theo hướng sản xuất hàng hóa.
- Chính sách giá cả, bảo trợ sản xuất và tiêu dùng.
Trong điều kiện nền kinh tế thị trường, khả năng tiêu thụ sản phẩm của cơ sở
sản xuất kinh doanh phụ thuộc vào năng lực tổ chức của cán bộ quản lý cơ sở sản
xuất kinh doanh, nghệ thuật và khả năng tiếp thị, marketing, tổ chức hệ thống tiêu thụ
sản phẩm cho người tiêu dùng… vì vậy việc đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ quản
lý mà trước hết là đội ngũ cán bộ làm công tác tiêu thụ sản phẩm là hết sức quan
trọng.
Hoàng Thị Thu Hiền Lớp: Thương mại 46A
13
Đề án Kinh tế thương mại
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG TTSP THUỶ SẢN NƯỚC TA
SAU KHI GIA NHẬP WTO
I. Đăc điểm kinh tế - kĩ thuật và quá trình phát triển của ngành Thuỷ sản.
1. Vị trí, vai trò của ngành Thuỷ sản đối với nền kinh tề Việt Nam.
Nông nghiệp hiểu theo nghĩa rộng bao gồm các ngành trồng trọt, chăn nuôi,
lâm nghiệp và thuỷ sản.Như vậy nói đến ngành thuỷ sản, người ta nói đến ba khía
cạnh chủ yếu sau đây:
- Ngành thuỷ sản là một bộ phận hay còn gọi là một phân ngành của nông
nghiệp, bởi vì ngành thuỷ sản có những đặc điểm cơ bản của nông nghiệp nói chung.
Tư liệu sản xuất chủ yếu của ngành thuỷ sản là mặt nước; đối tượng lao động là
những sinh vật thuỷ sinh; kết quả sản xuất của ngành là những sinh vật, những kết
quả sinh học. Mặc dù có những đặc điểm tương tự của nông nghiệp, ngành thuỷ sản
vẫn có tính độc lập tương đối về kinh tế, kỹ thuật và môi trường. Tính độc lập tương
1.1 Ngành thuỷ sản cung cấp những sản phẩm thực phẩm quý cho tiêu dùng
của dân cư, cung cấp nguyên liệu cho phát triển một số ngành khác, tạo việc làm, xoá
đói giảm nghèo.
- Các kết quả nghiên cứu của các chuyên gia về dinh dưỡng đã khẳng định hầu
hết các loại thuỷ sản đều là loại thực phẩm giàu đạm, dễ tiêu hoá, phù hợp với sinh lý
dinh dưỡng ở mọi lứa tuổi. Càng ngày thuỷ sản càng được tin tưởng như một loại
thực phẩm ít gây bệnh tật (tim mạch, béo phì, ung thư.. .) và ít chịu ảnh hưởng của ô
nhiễm hơn. Xét về thành phần dinh dưỡng cho thấy: so với các loại thịt, các loại thực
phẩm là thuỷ sản có chứa ít chất mỡ hơn, nhiều khoáng hơn nhưng chất đạm cũng
khá cao. Ví dụ trong thịt bò, tỷ lệ tính theo phần trăm đạm là 16,2 – 19,2%, của mỡ là
11 – 28%, chất khoáng là0,8 – 1,0%, cũng tương tự theo tỷ lệ nói trên trong cá thu tỷ
lệ có thứ tự là: 18,6%, 0,4% và 1,2%; ở cá mối là: 16,4%, 1,6 – 2,3% và 1,2%; ở cá
hồng là: 17,8%,5,9% và1,4%. v.v.. . Theo công bố mới đây của FAO, thời kì 1995 –
1997, tổng sản lượng thuỷ sản thế giới đạt bình quân mỗi năm 119,4 triệu tấn. Phần
sản lượng không được làm thực phẩm cho người là 29,23 triệu tấn, phần sử dụng làm
thực phẩm cho người là 90,17 triệu tấn. Với số dân là 5,74 tỷ người, mức tiêu thụ
thuỷ sản bình quân đầu người mỗi năm ở các nước công nghiệp: 28,4 kg, ở các nước
thu nhập thấp thiếu thực phẩm là 13,1 kg/ người/năm, ở các nước có nền kinh tế
chuyển đổi: 10,2 kg/người/ năm. Ở khu vực Đông Á và Đông Nam Á, con số trên ở
Hồng Kông 56,6 kg, Malaixia 55,7 kg, Hàn quốc 51,2 kg, Đài loan 37,3 kg, Việt Nam
16,9 kg và thấp nhất ở Lào 8,9 kg. Trong năm 2001, mức tiêu thụ bình quân la 19,4
kg, cao hơn mức tiêu thụ bình quân thịt lợn 17,1 kg/ người và thịt gia cầm là 3,9
kg/người. Cũng giống như một số nước châu Á khác, thu nhập tăng đã khiến người
dân có xu hướng chuyển sang tiêu dùng nhiều hơn mặt hàng thuỷ sản. Có thể nói
ngành thuỷ sản có đóng góp không nhỏ trong việc bảo đảm an ninh lương thực quốc
gia.
_ Ngành thuỷ sản cung cấp một phần thức ăn cho chăn nuôi, đặc biệt cho chế
biến thức ăn nuôi công nghiệp. Bột cá và các phế phẩm, phụ phẩm thuỷ sản chế biến
là nguồn thức ăn giàu đạm được sử dụng làm thức ăn hoặc để chế biến làm thức ăn
phục vụ chăn nuôi gia súc, gia cầm. Theo tính toán của FAO, hàng năm có khoảng
Để đánh giá vai trò của các khu vực, ngành kinh tế, người ta thường sử dụng
hai chỉ tiêu chủ yếu, đó là tốc độ tăng trưởng của từng ngành, khu vực và tỷ trọng của
từng ngành, từng khu vực trong toàn bộ nền kinh tế. Khi sử dung hai chỉ tiêu nêu
trên, cần chú ý hai trường hợp: tốc độ tăng trưởng cao nhưng tỷ trọng nhỏ hoặc nếu
tỷ trọng lớn nhưng tốc độ tăng trưởng thấp thì mức độ đóng góp vào tốc độ tăng
trưởng chung là thấp. Ngày nay, người ta đưa ra phương pháp đánh giá mới, đó là tỷ
trọng đóng góp của từng ngành, từng khu vực vào tốc độ tăng trưởng chung. Phương
pháp này cho phép đồng thời xét đến sự tác động theo cả hai chỉ tiêu tốc độ tăng
trưởng và tỷ trọng của từng ngành, khu vực trong tốc độ tăng trưởng chung. Do vậy,
chỉ tiêu đóng góp vào sự tăng trưởng của từng ngành, từng khu vực cho thấy rõ hơn,
lượng hoá được vai trò của từng ngành, từng khu vực trong nền kinh tế.
Hoàng Thị Thu Hiền Lớp: Thương mại 46A
16
Đề án Kinh tế thương mại
Trong những năm qua, tỷ trọng đóng góp của khu vực nông, lâm, ngư nghiệp
vào tốc độ tăng trưởng chung có xu hướng giảm dần và hiện chỉ còn đóng góp trên
dưới 10%. Nguyên nhân chủ yếu là tỷ trọng của nông, lâm, thuỷ sản trong GDP
giảm, từ 24,53% năm 2000 xuống còn 21,65% trong năm 2003. Đây là xu hướng phù
hợp với quá trình đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. trong khi tỷ
trọng đóng góp của ngành nông, lâm, thuỷ sản giảm, thì tỷ trọng đóng góp vào tăng
trưởng của ngành thuỷ sản lại tăng lên,từ11,4% năm 2001 lên 13,0% trong năm 2003.
Tỷ trọng đóng góp vào tăng trưởng của các khu vực và các ngành
Năm 2000 Năm 2001 Năm 2002 Năm 2003
Tốc
độ
tăng
%
Tốc độ
tăng
%
sản cả về sản lương, chất luợng cũng như chủ động trong sản xuất. Điều này tất yếu
dẫn đến sự chuyển đổi về cơ cấu sản xuất- ưu tiên phát triển các họt động kinh tế mũi
nhọn, đem lại hiệu quả kinh tế cao.
Việt Nam có nhiều tiềm năng để phát triển nuôi trồng thuỷ sản ở khắp mọi
miền đất nước cả về nuôi biển, nuôi nước lợ và nuôi nước ngot. Đến năm 2003, đã sử
dụng 612.778 ha nước măn, lợ và 254.835 ha nước ngọt dể nuôi thuỷ sản. Trong đó,
đối tượng nuôi chủ lực là tôm với diện tích 580.465 ha.
Bên cạnh nhưng tiềm năng đã biết, Việt Nam còn có những tiềm năng mới
được xác định có thể sử dụng để nuôi trồng thuỷ sản như sử dụngvật liệu chống thấm
để xây dựng công trình nuôi trên các vùng đất cát hoang hoá, chuyển đổi mục đích sử
dụng các diện tích trồng lúa, làm muối kém hiệu quả sang nuôi trồng thuỷ sản.. .
Nuôi biển là môt hướng mở khác cho ngành thuỷ sản, đã có bước khởi động ngoạn
mục với các loại tôm hùm, cá giò, cá mú, cá tráp, trai ngọc,. . với các hình thức nuôi
lồng, bè. Nuôi nước ngot có bước chuyển mạnh từ sản xuất nhỏ tự túc sang sản xuất
hàng hoá lớn, điển hình là việc phát triển nuôi cá basa, cá tra xuất khẩu đem giá trị
kinh tế cao;Nuôi đặc sản được mở rộng; Sự xuất hiện hàng loạt trang trại nuôi chuyên
canh ( hoặc canh tác tổng hợp nhưng lấy nuôi trồng thuỷ sản làm hạt nhân) chuyển
đổi phương thức nuôi quảng canh, quảng canh cải tiến sang bán thâm canh va thâm
canh đã góp phần quan trọng vào sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá nônh
nghiệp, nông thôn.
Ngành thuỷ sản có tốc độ tăng trưởng rất nhanh so với các ngành kinh tế
khác. Tỷ trọng GDP của ngành Thuỷ sản trong tổng GDP toàn quốc liên tục tăng, từ
2,9% ( năm 1995) lên 3,4% (năm 2000) và đạt 3,93% vào năm 2003.
Từ cuối thập kỷ 80 đến năm 2000, ngành thuỷ sản dã có những bước tiến
không ngừng. Các chỉ tiêu chủ yếu đề ra trong chiến lược Phát triển kinh tế xã hội
ngành thuỷ sản thời kì 1991 – 2000 dã được hoàn thành vượt mức:
Chỉ tiêu Đơn vị Kế hoạch Thực hiện
Tổng sản lượng thuỷ sản
Trong đó
- Sản lượng khai thác hải sản
Nguồn: Niên giám thống kê Nông – Lâm – Thủy sản
Hoàng Thị Thu Hiền Lớp: Thương mại 46A
19
Đề án Kinh tế thương mại
1.3 Tham gia vào xuất khẩu, thu ngoại tệ cho đất nước, mở rộng quan hệ
thương mại quốc tế.
Đối với những nước có tiềm năng về thuỷ vực và nguồn lợi thuỷ sản, phát
triển ngành thuỷ sản tạo ra nguồn hàng xuất khẩu có giá trị, tăng thu ngoại tệ cho đất
nước.
Trong nhiều năm qua, ngành thuỷ sản nước ta đã từng bước phát triển và đóng
góp quan trọng vào hoạt động xuất khẩu của dất nước. Năm 1980, sản lượng thuỷ sản
cả nước đạt 558,66ngàn tấn, trong đó xuất khẩu 2,72 ngàn tấn, đạt hía trị kimngạch
11,3 triệu USD. Đến năm 2001, các con số tương tự đạt: sản lượng là 2.226,9 ngàn
tấn (tăng gần 4 lần), xuất khẩu là 358,833 ngàn tấn ( tăng gần 132 lần), đạt giá trị kim
ngạch là 1760 triệu USD (tăng 155 lần). Năm 2003, mặc dù ngành thuỷ sản nước ta
phải đối mặt với những diễn biến phức tạp của thị trường thế giới, những rào cản
thương mại của một số nước, nhưng giá trị kim ngạch xuất khẩu thuỷ sản vẫn đạt 2,3
tỷ USD (bằng 1,3 lần so với năm 2000), trong đó xuất khẩu tôm đạt trên 1 tỷ USD đã
khẳng định vị trí xuất khẩu tôm trên thị trường thế giới và trong nghề nuôi trồng thuỷ
sản nước ta. Đối với các doanh nghiệp chế biến xuất khẩu trong ngành thuỷ sản, đến
nay đã có những bước tiến quan trọng trong việc đổi mới công nghệ, nâng cao sức
cạnh tranh. Đã có 100 doanh nghiệp được EU công nhận dủ điều kiện an toàn vệ
sinh, hơn 120 doanh nghiệp được cấp phép vào thị trường Mỹ. Các doanh nghiệp
cũng từng bước nâng cao năng lực xúc tiến thương mại để đi vào thị trường mới. Đối
với toàn ngành thuỷ sản, đã có nhưng tiến bộ đáng kể về gắn kêt thị trường ngoài
nước (về số lượng, chất lượng, vệ sinh an toàn thực phẩm) với thực tiễn sản xuất kinh
doanh chế biến, nuôi trồng, khai thác với phát triển cơ sở hậu cần dịch vụ; gắn kết
giữa khâu chế biến xuất khẩu với yêu cầu vệ sinh trong nuôi trồn, bảo quản và khai
thác sản phẩm; gắn kết giữa khâu ché biến xuất khẩu với chế biến phục vụnhu cầu thị
trường nội địa. Hiện nay sản phẩm thuỷ sản Việt Nam đã xuất khẩu tới 75 nước và
có tiềm năng về biển, đặc biệt vùng nông thôn ngoại thành phát triển chăn nuôi thuỷ
đặc sản là chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp và nông thôn cho hiệu quả cao. Về
mặt xã hội, ở các vùng nghèo, vùng sâu, vùng cao, phát triển chăn nuôi thuỷ sản ao
hồ, sông suối tạo thêm nhiều việc làm, tăng thu nhập cho đồng bào đân tộc; trợ giúp
cho việc xoá bỏ tập quán du canh du cư của đồng bào. Việc sản xuất và tiêu dùng các
sản phẩm thuỷ sản tại chỗ ở các vùng này còn góp phần trực tiếp cải thiện dinh
dưỡng bữa ăn, làm tăng sức khoẻ của người lớn và giảm suy dinh dưỡng trẻ em.
Ngoài ra, phát triển các trạm tàu khai thác thuỷ sản xã bờ còn góp phần tăng cường
an ninh quốc phòng cho vùng biên giới biển đảo của Tổ quốc. Đối với,một số vùng
biển, vùng ngập nước ven biển hay trong đất liền, phát triển thuỷ sản cũng góp phần
vào phát triển ngành du lich, đặc biệt là du lịch sinh thái, du lịch văn hoá.
2. Đăc điểm kinh tế - kỹ thuật của ngành thuỷ sản.
2.1 Đối tượng sản xuất là các sinh vật sống trông nước
Các loại động thực vật sống trong nước là đối tượng sản xuất của ngành thuỷ
sản. Môi trường nước mặt cho sản xuất thuỷ sản gồm có biển và các mặt nước trong
nội địa. những sinh vật sống trong môi trường nước, với tính cách là đối tượng lao
động của ngành thuỷ sản, có một số điểm đang lưu ý như sau:
_ Về trữ lượng, khó xác định một cách chính xác trữ lượng thuỷ sản có trong
một ao hồ hay ngư trường. Đặc biệt ở các vùng mặt nước rộng lớn, các sinh vật có
Hoàng Thị Thu Hiền Lớp: Thương mại 46A
21
Đề án Kinh tế thương mại
thẻ di chuyển tự do trong ngư trường hoặc di cư từ vùng này đến vùng khác không
phụ thuộc vào ranh giới hành chính. Hướng di chuyển của các luồng tôm cá chịu tác
động của nhiều nhân tố như thời tiết khí hậu, dòng chảy và đặc biệt là nguồn thức ăn
tự nhiên. Để bảo vệ, tái tạo và khai thác có hiệu quả các nguồn lơi thuỷ sản, một mặt
cần phải chia rannh giới mặt nước, mặt biển, vùng biển giữa các địa phương hay các
quốc gia nhưng mật khác cũng cần có sự hợp tác chặt chẽ giữa các địa phương hay
các nước trong nuôi trồng, đánh bắt thuỷan. Đối với từng địa phương hay từng quốc
gia, nếu không ngăn chăn có hiệu quả các phương pháp khai thác lạc hậu hoặc làm
Đề án Kinh tế thương mại
sản xuất thuỷ sản.
Tuy nhiên, nước là yếu tố quan trọng đối với mọi ngành kinh tế, thậm chí điều
kiện của sự sống. Do vậy thuỷ vực có thể được sử dụng cho nhiều mục đích khác
nhau của con người như để điều hoà môi trường, đáp ứng nhu cầu giao thông thuỷ,
du lich sinh thái sông nước v.v.. . Thông thưòng, thuỷ vực được sử dụng theo hướng
đa mục tiêu nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng của chúng. Ví dụ các ao hồ chứa nước
thường dược sử dụng để nuôi cá kết hợp trữ nước tưới phục vụ nông nghiệp; các con
sông có thể phục vụ giao thông thuỷ, nuôi cá lồng bè ở ven sông, cung cấp nước cho
sinh hoạt và sản xuất của cư dân v.v.. . Để sử dụng có hiệu quả và bảo vệ thuỷ vực
trong ngành thuỷ sản cần chú ý những vấn đề sau:
- Thực hiện qui hoạch các loại hình thuỷ vực và xác định hướng sử dụng thuỷ
vực cho ngành thuỷ sản. trong quy hoạch cần chú ý những thuỷ vực có mục đích sử
dụng chính vào nuôi trồng thuỷ sản cần kết hợp với các hướng kinh doanh khác; còn
những thuỷ vực đươc quy hoạch cho mục đích phát triển giao thông, thuỷ điên.. . là
chình thì cần kết hợp hợp lý với việc phát triển thuỷ sản để nâng cao hiệu quả sử
dụng thuỷ vực.
- Chú trọng việc bảo vệ môi trường nước, kể cả nước biển. Thực hiện những
biện pháp hữu hiệu để ngăn chặn moi nguyên nhân gây ô nhiễm môi trường nước.
Mặt khác, phải thường xuyên cải tạo thuỷ vực, tăng nguồn dinh dưỡng cho các thuỷ
sản sinh vật nhằm nâng cao năng suất sinh học của thuỷ vực. Đây là điều kiện thực
hiện thâm canh tăng năng suất các sinhvật nuôi trồng, điều kiện sử dụng thuỷ vực
trong ngành thuỷ sản theo hướng thâm canh.
- Sử dụng thuỷ vực một cách tiết kiệm, đặc biệt cần hạn chế chuyển đổi mục
đích sử dụng thuỷ vực là các ao, hồ, các thùng đấu.. . sang đất xây dựng cơ bản hay
mục đích khác.
2.3 Ngành thuỷ sản là ngành sản xuất vật chất có tính hỗn hợp, tính liên
ngành cao
Với tính cách là một ngành sản xuất vật chất, ngành thuỷ sản bao gồm nhiều
hoạt động sản xuất cụ thể có tính chất tương đối khác nhau nhưng có mối liên quan
yếu là nuôi trồng thuỷ sản và công nghiệp thuỷ sản với những chức năng khác nhau:
+ Nuôi trồng thuỷ sản: bộ phận sản xuất có tính chất nông nghiệp, thường
được gọi là ngành nuôi trồng thuỷ sản, có chức năng duy trì, bổ sung tái tạo và phát
triển nguồn lợi thuỷ sản để cung cấp sản phẩm trực tiếp cho tiêu dùng, xuất khẩu và
nguyên liệu cho công nghiệp chế biến và các ngành khác nhau.
+ Công nghiệp thuỷ sản: bộ phận sản xuất có tính chất công nghiệp bao gồm
khai thác và chế biến thuỷ sản. Những hoạt động này có nhiệm vụ khai thác nguồn
lợi thuỷ sản và chế biến chúng thành các sản phẩm đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của xã
hội và xuất khẩu.
+ Ngoài ra, để phục vụ cho sản xuất kinh doanh còn có các hoạt động sản xuất
phụ trợ và phục vụ khác như: đóng mới và sữa chữa tàu thuyền, sản xuất nước đá,
sản xuất bao bì, ngư cụ v.v… Tất cả các hoạt động sản xuất phụ trợ và phục vụ nói
trên cùng với nuôi trồng và công nghiệp thuỷ sản có mối quan hệ chặt chẽ với nhau
tạo thành cơ cấu ngành thuỷ sản, Cơ cấu ngành thuỷ sản Việt Nam có thể được minh
hoạ đơn giản như sau:
Các ngành chuyên môn hoá hẹp trong cơ cấu ngành thuỷ sản Việt Nam
Hoàng Thị Thu Hiền Lớp: Thương mại 46A
24
Đề án Kinh tế thương mại
Ngành công nghiệp thuỷ sản
Ngành khai thác
Ngành chế
biến
Các ngành phụ trợ và phục
vụ
-Nuôi thuỷ sản
nước ngọt
-Khai thác các sản
phẩm nuôi trồng
-Chế biến
dể phát triển thuỷ sản, Nhà nước phải xây dựng và thực hiện chính sách cho vay vốn
theo các chương trình phát triển riêng của ngành này như: cho vay trong chương trình
khai thác xa bờ, tín dụng đầu tư xây dựng các cơ sở hậu cần dich vụ nghề cá theo quy
hoạch v.v.. .
Sản xuất nuôi trồng đánh bắt thuỷ sản phụ thuộc nhiều vào điều kiện tự nhiên
nhất là điều kiện thuỷ văn; bão, lũ. Đối với những nước như nước ta có bờ biển dài,
diễn biến bão lũ phức tạp, nhiều trận bão lũ lớn đã gây thiệt hại nặng cho nuôi trồng
thuỷ sản cả một vùng hay một địa phương. Trong nhiều trường hợp, thiên tai có thể
gây thiệt hại đến cả tính mạng ngư dân, nhất là ngư dân làm nghề đánh bắt ngoài
khơi. Để hạn chế tối đa những hậu quả có thể gây ra do thiên tai và khắc phục những
Hoàng Thị Thu Hiền Lớp: Thương mại 46A
25