Bàn về tình hình thu - quản lý thu và giải quyết nợ đọng BHXH ở huyện Đông Anh - Pdf 28

Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Lời nói đầu
Cùng với những vấn đề thiết yếu của cuộc sống con ngời là việc làm và thu
nhập, thì bảo hiểm xã hội trong bất kỳ một chế độ xã hội nào cũng là một vấn đề
luôn luôn đợc xem xét, bởi vì rủi ro luôn là một vấn đề dễ xảy ra với mọi ngời.
BHXH là chính sách xã hội đợc nhiều quốc gia coi trọng nhằm đảm bảo về mặt thu
nhập cho ngời lao động khi họ tạm thời hoặc vĩnh viễn mất khả năng lao động. Bảo
hiểm xã hội đã trở thành quyền lợi và nghĩa vụ của ngời lao động gắn liền với quyền
về việc làm và thu nhập. Nó đã trở thành một trong những quyền về con ngời đợc Đại
hội đồng Liên hợp quốc thông qua trong Tuyên ngôn nhân quyền ngày 10/12/1948.
Trong đó khẳng định tất cả mọi ngời với t cách là thành viên của xã hội đều có quyền
hởng BHXH , quyền đó đặt cơ sở trên sự thoả mãn các quyền về kinh tế , xã hội và
văn hoá cần cho nhân cách và sự phát triển của con ngời .Nh vậy BHXH là một trong
những vấn đề rất lớn của mỗi quốc gia , bởi vì nó góp phần bảo đảm đời sống của ng-
ời lao động cùng gia đình họ khi gặp khó khăn trong lao động sản xuất , ổn định
cuộc sống hàng ngày.
Bảo hiểm xã hội ở Việt Nam đã đợc Đảng và Nhà nớc ta quan tâm ngay từ khi
mới thành lập nớc và nó đã đóng góp to lớn cho sự phát triển của đất nớc. Để từng b-
ớc hoàn thiện hệ thống BHXH mang tính khoa học , hợp lý Chính phủ đã ban hành
Nghị định 12/CP ngày 26/01/1995 về việc ban hành Điều lệ BHXH và Quyết định số
2654-UB của UBND Thành phố Hà Nội với nhiệm vụ và mục tiêu đợc xác định cụ
thể là bảo vệ quyền - lợi ích,ổn định cuộc sống cho ngời lao động , giảm bớt gánh
nặng cho Ngân sách Nhà nớc. Vì vậy , việc nghiên cứu để hoàn chỉnh các chính sách
về BHXH có một ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Hoạt động của bảo hiểm xã hội ngày
càng hiệu quả hơn đặc biệt là sau năm 1995 khi mà quỹ bảo hiểm xã hội đợc hình
thành độc lập nằm ngoài Ngân sách Nhà nớc. Quỹ bảo hiểm xã hội là xơng sống của
bất kỳ một hệ thống bảo hiểm xã hội nào vì chế độ bảo hiểm xã hội đều nhằm mục
đích bảo đảm an toàn về thu nhập cho ngời lao động, muốn vậy thì cơ quan bảo hiểm
xã hội phải có một lợng tiền nhất định.
Cơ quan bảo hiểm xã hội huyện Đông Anh đợc thành lập và bắt đầu hoạt động
từ tháng 10 năm 1995 cho đến nay đã thu đợc nhiều thành tự nh: phí thu đợc ngày

hạn chế và bảo hiểm xã hội là một vấn đề lớn và quan trọng nên bài viết không tránh
khỏi những thiếu sót, kính mong cô giáo và các cán bộ trong cơ quan bảo hiểm xã hội
huyện Đông Anh đóng góp ý kiến để chuyên đề đợc hoàn chỉnh hơn.
Trờng đh ktqd
Trang2
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Chơng I: lý luận chung về bảo hiểm xã hội
I. sự cần thiết khách quan của bảo hiểm xã hội
1. Sự cần thiết khách quan
Mọi sự vật , hiện tợng luôn trong quá trình tồn tại , vận động và phát triển , con
ngời nói chung cũng không nằm ngoài quá trình vận động và phát triển đó.
Con ngời
trong quá trình tồn tại và phát triển lại đòi hỏi phải đợc thoả mãn các nhu cầu về vật
chất lẫn tinh thần trớc hết là các nhu cầu về ăn , mặc , ở và đi lại... Nhng những điều
kiện để thoả mãn những nhu cầu đó của con ngời không có sẵn trong tự nhiên mà để
có đợc nó con ngời phải trải qua quá trình lao động sản
Khi sản phẩm đó đợc tạo ra ngày càng nhiều thì đời sống con ngời ngày càng đầy đủ
và hoàn thiện, xã hội ngày càng văn minh hơn. Nh vậy, việc thoả mãn những nhu cầu
sinh sống và phát triển của con ngời phụ thuộc và chính khả năng lao động của họ.
Nhng trong thực tế, không phải lúc nào con ngời cũng chỉ gặp thuận lợi, có đầy đủ
thu nhập và mọi điều kiện sinh sống bình thờng. Trái lại, có rất nhiều trờng hợp khó
khăn bất lợi, ít nhiều ngẫu nhiên phát sinh làm cho ngời ta bị giảm hoặc mất thu nhập
hoặc các điều kiện sinh sống khác. Chẳng hạn, bất ngờ bị ốm đau hay bị tai nạn lao
động và khả năng tự phục vụ bị suy giảm v.v... Khi rơi vào những trờng hợp này, các
nhu cầu cần thiết trong cuộc sống không vì thế mà mất đi, trái lại có cái còn tăng lên,
thậm chí còn xuất hiện thêm một số nhu cầu mới nh: cần đợc khám chữa bệnh và
điều trị khi ốm đau; tai nạn thơng tật nặng cần có ngời chăm sóc nuôi dỡng v.v ... Bởi
vậy, muốn tồn tại và ổn định cuộc sống, con ngời và xã hội loài ngời phải tìm ra và
thực tế đã tìm ra nhiều cách giải quyết khác nhau nh: san sẻ, đùm bọc lẫn nhau trong
nội bộ cộng đồng; đi vay, đi xin hoặc dựa vào sự cứu trợ của nhà nớc v.v... Rõ ràng,

2. Sự ra đời và phát triển của bảo hiểm xã hội
a. Trên thế giới
Bảo hiểm xã hội đã xuất hiện từ rất lâu mà mầm mống của nó từ thế kỷ XIII ở
Nam Âu khi nền công nghiệp và kinh tế hàng hoá đã bắt đầu phát triển. Tuy nhiên
ban đầu BHXH chỉ mang tính chất sơ khai, với phạm vi nhỏ hẹp. Từ thế kỷ XVI đến
thế kỷ XVIII một số nghiệp đoàn thợ thủ công ra đời, để bảo vệ lẫn nhau trong hoạt
động nghề nghiệp họ đã thành lập nên các quỹ tơng trợ để giúp đỡ lẫn nhau. ở Anh
năm 1973 đã thành lập hội bằng hữu để giúp đỡ các hội viên khi bị ốm đau, tai nạn
nghề nghiệp.
Trờng đh ktqd
Trang4
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Năm 1883, nớc Phổ (Cộng hoà liên bang Đức ngày nay) đã ban hành luật bảo
hiểm ốm đau đầu tiên trên thế giới, đánh dấu sự ra đời của bảo hiểm xã hội. Bảo hiểm
xã hội đã trở thành một trong những quyền của con ngời và đợc xã hội thừa nhận.
Tuyên ngôn nhân quyền của Liên Hợp Quốc (10/12/1948) đã ghi: Tất cả mọi ngời
với t cách là thành viên của xã hội có quyền hởng bảo hiểm xã hội Ngày 4/6/1952,
Tổ chức lao động quốc tế ( ILO) đã ký công ớc Giơnevơ (102) về Bảo hiểm xã hội
cho ngời lao động đã khẳng định tất yếu các nớc phải tiến hành bảo hiểm xã hội cho
ngời lao động và gia đình họ. Theo Công ớc 102 tháng 6 năm 1952 tại Giơnevơ của
Tổ chức lao động quốc tế (ILO) phạm vi của BHXH là trợ cấp cho 9 chế độ sau:
- Chăm sóc y tế
- Trợ cấp ốm đau
- Trợ cấp thất nghiệp
- Trợ cấp tuổi già
- Trợ cấp tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp
- Trợ cấp gia đình
- Trợ cấp thai sản
- Trợ cấp khi tàn phế
- Trợ cấp cho ngời còn sống( trợ cấp mất ngời nuôi dỡng)

thực hiện các chế độ BHXH trong cả nớc. Điều này đã đánh dấu một bớc tiến quan
trọng trong quá trình phát triển chính sách BHXH ở nớc ta. Các chế độ này đợc chính
thức thi hành ngày 1/1/1962 trên cơ sở hình thành và sử dụng quỹ BHXH tập trung từ
sự đóng góp của các nhà máy, xí nghiệp và các cơ quan Nhà nớc. Quỹ BHXH đợc
quản lí và sử dụng vì lợi ích của công nhân viên chức làm việc trong khu vực Nhà n-
ớc. Các chế độ BHXH đợc thực hiện trong thời gian này bao gồm:
+ Chế độ ốm đau
+ Chế độ thai sản
+ Chế độ tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp
+ Chế độ mất sức lao động
+ Chế độ hu trí
Trờng đh ktqd
Trang6
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
+ Chế độ tử tuất.
Sáu chế độ trên đợc thực hiện trong thời gian dài và đã dáp ứng các nhu cầu cơ
bản về BHXH của hàng triệu ngời lao động. Ngày 18/9/1985, để dảm bảo cho chính
sách BHXH phù hợp với tình hình kinh tế-xã hội, Chính phủ, lúc đó là Hội đồng Bộ
trởng, đã ban hành nghị định số 236/HĐBT về việc bổ sung và sửa đổi chính sách về
chế độ BHXH đối với ngời lao động. Nghị định này chủ yếu là điều chỉnh về mức
đóng góp và hởng BHXH, còn các nội dung khác thì không có sự thay đổi nhiều.
Về cơ bản trong thời gian này, BHXH Việt Nam đợc tổ chức và hoạt động theo
mô hình của các nớc Đông Âu. Trong BHXH sự bao cấp của Nhà nớc vẫn là chủ yếu
đối với tất cả những ngời đợc hởng quyền lợi theo các chế độ đã ban hành. Về tổ chức
hoạt động: Trong giai đoạn này, hệ thống làm công tác BHXH phân tán ở nhiều cơ
quan khác nhau, trong đó:
+Bộ Tài chính có trách nhiệm thu phân quĩ dành để chi trả trợ cấp hu trí
+Tổng Liên đoàn Lao đông Việt Nam có trách nhiệm thu và chi trả các chế độ trợ
cấp thờng xuyên: ốm đau, thai sản, tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp.
+Bộ Lao động-Thơng binh Xã hội giải quyết những vấn đề có liên quan đến hu

khác đợc ban hành theo tinh thần đổi mới.
Tuy nhiên, chỉ khi Bộ Luật Lao động đợc Quốc hội nớc Cộng hoà xã hội chủ
nghĩa Việt Nam thông qua ngày 15/6/1994 và đợc thực hiện từ 1/1/1995 cùng với đó
là điều lệ BHXH ban hành kèm theo Nghị định 12/CP ban hành ngày 15/7/1995 cho
các đối tợng đợc hởng BHXH, cũng nh Nghị định 19/CP về việc thành lập BHXH
Việt Nam mới thực sự ghí nhận những đổi mới của hệ thống BHXH nớc ta.
Cũng từ năm 1995, nhiều văn bản mới ra đời và hớng dẫn thi hành Bộ Luật Lao
động và các văn bản về BHXH. Việc ban hành và thực hiện các văn bản quản lí về
BHXH nh vậy đã đa đến nhiều thay đổi trong quá trình đổi mới và phát triển chính
sách BHXH cho ngời lao động ở Việt Nam.
Các chế độ BHXH :theo Bộ luật Lao động và điều lệ BHXH qui định nớc ta áp
dụng 5 chế độ, đó là:
+ Trợ cấp ốm đau
Trờng đh ktqd
Trang8
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
+ Trợ cấp thai sản
+ Trợ cấp tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp
+ Hu trí
+ Tử tuất.
Về nguồn quỹ BHXH: Điều 36-điều lệ BHXH qui định:
+ Ngời lao động đóng:5% tiền lơng để chi cho các chế độ hu trí và tử tuất.
+ Ngời sử dụng lao động:15% tổng quĩ lơng(10% chi cho chế độ hu trí và tử tuất
và 5% chi cho các chế độ ngắn hạn).
+ Nhà nớc đóng và hỗ trợ thêm
+ Các nguồn khác(các khoản phạt, lãi đầu t, viện trợ...)
Quỹ BHXH đợc dùng để chi trả trợ cấp BHXH, ngoài ra quĩ đợc trích một phần
cho chi phí quản lí. Quỹ BHXH đợc tách khỏi ngân sách, thực hiện hạch toán độc lập,
tuân thủ nguyên tắc bảo toàn và tăng trởng quĩ
Việc tổ chức quản lí và thực hiện:

ợc 5.100 tỷ đồng; năm 2001 đã thu đợc 6.334 tỷ đồng; ớc tính năm 2002 là 6.600 tỷ
đồng. Đến nay theo qui định thì ngân sách Nhà nớc phải cấp để tri trả cho những ngời
đã nghỉ hu trớc khi đổi mới chính sách BHXH (năm 1995). Theo qui định này, đến
năm cuối năm 1998, quỹ thu không những đủ chi mà còn có số d gần 15 tỷ đồng. Nh
vậy, kết quả thực hiện cơ chế hình thành quỹ mới đã giảm dần sự bao cấp của Nhà n-
ớc, làm tăng khả năng thực hiện cân đối thu chi về BHXH, đó chính là nhân tố quan
trọng nhằm góp phần hoàn thiện các chế độ, chính sách BHXH, củng cố, phát triển
hệ thống BHXH, góp phần đa BHXH trở thành một chính sách lớn của Đảng và Nhà
nớc theo đúng ý nghĩa của nó.
Thứ ba, đổi mới cơ chế quản lí sự nghiệp BHXH từ phân tán, hành chính, bao cấp
sang thực hiện cơ chế vừa tập trung thống nhất, vừa phân biệt chức năng quản lí Nhà
nớc với chức năng quản lí sự nghiệp BHXH đã phần nào chấm dứt tình trạng lỏng lẻo,
chồng chéo gây nên những thiếu xót, sai phạm trong quá trình thực hiện. Nhờ sự đổi
mới này, đã xác lập đợc mối liên hệ trực tiếp giữa cơ quan BHXH với từng ngời tham
gia. từ đó giúp cho việc thu, chi các chế độ hiệu quả hơn.
Trờng đh ktqd
Trang10
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Tuy vậy, bên cạnh những thành tựu đạt đợc, chính sách BHXH vẫn còn bộc lộ
những điểm sai sót, bất cập: số đối tợng tham gia cha đầy đủ theo qui định, tình trạng
nợ đọng BHXH luôn tiếp diễn, bộ máy quản lí BHXH còn bất cập... và đặc biệt trong
chính sách BHXH phạm vi đối tợng còn rất hạn chế (ngời nông dân chiếm đa phần
giai cấp xã hội nhng phần lớn vẫn cha đợc tham gia BHXH). Trong số 38 triệu lao
động thì số ngời tham gia BHXH theo loại hình bắt buộc chỉ chiếm 14% lao động
toàn xã hội( khoảng 6 triệu ngời), còn 86% làm việc trong các doanh nghiệp sử dụng
dới 10 lao động, lao động nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp ngoài quốc doanh vẫn
cha đợc tham gia. Trong thời gian tới, các cơ quan chức năng đang nghiên cứu, xem
xét để mở rộng đối tợng tham gia và triển khai loại hình bảo hiểm thất nghiệp. Đây
chắc chắn là tin vui đối với ngời lao động, nó góp phần củng cố niềm tin của nhân
dân vào chính sách BHXH, niềm tin vào các sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nớc.

, với nơi làm việc , công tác .Từ đó họ rất tích cực lao động sản xuất , nâng cao năng
suất lao động và hiệu quả kinh tế.Hay nói cách khác BHXH nh một đòn bẩy kinh tế
kích thích ngời lao động nâng cao năng suất lao động cá nhân và kéo theo là năng
suất lao động xã hội.
BHXH còn có vai trò gắn bó lợi ích giữa ngời lao động và ngời sử dụng lao động ,
giữa ngời lao động với xã hội.Trong thực tế lao động sản xuất, ngời lao động và ngời
sử dụng lao động vốn có những mâu thuẫn nội tại khách quan về tiền công, tiền lơng,
thời gian lao động ...nhng những mâu thuẫn đó sẽ đợc điều hoà giải quyết thông qua
BHXH. Đồng thời ,cả hai giới chủ và thợ đều tìm thấy lợi ích trong BHXH,họ cùng đ-
ợc bảo vệ,trên cơ sở đó họ hiểu nhau hơn và gắn bó lợi ích với nhau.
Đối với Nhà nớc và xã hội chi cho BHXH là cách thức phải chi ít nhất và có hiệu
quả nhất nhng vẫn giải quyết đợc khó khăn về đời sống cho ngời lao động và gia đình
Trờng đh ktqd
Trang12
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
họ, góp phần làm cho sản xuất ổn định,thúc đẩy kinh tế , chính trị xã hội phát triển
an toàn hơn.
4. Một số nguyên tắc hoạt động của BHXH.
Có thể nói, lĩnh vực BHXH liên quan đến rất nhiều đối tợng, có phạm vi hoạt
động rộng lớn và thể hiện rất nhiều mặt khác nhau. Để thực hiện đợc chức năng bảo
đảm an toàn cho con ngời; khuyến khích con ngời trong quá trình làm việc và huy
động, sử dụng hiệu quả nguồn lao động xã hội, hoạt động này phải tuân thủ một số
nguyên tắc nhất định. Thực tế do tính chất hoạt động và mục đích của BHXH không
hoàn toàn nh nhau trong mọi điều kiện, do vậy không thể có nguyên tắc chung thống
nhất cho mọi trình độ phát triển, cho mọi hình thức BHXH ở tất cả các nớc trên thế
giới. Tuy nhiên, hoạt động BHXH phải bảo đảm tuân thủ theo những nguyên tắc
chung sau:
Trờng đh ktqd
Trang13
Website: Email : Tel (: 0918.775.368

Website: Email : Tel (: 0918.775.368
trực tiếp do lỗi của ngời khác thì trớc hết là do lỗi của bản thân. Vì thế, nếu muốn đợc
BHXH tức là muốn nhiều ngời khác hỗ trợ cho mình, dàn trải rủi ro của mình cho ng-
ời khác thì trớc hết phải tự mình gánh chịu cho mình đã. Điều đó có nghĩa bản thân
ngời lao động phải có trách nhiệm tham gia BHXH để tự bảo hiểm cho mình.
*BHXH phải dựa trên sự đóng góp của các bên tham gia để hình thành quỹ
BHXH độc lập và tập trung ;
Nếu nh ở nguyên tắc trên cho thấy trách nhiệm phải tham gia BHXH đối với ngời
lao động của cả 3 bên (ngời lao động, ngời sử dụng lao động và Nhà nớc) thì ở
nguyên tắc này trách nhiệm đó đợc biểu hiện cụ thể ở sự đóng góp hình thành nên
quỹ BHXH. Quỹ này phải do cơ quan BHXH chuyên quản lí, đảm bảo một quỹ độc
lập tập trung.
*Mức trợ cấp BHXH phải thấp hơn mức tiền l ơng lúc đang đi làm, nh ng thấp
nhất phải đảm bảo mức sống tối thiểu ;
Nh chúng ta đã biết, tiền lơng là khoản ngời sử dụng lao động trả cho ngời lao
động khi họ thực hiện công việc nhất định. Điều đó có nghĩa là chỉ có những ngời lao
động có sức khoẻ bình thờng, có việc làm và thực hiện đợc công việc nhất định mới
có tiền lơng. Khi đã bị ốm đau, tai nạn hay tuổi già khồng thực hiện đợc công việc
mà trớc đó tham gia BHXH thì sẽ đợc hởng trợ cấp BHXH và trợ cấp đó không đợc
bằng hoặc cao hơn tiền lơng do ngời lao động đó tạo ra. Nếu trợ cấp bằng hoặc cao
hơn tiền lơng thì ngời đó không việc gì phải cố gắng tích cực làm việc mà ngợc lại họ
sẽ cố gắng ốm đau, bệnh tật... để đợc hởng trợ cấp. Bên cạnh đó thì mức trợ cấp
BHXH tối thiểu cũng không thể thấp hơn mức sống tối thiểu, điều này tuân thủ đúng
mục đích của BHXH là đảm bảo ổn định cuộc sống cho ngời lao động, bù đắp lại về
nhng rủi ro về thu nhập xảy ra đối với ngời lao động.
5. Bản chất của bảo hiểm xã hội
- BHXH là nhu cầu khách quan, đa dạng và phức tạp của xã hội, nhất là trong xã
hội mà sản xuất hàng hoá hoạt động theo cơ chế thị trờng, mối quan hệ thuê mớn lao
động phát triển đến một mức độ nào đó. Kinh tế càng phát triển thì BHXH càng đa
Trờng đh ktqd

Trờng đh ktqd
Trang16
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
- Tính tất yếu khách quan trong đời sống xã hội.
Trong quá trình lao động sản xuất ngời lao động có thể gặp phải nhiều biến cố,
rủi ro khi đó ngời sử dụng lao động cũng rơi vào tình cảnh khó khăn không kém nh:
sản xuất kinh doanh bị gián đoạn, vấn đề tuyển dụng và hợp đồng lao động luôn phải
đợc đặt ra để thay thế v.v... Sản xuất càng phát triển, những rủi ro đối với ngời lao
động và những khó khăn đối với ngời sử dụng lao động càng nhiều và trở nên phức
tạp, dẫn đến mối quan hệ chủ thợ ngày càng căng thẳng. Để giải quyết vấn đề này,
Nhà nớc phải đứng ra can thiệp thông qua bảo hiểm xã hội. Và nh vậy, bảo hiểm xã
hội ra đời hoàn toàn mang tính khách quan trong đời sống kinh tế xã hội của mỗi nớc.
- Bảo hiểm có tính ngẫu nhiên, phát sinh không đồng đều theo thời gian và
không gian. Tính chất này thể hiện rất rõ ở những nội dung cơ bản của bảo hiểm xã
hội. Từ thời điểm hình thành và triển khai, đến mức đóng góp của các bên tham gia
để hình thành quỹ bảo hiểm xã hội. Từ những rủi ro phát sinh ngẫu nhiên theo thời
gian và không gian đến mức trợ cấp bảo hiểm xã hội theo từng chế độ cho ngời lao
động v.v...
- Bảo hiểm vừa có tính kinh tế, vừa có tính xã hội , đồng thời còn có tính dịch
vụ.
Tính kinh tế thể hiện rõ nhất là ở chỗ, quỹ bảo hiểm xã hội muốn đợc hình
thành, bảo toàn và tăng trởng phải có sự đóng góp của các bên tham gia và phải đợc
quản lý chặt chẽ, sử dụng đúng mục đích. Mức đóng góp của các bên phải đợc tính
toán rất cụ thể dựa trên xác suất phát sinh thiệt hại của tập hợp ngời lao động tham
gia bảo hiểm xã hội. Quỹ bảo hiểm xã hội chủ yếu dùng để trợ cấp cho ngời lao động
theo các điều kiện của bảo hiểm xã hội. Thực chất, phần đóng góp của mỗi bên ngời
lao động là không đáng kể, nhng quyền lợi nhận đợc là rất lớn khi gặp rủi ro. Đối với
ngời sử dụng lao động việc tham gia đóng góp vào quỹ bảo hiểm xã hội là để bảo
hiểm cho ngời lao động mà mình sử dụng. Xét dới góc độ kinh tế, họ cũng có lợi vì
không phải bỏ ra một khoản tiền lớn để trang trải cho những ngời lao động bị mất

từng thời kỳ của mỗi quốc gia. Khi nền kinh tế càng phát triển thì càng có nhiều chế
độ BHXH đợc thực hiện, và bản thân từng chế độ cũng đợc áp dụng rộng rãi hơn, nhu
cầu thoả mãn về BHXH đối với ngời lao động càng đợc nâng cao. Mặt khác, khi nền
kinh tế phát triển thì mức thu nhập của ngời lao động càng cao và họ càng có khả
năng tham gia vào nhiều chế độ BHXH.
Trờng đh ktqd
Trang18
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
- Một mặt, quỹ BHXH mang tính tiêu dùng đợc thể hiện thông qua mục tiêu,
mục đích của nó là chi trả cho các chế độ BHXH. Nhng mặt khác nó lại mang tính dự
trữ vì thông thờng, khi ngời lao động đóng góp vào quỹ BHXH thì họ không đợc quỹ
này chi trả ngay khi gặp rủi ro mà phải có đủ thời gian dự bị.
- Hoạt động của quỹ BHXH đặt ra yêu cầu và hình thành tất yếu chế độ tiết
kiệm bắt buộc của xã hội và ngời lao động dành cho ốm đau, hu trí. Đó cũng là quá
trình phân phối lại thu nhập của cá nhân và cộng đồng.
2. Nguồn hình thành Quỹ bảo hiểm xã hội
Quỹ BHXH là một quỹ tài chính độc lập, tập trung nằm ngoài ngân sách Nhà n-
ớc.
Quỹ BHXH đợc hình thành chủ yếu từ các nguồn sau đây:
- Ngời sử dụng lao động đóng góp.
- Ngời lao động đóng góp.
- Nhà nớc đóng và hỗ trợ thêm.
- Các nguồn thu khác( nh cá nhân và các tổ chức từ thiện ủng hộ, lãi do đầu t
phần quỹ nhàn rỗi ...).
Trong nền kinh tế hàng hoá, trách nhiệm tham gia đóng góp BHXH cho ngời
lao động đợc phân chia cho cả ngời sử dụng lao động và ngời lao động trên cơ sở
quan hệ lao động. Điều này không phải là sự phân chia rủi ro, mà là lợi ích giữa hai
bên. Về phía ngời sử dụng lao động, sự đóng góp một phần BHXH cho ngời lao động
sẽ tránh đợc thiệt hại kinh tế do phải chi ra một khoản tiền lớn khi có rủi ro xảy ra đối
với ngời lao động mà mình thuê mớn. Đồng thời nó còn góp phần giảm bớt tình trạng

ngời lao động so với
tiền lơng (%)
Tỷ lệ đóng góp của ngời
sử dụng lao động so với
quỹ lơng(%)
CHLB Đức Bù thiếu 14,8 18,8 16,3 22,6
CH Pháp Bù thiếu 11,82 19,68
Inđônêxia Bù thiếu 3,0 6,5
Philipin Bù thiếu 2,85 9,25 6,85 8,05
Malaixia Chi toàn bộ chế độ
ốm đau,thai sản
9,5 12,75
Trờng đh ktqd
Trang20
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
(Nguồn: BHXH ở một số nớc trên thế giới)
ở nớc ta, từ năm 1962 đến năm 1987, quỹ BHXH chỉ đợc hình thành từ hai
nguồn: các xí nghiệp sản xuất vật chất đóng góp 4,7% quỹ lơng của xí nghiệp, phần
còn lại do ngân sách Nhà nớc đài thọ. Thực chất là không tồn tại quỹ BHXH độc lập.
Từ năm1988 đến nay, các đơn vị sản xuất kinh doanh đóng góp 15% quỹ lơng của
đơn vị. Sau khi nền kinh tế nớc ta chuyển sang cơ chế thị trờng, Chính phủ đã ban
hành Nghị định 43/CP ngay 22/06/1993 và Điều lệ BHXH Việt Nam ban hành kèm
theo Nghị định 12/CP ngày 26/01/1995, trong các văn bản này đều quy định quỹ
BHXH đợc hình thành từ các nguồn sau đây:
- Ngời sử dụng lao động đóng bằng 15% so với tổng quỹ tiền lơng của những
ngời tham gia BHXH trong đơn vị. Trong đó 10% để chi trả các chế độ hu trí, tử tuất
và 5% để chi các chế độ ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp.
- Ngời lao động đóng bằng 5% tiền lơng tháng để chi các chế độ hu trí và tử
tuất.
- Nhà nớc đóng và hỗ trợ thêm để đảm bảo thực hiện các chế độ BHXH đối với

phải đủ cho số phát sinh chi trả trong năm. Đối với chế độ BHXH dài hạn nh: hu trí ,
trợ cấp mất ngời nuôi dỡng, tai nạn lao động hoặc bệnh nghề nghiệp nặng v.v... quá
trình đóng và quá trình hởng BHXH tơng đối độc lập với nhau và diễn ra trong
khoảng thời gian nhất định. Cho nên sự cân bằng giữa đóng góp và hởng BHXH phải
đợc dàn trải trong cả thời kỳ dài. Vì thế, ngoài phí thuần tuý phải có phí dự phòng để
đảm bảo quỹ BHXH có dự trữ đủ lớn.
3. Mục đích sử dụng quỹ bảo hiểm xã hội
Quỹ bảo hiểm xã hội bao gồm 3 bộ phận: phí thuần, phí quản lý và phí dự trữ.
Nh vậy, quỹ bảo hiểm xã hội đợc sử dụng cho 3 mục đích: chi trả cho các chế độ bảo
hiểm xã hội, chi cho việc quản lý hệ thống bảo hiểm xã hội và chi trích lập quỹ dự
phòng cho những trờng hợp tổn thất lớn.
Trong cơ cấu chi bảo hiểm xã hội thì chi cho các chế độ bảo hiểm xã hội là rất
lớn và chiếm đa phần lớn nguồn quỹ này vì đây là mục tiêu cơ bản nhất của bảo hiểm
Trờng đh ktqd
Trang22
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
xã hội: đảm bảo ổn định cuộc sống cho ngời lao động, đảm bảo ổn định hoạt động
sản xuất kinh doanh của các đơn vị, tổ chức. Thực tế cho thấy việc chi trả cho các chế
độ bảo hiểm xã hội diễn ra thờng xuyên và liên tục với số lợng lớn trên phạm vi rất
rộng. Một trong những khoản chi thờng xuyên là chi lơng hu cho những ngời đã nghỉ
công tác; và chi trả trợ cấp hàng tháng cho thân nhân của ngời lao động khi họ đã qua
đời.
Nguồn chi thứ hai trong bảo hiểm xã hội là chi cho việc quản lý nghiệp vụ bảo
hiểm xã hội. Đây là nguồn chi không lớn trong cơ cấu chi bảo hiểm xã hội nhng nó
cũng là một khoản chi ngày càng lớn. Bởi vì các chế độ bảo hiểm xã hội ngày càng đ-
ợc mở rộng để đáp ứng các nhu cầu ngày càng cao của ngời lao động, do đó đội ngũ
cán bộ phục vụ bảo hiểm xã hội ngày càng nhiều dẫn đến chi lơng cán bộ ngày càng
lớn. Mặt khác, xã hội càng phát triển thì nhu cầu về điều kiện làm việc ngày càng
tăng. Vì vậy, chi phí cho việc xây dựng cơ bản , mua sắm máy móc, trang thiết bị văn
phòng ngày càng tăng lên.

đóng của cơ quan, đơn vị theo địa bàn quản lý, từ đó hớng dẫn cơ quan, đơn vị ghi kết
qủa đóng BHXH vào sổ BHXH của từng ngời. Đây là căn cứ để giải quyết chế độ h-
ởng BHXH.
Chính vì những đặc thù trên mà hoạt động thu BHXH đòi hỏi phải đợc tập trung
thống nhất, có sự ràng buộc chặt chẽ từ trên xuống dới, đảm bảo an toàn tuyệt đối về
tài chính tiền tệ, đảm bảo độ chính xác trong việc ghi chép kết quả đóng BHXH của
từng cơ quan, đơn vị đến từng lao động theo tiền lơng, lấy đó làm căn cứ đóng BHXH
từng tháng trong nhiều năm, kể cả trờng hợp liên tục cũng nh gián đoạn, làm việc một
nơi hay nhiều nơi ... Nh vậy, quá trình theo dõi ghi kết quả thu BHXH đòi hỏi liên tục
trong nhiều năm, kể cả thời gian ngừng đóng BHXH vẫn phải lu giữ để đảm bảo khi
ngời lao động tiếp tục đóng hoặc yêu cầu giải quyết chế độ đều đợc thực hiện ngay.
Hoạt động thu của BHXH là hoạt động của cả đời ngời, có tính kế thừa, cho nên
nghiệp vụ quản lý thu, lu giữ sổ biều là không có giới hạn và thời gian.
5. Trách nhiệm và quyền hạn của các bên tham gia bảo hiểm xã hội
Theo Nghị định 12/CP ngày 26 tháng 1 năm 1995 về Điều lệ BHXH đối với ng-
ời lao động trong các thành phần kinh tế thì quyền hạn và trách nhiệm của các bên
tham gia BHXH nh sau:
a. Ng ời sử dụng lao động.
Trờng đh ktqd
Trang24
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
* Trách nhiệm:
- Đóng bảo hiểm xã hội đúng quy định.
- Trích tiền lơng của ngời lao động để đóng bảo hiểm xã hội đúng quy định.
- Xuất trình các tài liệu, hồ sơ và cung cấp thông tin liên quan khi có kiểm tra,
thanh tra về bảo hiểm xã hội của cơ quan Nhà nớc có thẩm quyền.
* Quyền hạn:
- Từ chối thực hiện những yêu cầu không đúng với quy định của Điều lệ bảo
hiểm xã hội.
- Khiếu nại với cơ quan Nhà nớc có thẩm quyền khi cơ quan bảo hiểm xã hội có


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status