BÀI TẬP HỌC KỲ – LUẬT BIỂN QUỐC TẾ HIỆN ĐẠI
A. NỘI DUNG
I. Vấn đề khai thác chung trong Luật quốc tế:
1. Định nghĩa khai thác chung.
Một trong những nguyên tắc cơ bản của Luật quốc tế hiện đại là nguyên tắc giải
quyết các tranh chấp quốc tế bằng con đường hòa bình, thỏa thuận cùng có lợi giữa các quốc
gia. Vì vậy, để giải quyết và hạn chế các tranh chấp, bất đồng trên biển các quốc gia trên thế
giới tìm đến một giải pháp đó là giải pháp khai thác chung (Joint Devenlopment).
Chúng ta có thể hiểu khái quát vấn đề khai thác chung như sau: Khai thác chung là thỏa
thuận giữa các quốc gia hữu quan trong việc nghiên cứu, thăm dò, khai thác và quản lí nguồn
tài nguyên biển ở những nơi tồn tại vùng chồng lấn danh nghĩa chủ quyền và quyền chủ
quyền do bờ biển của các quốc gia đối diện nhau hoặc tiếp liền nhau hay những nơi có
nguồn tài nguyên trải dài qua đường ranh giới đã hoạch định rõ ràng.
Từ định nghĩa trên có thể thấy rằng về chủ thể: đây là thỏa thuận giữa các quốc gia (từ 2
quốc gia trở lên, quốc gia có thể ủy quyền cho các tổ chức tham gia).
Về vị trí xác lập vùng khai thác chung:
i. Khai thác các nguồn tài nguyên nằm vắt ngang qua đường ranh giới hoặc;
ii. Trong vùng chồng lấn của các quốc gia liên quan: lãnh hải, vùng đặc quyền
kinh tế, thềm lục địa.
Trong đó, hợp tác khai thác chung chủ yếu đặt ra đối với hai khu vực: đặc quyền kinh tế
(chủ yếu là tài nguyên sinh vật), thềm lục địa (chủ yếu là tài nguyên phi sinh vật).
Đối tượng của thỏa thuận khai thác chung: chủ yếu là khai thác tài nguyên (sinh vật hoặc
phi sinh vật) và các hoạt động khác như nghiên cứu khoa học, môi trường, hàng hải…
Về tính chất của hoạt động khai thác: có thể thấy đây là sự lựa chọn thay cho việc xác lập
đường ranh giới; là biện pháp tạm thời trong khi chờ đợi quá trình phân định nhằm đáp ứng
nhu cầu phát triển kinh tế của các quốc gia hữu quan.
2. Cơ sở khai thác chung.
Khai thác chung là quyền của quốc gia, khi tiến hành khai thác chung các quốc gia phải xem
xét, cân nhắc nhiều điều kiện, yếu tố khác nhau để đi đến quyết định.
Thứ nhất, điều kiện tự nhiên của vùng biển có khả năng sẽ tiến hành khai thác chung:
Điều kiện tự nhiên có thể kể đến trước hết là vị trí địa lý, tuy nhiên nguồn tài nguyên (trữ
tham gia hợp tác
2
.
II. Thực tiễn hợp tác khai thác chung giữa Việt Nam và Trung Quốc trong
Vịnh Bắc Bộ:
Vịnh Bắc Bộ là nơi có nguồn tài nguyên sinh vật nói chung đặc biệt là nguồn hải sản
nói riêng rất đa dạng và phong phú. Vào các năm 1957, 1961 Việt Nam và Trung Quốc đã ký
thỏa thuận cho phép các tàu thuyền của hai nước được đánh bắt cá trong vịnh ngoài phạm vi
3 hải lý, 6 hải lý và 12 hải lý. Nhưng đến đầu những năm 70 thì các Thỏa thuận trên đã hết
hiệu lực.
Ngày 25 tháng 12 năm 2000, bên cạnh sự kiện Việt Nam, Trung Quốc ký thỏa thuận phân
định Vịnh Bắc Bộ hai nước còn tiến hành ký thỏa thuận hợp tác nghề cá. Hiệp định này đề
cập đến các vấn đề kinh tế ký thuật và không ảnh hưởng tới việc hoạch định (phân định)
Vịnh Bắc Bộ. Nhìn một cách tổng quát về khả năng khai thác của hai nước Việt Nam và
Trung Quốc, thì việc ký kết hiệp định hợp tác nghề cá thể hiện thái độ thiện chí của Việt
Nam đối với Trung Quốc.
1. Hiệp định hợp tác nghề cá
Gồm 7 phần với 22 điều và 1 phụ lục quy định về tránh nạn khẩn cấp với nội
dung chính của Hiệp định là lập Vùng đánh cá chung có thời hạn, nơi tàu cá của hai bên
được tiến hành các hoạt động đánh bắt theo quy định của Uỷ ban liên hợp nghề cá Việt -
Trung.
Thứ nhất, thiết lập vùng khai thác chung với tọa độ được xác định theo phụ lục của
Hiệp định, Vùng khai thác chung được chia làm ba vùng đó là: Vùng đánh cá chung, Vùng
dàn xếp quá độ và Vùng đệm cho các tàu cá nhỏ. Trong đó quy định về vị trí của các vùng,
quyền và nghĩa vụ của hai quốc gia đối với mỗi vùng như sau:
a. Vùng đánh cá chung này nằm ở phía Nam vĩ tuyến 200 Bắc, có bề rộng là
30,5 hải lý kể từ đường phân định về mỗi phía và có tổng diện tích 33.500km
2
,
1 Xem thêm: Vấn đề khai thác chung – Thách thức và triển vọng đối với Việt Nam. Nguyễn Bá Diến.
. Cùng
với pháp luật mỗi bên, Ủy ban liên hợp nghề cá căn cứ vào đường phân định được lấy làm
đường biên giới kiểm soát lực lượng hữu quan của hai bên, xử lý các vi phạm quy định sản
lượng và số lượng tàu thuyền được phép vào vùng đánh cá chung dựa trên nguyên tắc bình
đẳng, căn cứ vào sản lượng đánh bắt được xác định thông qua điều tra định kỳ; mỗi bên đều
có quyền liên doanh hợp tác khai thác cá đối với bên thứ ba trong vùng đặc quyền kinh tế
của mình.
2. Nghị định thư bổ sung Hiệp định Hợp tác nghề cá gồm phần mở đầu và 8 Điều.
Nội dung của Nghị định thư bổ sung đã nêu rõ:
- Phạm vi Vùng nước dàn xếp quá độ của mỗi bên là 4.540 km
2
, nằm về phía Bắc
vùng đánh cá chung (tính từ vĩ tuyến 200 Bắc). Ranh giới vùng dàn xếp quá độ cách
đường nối các điểm đảo nhô ra xa nhất của Việt Nam 20 hải lý và cách đảo Bạch Long
Vĩ một cung tròn có tâm là đèn biển đảo Bạch Long Vĩ với bán kính 15 hải lý.
- Số lượng tàu cá được phép hoạt động ở Vùng dàn xếp quá độ trong năm đầu
tiên sau khi Hiệp định Hợp tác nghề cá có hiệu lực của mỗi bên là 920 tàu. Số tàu nói
3 Phụ lục bản đồ phân định.
4 Xem thêm: Quy định về bảo tồn và quản lý nguồn lợi thủy sản trong vùng đánh cá chung Vịnh Bắc Bộ.
Dư Việt Linh – QT33D007 3
BÀI TẬP HỌC KỲ – LUẬT BIỂN QUỐC TẾ HIỆN ĐẠI
trên được cắt giảm hàng năm là 25%, tương đương 230 tàu và sau 4 năm tàu cá của mỗi
bên sẽ rút hết khỏi vùng dàn xếp quá độ thuộc phần biển của bên kia
5
.
- Biện pháp quản lý đảm bảo thực hiện được chủ quyền và quyền chủ quyền
của mỗi bên, tàu cá Trung Quốc phải tuân thủ pháp luật Việt Nam và tàu cá Việt Nam
phải tuân thủ pháp luật Trung Quốc khi vào hoạt động trong vùng nước dàn xếp quá độ
của bên kia. Tàu cá được cấp phép phải nộp phí cấp phép, đánh bắt 200USD/tàu/năm
6
Dư Việt Linh – QT33D007 4