Quyền thành lập, tham gia công đoàn trong luật quốc tế và luật Việt Nam - Pdf 26

Quyền thành lập, tham gia công đoàn trong luật quốc tế và luật Việt Nam
Sau gần 20 năm được ban hành và áp dụng, nhiều quy định của Luật Công đoàn năm 1990
đã trở nên hạn chế, bất cập so với điều kiện kinh tế, xã hội và các quan hệ lao động đa
dạng trong thời kỳ hội nhập hiện nay. Ngoài những hạn chế về sự vắng mặt của các chế tài,
các quyền của công đoàn cơ sở quá nhiều dẫn đến việc thực hiện một số quyền chỉ mang
tính hình thức…, Luật Công đoàn còn thể hiện một số hạn chế so với các quy định ở cấp
độ quốc tế trong việc trao quyền thành lập, tự nguyện gia nhập và hoạt động công đoàn của
người lao động.
Quyền tự do công đoàn là quyền cơ bản của người lao động. Quyền này là một trong
những yếu tố thể hiện nền dân chủ và sự phát triển của một quốc gia. Nói cách khác, nền dân
chủ và sự phát triển bền vững về kinh tế của một quốc gia sẽ không tồn tại nếu một bộ phận
dân cư bị tước đi quyền được tự thành lập các tổ chức để bảo vệ quyền và lợi ích của mình.
Do đó, tôn trọng nguyên tắc tự do công đoàn là việc làm hàng đầu để các mối quan hệ trong
hoạt động nghề nghiệp được vận hành tốt và để cho nền dân chủ của một quốc gia được
phát huy tích cực.
Trong luật lao động quốc tế, tôn trọng quyền tự do công đoàn được xem như là một
nguyên tắc cơ bản trong lao động. Quyền này bao gồm quyền của mọi người lao động được
tự do thành lập, tham gia hoặc không tham gia vào các công đoàn khác nhau. Do đó, theo các
công ước quốc tế của Liên hợp quốc và Tổ chức lao động quốc tế, tất cả người lao động đều
có quyền tự do thành lập, tham gia vào các công đoàn, nếu việc thành lập, tham gia đó không
trái với trật tự công cộng hoặc xâm phạm an ninh, lợi ích của quốc gia sở tại.
Tại Việt Nam, do nhiều nguyên nhân nên việc phê chuẩn những công ước quốc tế liên
quan đến công đoàn, đặc biệt là các công ước của Tổ chức lao động quốc tế, chưa thể thực
hiện được. Do đó, người lao động tại Việt Nam, bao gồm cả lao động Việt Nam và lao động là
người nước ngoài, chưa có cơ hội thực hiện quyền tham gia thành lập và gia nhập vào các
công đoàn một cách đầy đủ như những quyền được ghi nhận trong các công ước quốc tế của
hai tổ chức quốc tế nói trên.
1. Quyền thành lập, tham gia công đoàn trong luật quốc tế
Ở cấp độ quốc tế, quyền tự do công đoàn được bảo vệ chủ yếu bởi các điều ước quốc tế
đa phương của Liên hợp quốc và Tổ chức lao động quốc tế.
Trong khuôn khổ của Liên hợp quốc, quyền tự do công đoàn được thể hiện và đảm bảo

động di trú. Trong công ước này, quyền công đoàn của người lao động di trú lao động trên
lãnh thổ của quốc gia thành viên cũng được đảm bảo giống như quyền của người lao động
trong nước. Với quy định tại Điều 7 về “bảo vệ không phân biệt đối xử” giữa những người lao
động có quốc tịch khác nhau, Công ước năm 1990 của Liên hợp quốc về bảo vệ người lao
động di trú và thành viên gia đình của họ3 đã buộc các quốc gia thành viên phải đảm bảo
quyền tự do công đoàn của người lao động nước ngoài như quyền của người lao động trong
nước. Nói cách khác, Công ước này cũng đã gián tiếp thừa nhận quyền tự do công đoàn của
tất cả mọi người lao động trên lãnh thổ của quốc gia thành viên. Điều 26, Công ước nêu trên
quy định: “Các quốc gia thành viên thừa nhận quyền của người lao động di trú tham gia vào
những cuộc họp và các hoạt động của các công đoàn và các đoàn thể hợp pháp khác, nhằm
để bảo vệ quyền và lợi ích kinh tế, văn hoá, xã hội và các quyền khác, theo quy định của các
tổ chức nói trên”. Quyền này được cụ thể rõ ràng tại Điều 40 của cùng Công ước: “Người lao
động di trú có quyền, cùng với những người khác, thành lập các hội và các công đoàn tại đất
nước họ đang lao động nhằm thực hiện và bảo vệ các lợi ích kinh tế, văn hoá, xã hội và các
lợi ích khác của họ”.
Như vậy, theo quy định của các văn kiện quốc tế của Liên hợp quốc, vì mục đích đảm bảo
cho lợi ích kinh tế, văn hoá, xã hội của mình, tất cả người lao động, kể cả người lao động nước
ngoài, đều có quyền thành lập và tham gia các công đoàn theo sự lựa chọn của họ.
Ngoài Liên hợp quốc, quyền tự do công đoàn của người lao động cũng luôn là tâm điểm
được bảo vệ bởi Tổ chức lao động quốc tế. Điều 2, Công ước số 87 về quyền tự do công
đoàn và bảo về quyền công đoàn của Tổ chức lao động quốc tế (năm 1948)4 quy định: “Tất
cả người lao động và người sử dụng lao động đều có quyền thành lập và gia nhập các tổ
chức theo sự lựa chọn của họ với điều kiện tuân thủ Điều lệ của các tổ chức đó”.
Như vậy, quyền tự do công đoàn của người lao động, theo Tổ chức lao động quốc tế,
cũng bao gồm quyền đựơc thành lập và gia nhập công đoàn theo sự lựa chọn của họ. Có
nghĩa là, những người lao động có thể thành lập nhiều công đoàn khác nhau trong một cơ sở
lao động. Trên cơ sở đó, những người lao động khác có quyền tự do lựa chọn tham gia vào
công đoàn này, hay công đoàn khác để bảo vệ lợi ích của mình một cách tốt nhất.
Nhằm đảm bảo cho quyền này được thực hiện một cách triệt để, Điều 1 Công ước số 98
của Tổ chức lao động quốc tế về quyền tổ chức và thoả ước lao động tập thể và các thoả ước

nước không phê chuẩn những công ước về quyền tự do công đoàn liên quan) phải tôn trọng
quyền tự do công đoàn của những người lao động. Như vậy, dù không tham gia, phê chuẩn
những công ước của Tổ chức quốc tế về quyền tự do công đoàn, nhưng ít nhất, các quốc gia
thành viên của Tổ chức này phải đảm bảo cho tất cả mọi người lao động phải có quyền tham
gia, thành lập các công đoàn.
2. Quyền thành lập, tham gia công đoàn trong pháp luật Việt Nam
Cho đến nay, Việt Nam vẫn chưa phải là thành viên của bất kỳ Công ước nào của Tổ chức
lao động quốc tế về quyền tự do công đoàn nêu trên. Do đó, về mặt pháp lý, chúng ta không
buộc phải tuân theo quy định của các Công ước này. Tuy nhiên, trong khuôn khổ Liên hợp
quốc, Việt Nam đã tham gia hai Công ước năm 1966 về các quyền dân sự, chính trị và các
quyền về văn hoá xã hội, trong đó có quyền tham gia, thành lập các công đoàn của tất cả mọi
người. Tuy vậy, so với quy định về quyền tự do công đoàn trong hai Công ước năm 1966 nêu
trên, Luật Công đoàn Việt Nam vẫn chưa đảm bảo hết quyền tham gia thành lập và gia nhập
công đoàn của người lao động bởi một số hạn chế có tính đặc thù.
Điều 1, Luật Công đoàn của Việt Nam quy định: “Những người lao động Việt Nam làm việc
trong các đơn vị sản xuất kinh doanh thuộc các thành phần kinh tế, xí nghiệp có vốn đầu tư
nước ngoài, đơn vị sự nghiệp, cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội đều có quyền thành lập và
gia nhập công đoàn trong khuôn khổ Điều lệ Công đoàn Việt Nam”.
Từ quy định nêu trên, chúng ta có thể kết luận rằng, quyền tham gia thành lập và gia nhập
công đoàn trong pháp luật Việt Nam vẫn được đảm bảo. Thế nhưng, như đã nói, quyền này
vẫn còn một số hạn chế nhất định so với quy định của các Công ước quốc tế.
Thứ nhất, Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị năm 1966 quy định cho “Mọi
người đều có quyền tự do lập hội với những người khác, kể cả quyền lập và gia nhập các
công đoàn để bảo vệ lợi ích của mình”. Quy định này cho phép tất cả mọi người lao động,
không phân biệt đối xử, đều có quyền tham gia thành lập và gia nhập công đoàn để bảo vệ lợi
ích cho mình. So sánh với luật Việt Nam, chúng ta thấy Luật Công đoàn năm 1990 chỉ cho
phép “người lao động Việt Nam” tham gia, thành lập công đoàn. Hay nói cách khác, chỉ có
người lao động có quốc tịch Việt Nam mới có thể thành lập và trở thành công đoàn viên tại
Việt Nam. Hậu quả pháp lý là, người lao động nước ngoài và người không có quốc tịch lao
động tại Việt Nam sẽ không thể tham gia thành lập hay gia nhập công đoàn cùng với người

(8) Điều 1, Luật Công đoàn năm 1990.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status