DANH SÁCH NHÓM CHICKENS:
1. VÕ THỊ MỸ HÀ (NT)
2. KHỔNG THỊ KIM PHỤNG
3. LÊ THỊ HIỀN LINH
4. LÊ THỊ THƯƠNG
5. TRỊNH THỊ HỒNG
CHỦ ĐỀ: CÁC BIỆN PHÁP NÂNG CAO NĂNG SUẤT LAO ĐỘNG CỦA NGƯỜI
LAO ĐỘNG TRONG CÁC DOANH NGHIỆP Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
MỤC LỤC
I. TỔNG QUAN VỀ NĂNG SUẤT LAO ĐỘNG
1. KHÁI NIỆM VỀ NĂNG SUẤT LAO ĐỘNG
2. PHÂN LOẠI NĂNG SUẤT LAO ĐỘNG.
3. TĂNG NĂNG SUẤT LAO ĐỘNG.
4. THỰC TRẠNG NĂNG SUẤT LAO ĐỘNG Ở CÁC DOANH NGHIỆP VIỆT
NAM HIỆN NAY
II. NGUYÊN NHÂN DẪN TỚI NĂNG SUẤT LAO ĐỘNG THẤP
III. BIỆN PHÁP TĂNG NĂNG SUẤT LAO ĐỘNG
LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI:
Cùng với sự phát triển của xã hội, quá trình sản xuất, quá trình sản xuất không ngừng
biến đổi năng suất lao động ngày càng được nâng cao. Đặc biệt trong điều kiện hiện
nay với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ, xu hướng quốc tế hóa, toàn
cầu hóa cùng với tính chất cạnh tranh khóc liệt của cạnh tranh thì vấn đề tăng năng
suất lao động trở thành vấn đề sống còn của doanh nghiệp.
Tuy nhiên tại nước ta, trong một thời gian khá dài, vấn đề năng suất lao động không
được quan tâm đúng mức, nhất là đối với các doanh nghiệp nhà nước dẫ tới hiệu quả
sản xuất thấp hơn rất nhiều so với các nước trong khu vực mặc dù chúng ta sở hữu lực
lượng lao động dòi dào . do yêu cầu của công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa và
hội nhập nền kinh tế đất nước vào nền kinh tế thế giới. các doanh nghiệp buộc phải
chú trọng phát triển chiều sâu, nâng cao năng suất, chất lượng trong đó đặc biệt là
năng suất lao động. do đó nhóm em chọn đề tài : CÁC BIỆN PHÁP NÂNG CAO
NĂNG SUẤT LAO ĐỘNG CỦA NGƯỜI LAO ĐỘNG TRONG CÁC DOANH
giảm chi phí lao động sống dẫn đến làm giảm giá trị cho một đơn vị sản phẩm, giá
thành sản xuất giảm, tăng lợi nhuận của công ty.
NSLĐ cá nhân chủ yếu phụ thuộc vào bản thân ngời lao động nh trình độ, tay nghề,
sức khoẻ, sự thành thạo trong công việc, tuổi tác và công cụ lao động mà ngời lao
động đó sử dụng là công cụ thủ công hay cơ khí, là thô sơ hay hiện đại.
2.2. Năng suất lao động xã hội.
NSLĐ xã hội là mức năng suất chung của một nhóm ngời hoặc của tất cả cá nhân
trong xã hội. Vì vậy có thể khẳng định NSLĐ xã hội là chỉ tiêu hoàn hảo nhất giúp ta
đánh giá chính xác thực trạng công việc sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp cũng
nh phạm vi toàn xã hội. Trong điều kiện hiện nay, NSLĐ xã hội ở phạm vi vĩ mô đợc
[Type text] Page 2
hiểu nh NSLĐ của quốc gia, phản ánh tổng giá trị sản xuất trên một ngời lao động cụ
thể. Nó là chỉ tiêu cơ bản để đánh giá sức mạnh kinh tế của một nớc và so sánh giữa
các nớc.
NSLĐ xã hội tăng lên khi và chỉ khi cả chi phí lao động và lao động quá khứ cùng
giảm, tức là đã có sự tăng lên của NSLĐ cá nhân và tiết kiệm vật t, nguyên liệu trong
sản xuất.
NSLĐ xã hội không chỉ phụ thuộc vào công cụ lao động, trình độ của ngời lao động
mà còn phụ thuộc rất nhiều vào ý thức lao động sản xuất của ngời lao động, điều kiện
tự nhiên, điều kiện lao động, bầu không khí văn hoá
3. Tăng năng suất lao động.
3.1. Khái niệm tăng năng suất lao động.
Tăng NSLĐ là sự tăng lên của sức sản xuất hay NSLĐ, nói chung chúng ta hiểu là
sự thay đổi trong cách thức lao động, một sự thay đổi làm rút ngắn thời gian lao động xã
hội cần thiết để sản xuất ra một hàng hoá, sao cho số lợng lao động ít hơn mà lại có đợc
sức sản xuất ra nhiều giá trị sử dụng hơn.
1
3.2. Bản chất của tăng năng suất lao động.
Trong quá trình sản xuất, lao động sống và lao động quá khứ bị hao phí theo những
lợng nhất định. Lao động sống là sức lực con ngời bỏ ra trong quá trình sản xuất. Lao
quỹ lơng; đồng thời lại tăng tiền lơng cho từng công nhân do hoàn thành vợt mức sản l-
ợng.
NSLĐ cao và tăng nhanh sẽ tạo điều kiện tăng quy mô và tốc độ của tổng sản phẩm
xã hội và thu nhập quốc dân, cho phép giải quyết các vấn đề tích luỹ và tiêu dùng.
Tăng NSLĐ làm thay đổi cơ chế quản lý kinh tế.
Đối với Việt Nam, vấn đề tăng NSLĐ càng có ý nghĩa quan trọng vì lẽ, NSLĐ còn
quá thấp do cha khai thác hết tiềm năng đã là một nguyên nhân chủ yếu dẫn đến thu nhập
quốc dân tính trên đầu ngời hàng năm quá thấp (so với các nớc trên thế giới). Muốn tăng
trởng, phát triển kinh tế và cải thiện mức sống, Việt Nam phải tìm mọi cách để tăng
NSLĐ. Đó là biện pháp nhằm biến Việt Nam thành nớc công nghiệp hoá, hiện đại hoá,
dân giàu, nớc mạnh, xã hội công bằng văn minh.
Cỏc nhõn t tỏc ng nnng sut lao ng c chia thnh 3 nhúm chớnh:
- Nhõn t k thut cụng ngh nh trỡnh phỏt trin k thut cụng ngh sn xut
- Nhõn t t chc sn xut lao ng nh c cu, cht lng ngun nhõn lc, b trớ
t chc lao ng, cỏc vn liờn quan n con ngi lao ng
- Nhõn t iu kin t nhiờn.
5. THC TRNG NNG SUT LAO NG CC DOANH NGHIP VIT
NAM HIN NAY
2.1. Nng sut lao ng ton nn kinh t
Hin nay cú th tớnh nng sut lao ng theo 3 ch tiờu: hin vt, giỏ tr v thi
gian lao ng nhng Vit Nam, nng sut lao ng c tớnh toỏn theo ch tiờu giỏ
tr tng sn lng.
T s liu thng kờ v tng sn phm trong nc (GDP) theo giỏ thc t v lao
ng lm vic cú trong Niờn giỏm Thng kờ ca Tng cc Thng kờ, tớnh c mc
nng sut lao ng ca Vit Nam giai on 2001 2007.
[Type text] Page 4
Chỉ tiêu ĐVT 2001 2005 2006 2007
Năng suất lao động Triệu/người/năm 7,58 19,62 22,46 29
Tốc độ tăng NSLĐ % 4,26 5,51 14,46 29
Qua bảng số liệu cho thấy năng suất lao động của Việt Nam đang ngày càng tăng lên
do số lao động chiếm tỷ trọng lớn nhất (52,1%), thời gian chưa sử dụng còn nhiều tới
20%, ngành công nghiệp có năng suất lao động cao nhất, nhưng số lượng lao động
chiếm tỷ trọng thấp (13,5%), tốc độ tăng chậm, tính gia công và khai thác nguyên
nhiên vật liệu còn cao, giá trị tăng thêm thấp, tỷ trọng doanh nghiệp có công nghệ
thấp còn lớn (57%), tỷ trọng doanh nghiệp có công nghệ cao chỉ đạt khoảng 20,5%,
thấp so với các chỉ số tương ứng 40-50% của các nước trong khu vực.
[Type text] Page 5
Năng suất lao động của các ngành dịch vụ tuy cao hơn mức chung, nhưng vẫn thấp
hơn nhóm ngành công nghiệp là do số lượng nhóm này tập trung chủ yếu vào ngành
thương nghiệp, mà ngành thương nghiệp của ta hiện buôn bán nhỏ còn chiếm tỷ trọng
lớn và tính đại lý của thương mại còn lớn; tập trung vào ngành giáo dục, y tế, văn hóa,
… là những ngành có giá trị gia tăng thấp. Đồng thời nhiều hoạt động dịch vụ vẫn còn
mang tính kiêm nghiệm ngoài giờ của các cơ quan, đơn vị, hộ gia đình, lúc nông nhàn
ở nông thôn nên tính chuyện thấp.
Tuy nhiên khi xét về tốc độ tăng năng suất lao động thì có thể thấy: năng suất lao
động trong ngành nông – lâm nghiệp tăng đều hơn (từ 3,15% đến 4,21%) và bình
quân 5 năm (2001 – 2005) đạt 3,81%. Năng suất lao động của công nghiệp trong 3
năm đầu (2001 – 2003) tăng không đáng kể, đến năm 2004 có tốc độ tăng tương
đương tốc độ tăng năng suất lao động của ngành nông – lâm nghiệp (4,05%) và đến
năm 2005 đạt khá cao (6,54%), mức tăng binh quân 5 năm đạt 2,75%, thấp hơn tốc độ
tăng năng suất lao động bình quân 5 năm của ngành nông – lâm nghiệp là -1.06%.
Năng suất lao động của các ngành kinh tế khác trong 2 năm 2001 và 2002 giảm chút
ít, 3 năm tiếp theo có tăng nhưng chậm và bình quân 5 năm năng suất lao động của
các ngành này gần như không tăng.
2.3. Năng suất lao động của Việt Nam chia theo các khu vực kinh tế.
Xem xét kinh tế nhà nước trên khía cạnh khu vực kinh tế thì trong 3 khu vực, kinh
tế có vốn đầu tư nước ngoài luôn có mức năng suất lao động cao nhất. Năm 2007,
năng suất lao động theo giá thực tế của khu vực kinh tế này đạt 131,25 triệu đồng.
Khu vực kinh tế nhà nước có mức năng suất đứng vi trí thứ hai, đạt 104,86 triệu đồng.
Thấp nhất là năng suất lao động của khu vực kinh tế ngoài nhà nước, đạt 13,58 triệu
7
6,87 92,2455492 15,61 104,864389 13,67
Kinh tế ngoài
nhà nước
10,247648
9
5,17 11,6813638 13,99 13,5843829 16,29
[Type text] Page 6
Khu vực có
vốn đầu tư
nước ngoài
118,4375 5,63 124,123031 4,80 131,254871 5,75
Nguồn: Niên giám Thống kê 2005, 2006, 2007 –
Tổng cục thống kê
Quan sát số liệu về tốc độ tăng năng suất lao động của 3 khu vực có thể thấy tuy
năng suất lao động ở 3 khu vực đều tăng qua các năm nhưng tốc độ tăng lại khác
nhau. Khu vực kinh tế ngoài nhà nước tuy có năng suất lao động thấp nhất nhưng lại
có tốc độ tăng năng suất lao động cao nhất đạt 16,29% năm 2007. Hoàn toàn ngược
lại, khu vực có vốn đầu tư nước ngoài có tốc độ tăng năng suất lao động thấp nhất chỉ
đạt 5,75%. Tốc độ này ở khu vực kinh tế nhà nước là 13,67%.
2.4. Năng suất lao động của các doanh nghiệp Việt Nam.
Theo số liệu của tổng cục thống kê cho thấy, năng suất lao động bình quân của các
doanh nghiệp tăng 8,7% /năm. Nếu loại trừ tác động của yếu tố giá thì tăng trưởng
năng suất bình quân của các doanh nghiệp đạt 8,4% /năm, cao hơn nhiều so với tăng
trưởng năng suất lao động toàn bộ nền kinh tế (khoảng 6% /năm)
Năng suất bình quân của các doanh nghiệp, 2001 - 2005
Chỉ tiêu Đơn vị 2001 2003 2005
Năng suất lao
động
Triệu đồng/
tế quốc dân, làm giảm sức cạnh tranh của các ngành kinh tế trong nước so với nước
ngoài cũng như làm giảm khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp trong nước.
II. NGUYÊN NHÂN DẪN TỚI NĂNG SUẤT LAO ĐỘNG THẤP
Mức lương thấp không kích thích người lao động hứng thú làm việc.
Các doanh nghiệp cần lao động được đào tạo rành nghề có chuyên môn kỹ thuật
nhưng người việt nam đáp ứng không được hoặc thiếu lao động có chuyên môn nên
sẽ nhận các nhân viên không có tay nghề, thiếu trình độ chuyên môn như vậy năng
suất lao động thấp cho nên các doanh nghiệp không thể chi trả tiền lương cao dẫn đến
người lao động không hài lòng vì tiền lương nên không làm việc hết mình.
Thể lực yếu:
Theo đánh giá thì việt nam là nước tiêu thụ rượu, bia cao việc sử dụng nhiều rượu bia
làm ảnh hưởng đến sức khỏe của người lao động, thể lực không có cũng làm ảnh
hưởng đến năng suất lao động
Thói quen, ý thức của lao động việt nam kém:
Người lao động thường xuyên đi làm trễ về sớm, lạm dụng thời gian làm việc để làm
việc cá nhân, tập trung noic chuyện. tính du di trong công việc luôn châm chước cho
nhau đặt tình cảm vào công việc nên họ không tuân thủ nghiêm ngạt kỷ luật
Nạn COCC (con ông cháu cha) những người có quen biết được nhận vào làm việc và
cất nhắc vào những vị trí cao trong khi người đó không có năng lực nên làm việc
không có kết quả tốt. đồng thời cũng làm cho các nhân viên có năng lực cảm thấy bất
mãn không nổ lực hết mình trong công việc
Doanh nghiệp chỉ tập trung đào tạo kỹ năng cho nhân viên chưa quan tâm đến việc
nâng cao tinh thần trách nhiệm và đạo đức nghề nghiệp của họ, chưa khuyến khích
nhân viên phát huy sự sáng tạo
Đa số người lao động làm việc mà họ không thấy vui:
[Type text] Page 8
Những nguyên nhân dẫn đến người lao động làm việc mà không thấy vui hay là vừa làm
việc vừa "chán đời" đó là: Công việc không phù hợp với chuyên môn, kỹ năng và đặc
biệt là lòng đam mê của họ, nhiều khi họ làm công việc mà họ không yêu thích; môi
trường làm việc thiếu thân thiện, chuyên nghiệp và hợp tác, thiếu tôn trọng, không ghi
* Nhà nước cần phải hoàn thiện các chính sách để nhằm chuyển dịch các cơ cấu lao
động giữa các ngành kinh tế nhằm tăng tỷ lệ lao động trong các ngành công nghiệp
dịch vụ, giảm tỷ lệ lao động trong các ngành nông lâm nghiệp. Cụ thể như đào tạo
[Type text] Page 9
nghề cho người lao động trong các ngành nông nghiệp để dần chuyển họ sang các
ngành công nghiệp.
* Chính phủ cần hoàn thiện nhanh chóng khung pháp luật để tạo điều kiện phát triển
thị trường công nghệ hoạt động phù hợp với thông lệ quốc tế, xây dựng và ban hành
một số văn bản pháp quy về sở hữu trí tuệ như sở hữu công nghiệp, quyến tác giả, hợp
đồng chuyển giáo công nghệ Thúc đẩy cung cầu đối với sản phẩm công nghệ, thúc
đẩy việc hình thành các tổ chức nghiên cứu và phát triển công nghệ thuộc mọi thành
phần kinh tê, xây dựng trung tâm hay ngân hàng công nghệ quốc gia, hình thành các
tổ chức tư vấn công nghệ, định kỳ tổ chức các hội chợ, hội thảo về công nghệ nhằm
phổ biến rộng rãi các thông tin và kiến thức về sở hữu trí tuệ, thông tin về công nghệ
mới
* Phải có sự tham gia của doanh nghiệp vào quá trình đào tạo. Bởi vì tất cả chủ lao
động đều cho rằng sinh viên tốt nghiệp các trường dạy nghề không đáp ứng được yêu
cầu của họ họ chủ yếu được đào tạo lý thuyết chứ không áp dụng vào thực tế được.
* Cần có kỷ luật trong lao động Việt Nam, bởi vì kỷ luật cua lao động Việt nam còn
kém so với nhiều quốc gia trong khu vực.
* Chính phủ cần đầu tư nhiều hơn vào nguồn nhân lực, củng cố các chính sách thị
trường lao động hợp lý và ổn định.
* Phân công công việc phù hợp với từng nhân viên: Công việc phải phù hợp với
chuyên môn, kỹ năng, kinh nghiệm và đặc biệt là lòng đam mê của họ, nhiều khi họ
làm đúng công việc mà họ yêu thích; môi trường làm việc thân thiện, chuyên nghiệp
và hợp tác, tôn trọng, ghi nhận thành tích; bên cạnh đó những người quản lý cũng cần
thấu hiểu và chia sẻ với những khó khăn của nhân viên, kịp thời động viên và dẫn dắt
họ yên tâm vượt qua những khó khăn trong cuộc sống và trong công việc. và đặc biệt
là họ nhìn thấy con đường phát triển ở phía trước,thì họ làm việc với năng suất cao và
chất lượng tốt được.
nhân viên có sự chuẩn bị tốt hơn, quan tâm hơn, lo lắng hơn trong việc thực hiện mục
tiêu công việc của họ. Đây là cơ sở quan trọng để các nhà quản lý đánh giá thành tích
nhân viên một cách công bằng, khách quan mà không có yếu tố cảm tính. Thành tích
của nhân viên là thước đo giúp nhà quản lý áp dụng các chính sách như tăng lương,
khen thưởng, bổ nhiệm, xây dựng các chương trình đào tạo phù hợp và đảm bảo công
bằng.
* Trả lương và các chế độ đãi ngộ đảm bảo cạnh tranh và công bằng:
Nhằm đảm bảo việc trả lương và các chế độ đãi ngộ đáp ứng nguyên tắc cạnh tranh và
công bằng thì cơ quan, doanh nghiệp cần khảo sát và so sánh cơ quan, doanh nghiệp
mình với các cơ quan, doanh nghiệp cùng nghành nghề, có nhu cầu lao động tương
[Type text] Page 11
đương, có số lượng nhân sự tương đương, có môi trường làm việc tương đương và
cùng địa bàn, để xây dựng chính sách trả lương và đãi ngộ cạnh tranh. Ngoài ra cơ
quan, doanh nghiệp cần áp dụng phương pháp trả lương theo 3p (position – Person –
Performance) nhằm đảm bảo nguyên tắc công bằng trong tổ chức. Cụ thể:
- P1: Xây dựng các yếu tố đánh giá vị trí công việc, xác định mức độ tác động của
mỗi yếu tố lên từng vị trí công việc, … tiến hành đánh giá vị trí công việc để xác định
điểm giá trị của mỗi vị trí và mức lương vị trí tương ứng.
- P2: Xây dựng tiêu chuẩn năng lực cho từng vị trí, đánh giá năng lực thực tế của
nhân viên làm việc tại những vị trí đó so với năng lực chuẩn để làm cơ sở trả lương
theo năng lực.
- P3: Phân tích, đánh giá để tiến hành xây dựng mục tiêu (KPI) của Công ty, đến
Phòng ban, đến nhân viên, sau đó căn cứ vào việc thực hiện mục tiêu để đánh giá
thành tích và ghi nhận hiệu quả làm việc của nhân viên.
* Thường xuyên nghiên cứu để cải tiến bộ máy quản lý, quy trình làm việc, máy móc
thiết bị:
Doanh nghiệp cũng giống như con người, qua thời gian hoạt động thì nó cũng có lúc bị
bệnh, có lúc đi sai đường, … do vậy các cơ quan, doanh nghiệp cần thường xuyên nghiên
cứu hoặc phát động các phong trào thi đua về cải tiến để nâng cao hơn hiệu quả trong
quản lý, trong hoạt động sản xuất, kinh doanh. Bên cạnh đó cũng cần nghiên cứu, tìm