1. Sự hình thành và khái niệm thể loại NKHTSTLB
1.1. Cơ sở hình thành thể loại NKHTSTLB trong văn học Việt Namtrung
đại
Xã hội Việt Nam đầy biến động từ khi Mạc Đăng Dung cướp ngôi nhà
Lê (năm 1527) sau đó nhiều biến cố lớn xảy ra chiến tranh Nam - Bắc
triều; Trịnh - Nguyễn tranh nhau một dải san hà, rồi Tây Sơn nổi lên
quét tan các thế lực đánh đuổi ngoại bang, đến khi Gia Long lên ngôi
hoàng đế (năm 1802). Ở triều Tự Đức. nông dân khắp nơi nổi dậy chống
lại triều đình, trong đó có cuộc khởi nghĩa của Lê Duy Mật ở Bắc Ninh
có Cao Bá Quát (chú ruột của Ca Bá Nhạ) tham gia.
Sự biến động của triều đình phong kiến diễn ra mấy trăm năm đã kéo
theo sự chuyển biến đáng kể về ý thức hệ của nhiều tầng lớp trong xã
hội, trong đó có lực lượng sáng tác, những Nho sĩ từng theo cửa Khổng
sân Trình. Văn hoá cũng có những thay đổi từ văn hoá vật chất đến văn
hoá tinh thần, mà cụ thể là thị hiếu thẩm mỹ và những quan niệm nghệ
thuật về con người. Con người với cá tôi cá nhân đã mạnh mẽ phá bỏ
những giềng mối mà Nho giáo và nhà nước phong kiến áp đặt từ lâu. Ca
dao - dân ca, tiếng lòng của người bình dân như lúa lâu ngày chịu hạn
nay gặp mưa rào, văn học dân gian phát triển phong phú, trong đó có
thể thơ song thất lục bát:
Nụ tầm xuân nở ra xanh biếc
Em có chồng anh tiếc lắm thay
Ba đồng một mớ trầu cay
Sao anh không hỏi những ngày còn không? …
Tất cả những điều kiện ấy, đã làm cho cho thể thơ song thất lục bát góp
mặt vào văn học viết Việt Nam từ những năm cuối thế kỷ XVI. Đến giai
đoạn nửa sau thế kỷ XVIII, thể thơ này bắt gặp được những nỗi lòng,
“Sự phong phú về mặt đề tài và thể loại văn học biểu hiện những xu thế
mới của xã hội Đại Việt từ TK XVI nửa đầu TK XVIII đã viết do khả
năng trữ tình phong phú, điệu thơ này (tức điệu thơ song thất lục bát -
người viết chú thêm) lúc đầu được dùng để viết cả khúc ca lạc quan,
hùng tráng nữa, nếu như sau này nó chủ yếu được dùng để viết các
khúc ngâm buồn thương, oán vọng” [7]; Lê Bán Hán - Trần Đình Sử -
Nguyễn Khắc Phi cho rằng “Ngâm khúc: Thể thơ trữ tình dài hơi,
thường được làm theo thể song thất lục bát để ngâm nga, than vãn nhằm
bộc lộ những tâm trạng, tình cảm buồn phiền đau xót triền miên day
dứt. Vì thế ngâm khúc còn được gọi là khúc, vãn hay thán. Trong văn
học Việt Nam, ngâm khúc giữ một vị trí quan trọng và đặc biệt phát
triển từ giữa TK XVIII đến giữa TK XIX”. [4; 198]; Từ điển văn học (bộ
mới) không hiểu sao không có mục thuật ngữ ngâm khúc, trang 733 - 734,
Nguyễn Khắc Phi chỉ viết ở mụckhúc như sau: “Khúc còn gọi là tản khúc,
một hình thức thơ ca cổ điển của Trung Quốc, gắn với âm nhạc có nội
dung trữ tình, ra đời trên cơ sở những lời ca điệu hát dân gian đời Kim
(1115 - 1234) và phát triển mạnh vào đời Nguyên (1280 - 1368). Khúc
gồm có hai loại: tiểu lệnh và sáo sổ. (…). Ở Việt Nam chữ khúc được
dùng trong thuật ngữ ngâm khúc để chỉ những tác phẩm bằng thơ dài
theo thể lục bát hoặc song thất lục bát, có nội dung trữ tình (Chinh phụ
ngâm khúc, Cung oán ngâm khúc, …). Tuy nhiên đó không phải là những
tác phẩm mang đặc điểm của thể loại khúcTrung Quốc.
Trần Đình Sử cho rằng: ngâm khúc là một thể loại văn học trung đại
ViệtNam. Tinh thần bi kịch thể hiện ở chỗ tìm lại giá trị nhân sinh mà không
được, không cam chịu mất mát giá trị mà đành bất lực và do bất lực mà lòng
bất lực càng mạnh thêm, day dứt hơn, [187; 9] và nhấn mạnh chức năng của
thể loại này như sau: “Có thể nói khúc ngâm có nhiệm vụ phơi trải lòng
đau xót, sầu tủi, tiếc hận của mình” [10; 185].
Nhận xét.
không phải bàn cãi, nhưng không phải ai cũng thấy rõ nó. Song với một
loại nội dung nhất định có một loại hình thức nhất định, tạo cho tác
phẩm một hình thức tồn tại chỉnh thể. Nói cách khác, thể loại văn học là
một cấu trúc, một cách thức tổ chức ngôn ngữ theo một dạng thái nào đó
nhằm thể hiện những tình cảm, nhận thức và suy nghĩ của con người
trước các hiện tượng của đời sống. Có thể nói thể loại nào cũng bình
đẳng, cũng đều có quyền trong việc nhận thức và phản ánh hiện thực.
Tuy nhiên mỗi thể loại thường có những chức năng riêng phù hợp với
khả năng phản ánh của nó với đối tượng được nhận thức, phản ánh.
Chẳng hạn như các thể loại tự sự (truyện, tiểu thuyết) có chức năng trước
hết là thuật, kể, miêu tả. Các thể loại kịch có chức năng trước hết là trình
bày các mâu thuẫn xung đột ở đối tượng được nhận thức. Các thể
loại thơ lại có chức năng trước hết là bộc lộ cảm xúc hay các trạng thái tư
tưởng, tình cảm của chủ thể trữ tình. Nói chức năng của thể loại văn học
là nói đến khả năng, vai trò, nhiệm vụ của nó đối với việc nhận thức và
phản ánh hiện thực. Thời trung đại các thể loại văn học thường được
giao đảm nhận các chức năng rõ ràng, nhất là các thể loại văn hành chức.
Tên thể loại thường gắn liền tên tác phẩm nên người đọc dễ dàng nhận
diện và phân loại chức năng thể loại. Hịch là để kêu gọi, thuyết
phục. Cáo là để tổng kết một công việc hay một chủ trương chính trị, xã
hội nào đó. Chiếu là để phổ biến một mệnh lệnh nào đó của nhà vua cho
thần dân biết.v.v Còn các loại văn có tính nghệ thuật như truyện, tiểu
thuyết chương hồi, thơ, phú lại có những chức năng riêng khác nữa. Ngâm
khúc nói chung, và thể loại NKHTSTLBnói riêng cũng không nằm ngoài
quy luật ấy
2.2. Chức năng và nội dung của thể loại NKHTSTLB
Lục bát có khả năng lợi dụng cấu trúc của mình để có thể kéo dãn bài
thơ đến vô cùng nhằm thích ứng với vai trò kể chuyện, còn STLB lại khai
thác ưu thế của mình về các yếu tố vần, điệu, nhịp cũng như tổ hợp các
tình trung đại. Chính việc kể lể tình cảm mới tạo khả năng sáng tác
được khúc ngâm dài mà không cần cốt truyện” [10; 185]. Tiếp đó, ông
khẳng định chức năng của ngâm khúc: “có thể nói ngâm khúc có nhiệm vụ
trải tấm lòng đau xót, sầu tủi, tiếc hận của mình” [10; 185].
Từ cơ sở của Phan Ngọc và Trần Đình Sử, chúng tôi khẳng định rằng
chức năng của NKHTSTLB trong văn học Việt Nam trung đại là những
tác phẩm diễn tả nội tâm với nhiệm vụ trải lòng đau xót, sầu thảm. Nội
dung chính thể loại NKHTSTLB là những tâm sự cá nhân. Chinh phụ
ngâmcũng thể hiện chức năng này.
Trong số các tác phẩm NKHTSTLB phổ biến, đứng ở góc độ xem xét
chức năng và nội dung biểu hiện của lời “tâm sự”, giọng điệu phát ngôn
của nhân vật trung tâm trong tác phẩm chúng tôi tạm chia ra làm hai
nhóm:
Các tác phẩm có nhân vật trữ tình nhập vai (vừa là người trần thuật, vừa
là người trong cuộc). Tiêu biểu là các tác phẩm: Chinh phụ
ngâm và Cung oán ngâm khúc, …
Các tác phẩm có nhân vật trữ tình (nhân vật là người trong cuộc). Tiêu
biểu có Thu dạ lữ hoài ngâm (Đinh Nhật Thận), Tự tình khúc (Cao Bá
Nhạ), Bần nữ thán (khuyết danh), …
3. Chức năng và nội dung của bản dịch Chinh phụ ngâm
Bản dịch Chinh phụ ngâm hiện hành mà chúng tôi chọn làm đối tượng
khảo sát dài 408 dòng. Nhân vật trữ tình là người chinh phụ luôn mang
tâm trạng cô đơn khắc khoải đợi chờ người chinh phu ngoài chiến trận.
Theo Hà Như Chi, tình cảm của người chinh phụ được chia ra các cung
bậc như sau:
Nhủ rồi, tay lại trao liền
Bước đi một bước lại vin áo chàng.
Tự nghĩ giận mình không được như “chiến mã” để theo bước chân
chồng ra trận:
Đưa chàng lòng dặc dặc buồn
Bộ khôn bằng ngựa, thuỷ khôn bằng thuyền.
Nàng liên tưởng đến nỗi nhọc nhằn khổ cực của chồng ngoài chiến
tuyến, thấp thỏm chờ đợi tin chồng, nghe gió đông về đã vội may áo
bông để mong ấm lòng bạn gối chăn miền biên tái:
Thấy nhạn luống tưởng thư phong
Nghe hơi sương sắm áo bông sẵn sàng.
Son phấn xưa có “hồn” còn giờ đây cũng trở nên vô tri, vô nghĩa:
Nương song luống ngẩn ngơ lòng,
Vắng chàng điểm phấn trang hồng với ai?
Bao nhiêu niềm hạnh phúc nàng đều đặt trọn vào tình quân. Giờ đây,
đối mặt với nỗi đơn lẻ biết cùng ai chia ngọt xẻ bùi:
Vì chàng lệ thiếp nhỏ đôi
Vì chàng thân thiếp lẻ loi một bề.
Nỗi giằng xé tăng lên khi nàng mượn gương soi tìm hình bóng cũ, ao
ước gửi đến chồng những kỷ vật mặn nồng tình chăn gối:
Ngập ngừng gió thổi chéo bào,
Bãi hôm tuôn dẫy nước trào mênh mông.
Nỗi lòng người hoà vào nỗi sầu của cảnh vật:
Cảnh buồn người thiết tha lòng
Cành cây sương đượm, tiếng trùn mưa phun
Sương như búa bổ mòn gốc liễu
Tuyết dường cưa xẻ héo cành ngô,…
Thương nhớ chồng, nàng lo tròn trách nhiệm với con, nàng vẫn là dâu
thảo với mẹ chồng, để rồi đêm về một mình chiếc bóng chỉ biết âm thầm
chờ đợi trong khổ đau mõi mòn:
- Đèn có biết dường bằng chẳng biết,
Lòng thiếp riêng bi thiết mà thôi.
- Lòng này hoá đá cũng nên,
E không lệ ngọc mà lên trông lầu.
Và hình bóng chàng hiện lên trong giấc mộng:
Tìm chàng thuở Dương đài lối cũ,
Gặp chàng nơi Tương Phố bến xưa
Sum vầy mấy lúc tình cờ,
Chẳng qua trên gối một giờ mộng xuân.
Không chỉ mang chức năng biểu thị tâm trạng triền miên trong đau
khổ,Chinh phụ ngâm còn có chức năng và nội dung biểu hiện sự hoài
vọng ở một ngày “trùng hoan” của chinh phụ, nàng mong đến ngày
chinh phu đắc thắng khải hoàn, nàng sẽ hạnh phúc biết bao để săn sóc
cho chồng:
Phong tình cổ lục còn truyền sử xanh.
Vậy tác giả đã được xem một cuốn sách của Tàu rồi nhân đấy mà viết ra
truyện Kiều. Nhưng bốn chữ "phong tình cổ lục ( )" chỉ có nghĩa là một
câu chuyện phong tình xưa, tức là một cái phổ thông danh từ, chứ không
phải là nhan riêng một cuốn sách. Vậy sách ấy chính nhan là gì và do ai
làm ra?
Lâu nay, ở nước ta, vẫn có một bản truyện Kiều chữ Hán chép tay (4) nhan
là Kim Vân Kiều truyện mà các học giả vẫn cho là một cuốn tiểu thuyết
Tàu do đấy Nguyễn Du đã soạn ra cuốn truyện nôm.
Gần đây, chúng tôi lại được xem một cuốn sách nội dung giống như cuốn
trên này, nhưng là một cuốn sách in (mộc bản) ở bên Tàu (5). Sách gồm có 4
quyển và chia làm 20 hối. Ở đầu mỗi quyển, có đề: ( ) Quán hoa đường
bình luận Kim Vân Kiều truyện, quyển chi (6) - Thánh thán ngoại thư -
Thanh tâm tài nhân (7) biên thứ.
Khi ta so sánh nguyên văn quyển Kim Vân Kiều truyện này với nguyên
văn truyện Kiều của Nguyễn Du thì ta thấy rằng đại cương tình tiết hai
quyển giống nhau: các việc chính, các vai nói đến trong truyện Kiều đều có
cả trong cuốn tiểu thuyết Tàu.
Sự so sánh ấy lại tỏ rõ rằng Nguyễn Du không phải chỉ dịch văn xuôi của
Tàu ra văn vần của ta mà thôi. Tác phẩm của ông thật có phần sáng tạo đặc
sắc: ông sắp đặt nhiều việc một cách khác để cho hợp lý hơn hoặc để tránh
sự trùng điệp; ông thay đổi nhiều điều tiểu tiết để tả cảnh ngộ hoặc tình
hình các vai trong truyện một cách rõ rệt hơn; ông lại bỏ đi nhiều chỗ thô
tục (như đoạn kể rõ "vành ngoài bảy chữ, vành trong tám nghề") và nhiều
đoạn rườm, thừa, không bổ ích cho sự kết cấu câu chuyện.
Vậy nguồn gốc truyện Kiều của Nguyễn Du là quyển tiểu thuyết Tàu nhan
là Kim Vân Kiều truyện ( )do một tác giả hiệu là Thanh tâm tài nhân ( )
soạn ra về cuối thế kỷ XVI hoặc đầu thế kỷ thứ XVII (8) và do một nhà phê
bình có tiếng là Kim Thánh Thán (9) bình luận (10).
Lược truyện
- Kiều bỏ nhà Hoạn thư trốn đi đến ở chùa bà vãi Giác Duyên, được ít lâu
bà cho Kiều sang ở nhà một người đàn bà thường đến lễ chùa là Bạc bà.
Không ngờ Bạc bà cũng một phường với Tú bà, giả làm lễ cưới Kiều cho
cháu mình là Bạc Hạnh để đem bán Kiều cho một hàng thanh lâu ở châu
Thai. Thế là Kiều lại phải vào thanh lâu lần thứ hai. Được ít lâu, Kiều gặp
một người tướng giặc là Từ Hải lấy làm vợ. Kiều nhân dịp báo ơn xưa, trả
oán cũ. Nhưng không bao lâu Từ Hải mắc lừa bị giết chết. Kiều bèn đâm
đầu xuống sông Tiền đường, nhưng nhờ có bà vãi Giác Duyên vớt lên đem
đến ở trong am của bà.
VI. Kim, Kiều tái hợp (câu 2737-3240).
- Kim Trọng, sau khi về hộ tang chú, trở lại tìm Kiều; nghe tin Kiều phải
bán mình, mới nghe lời Kiều dặn lúc ra đi, lấy Thúy Vân. Sau, cùng với
Vương Quan đi thi đỗ, được bổ làm quan, mới dò la tin tức Kiều, rồi gặp
bà vãi Giác Duyên đưa đến chỗ Kiều ở. Hai bên được đoàn tụ cùng nhau.
Đoạn Kết (câu 3241-3254): Tác giả nhắc lại thuyết "tài mệnh tương
đố" mà khuyên ta nên giữ lấy"thiện tâm".
Tâm sự tác giả trong truyện Kiều
Truyện Kiều có thể coi là một câu truyện tâm sự của Nguyễn Du tiên
sinh. Cái tâm sự ấy là cái tâm sự của một người bầy tôi trung mà vì cảnh
ngộ không thể giữ trọn được chữ trung với cựu chủ. Tác giả vốn tự coi
mình như một cựu thần của nhà Lê, mà gặp lúc quốc biến không thể trọn
chữ trung với Lê hoàng, lại phải ra thờ nhà Nguyễn. Tâm sự thật không
khác gì Thúy Kiều đã đính ước với Kim Trọng mà vì gia biến phải bán
mình cho người khác, không giữ được chữ trinh với tình quân. Bởi vậy tác
giả mới mượn truyện nàng Kiều để ký thác tâm sự của mình.
Triết lý truyện Kiều
Cái triết lý trong truyện là mượn ở Phật giáo. Ngay đoạn mở đầu,
tác giả nhận rằng ở trên đời này tài và mệnh thường ghét nhau (tài mệnh
tương đố ( )). Cả thân thế nàng Kiều là một cái tang chứng về điều ấy:
Kiều là một người có tài có sắc mà gặp bao nỗi long đong lưu lạc, thật là số
để quyền cho cha mẹ kén chọn gả bán. Thế mà Thúy Kiều tự ý sang nhà
Kim Trọng trước khi nói với cha mẹ: đó là một điều các cụ cho là trái với lễ
tục cổ.
Nay ta thử xét xem hai cớ ấy có phương hại gì cho nền luân lý không?
Về cớ thứ nhất, tuy tác giả có tả các điều kể trên, nhưng bao giờ cũng dùng
lời văn rất thanh nhã kín đáo, không hề tục tằn bộc lộ, chỉ khiến cho người
đọc hiểu việc mà sinh lòng hoặc thương hại cho Thúy Kiều, hoặc ghê tởm
vì cảnh tượng, chứ không phải lối văn khiêu khích dục tình. Như đoạn tả
đêm hôm động phòng của Mã Giám sinh với Thúy Kiều, tác giả đã viết
(câu 845-852):
Tiếc thay một đóa trà mi,
Con ong đã tỏ đường đi lối về.
Một cơn mưa gió nặng nề,
Thương gì đến ngọc, tiếc gì đến hương.
Đêm xuân một giấc mơ màng,
Đuốc hoa để đó, mặc nàng nằm trơ.
Nỗi riêng tầm tã tuôn mưa,
Phần căm nỗi khách, phần dơ nỗi mình.
Ta đọc mấy câu văn kín đáo ấy, cũng như nàng Kiều, ta chỉ căm giận về
thói vũ phu của một kẻ phàm tục mà thương xót cho thân phận một người
con gái tuyết sạch giá trong chả may sa vào nơi bùn lầy dơ bẩn.
Đến đoạn tả Thúy Kiều tắm (câu 1309-1312):
Buồng the phải buổi thong dong,
Thang lan rủ bức trướng hồng tắm hoa.
Rõ ràng trong ngọc trắng ngà,
Rành rành sẵn đúc một tòa thiên nhiên!
Tuy tả một việc rất thô, mà lời văn thanh nhã biết chừng nào! Đọc
bốn câu ấy, ta có cái cảm giác về mỹ thuật khác nào như đứng trước một
pho tượng khỏa thân của nhà điêu khắc tạo ra, chứ không hề có cái cảm
giác về nhục dục.
lễ tục ấy là một điều lỗi, thì việc nàng bán mình chuộc tội cho cha, hy sinh
chữ tình để theo trọn chữ hiếu cũng đủ chuộc được điều lỗi của nàng. Vì
sự hy sinh ấy mà trong mười lăm năm nàng phải chịu bao nỗi khổ sở, khổ
vì cảnh ngộ đã đành, mà thứ nhất là khổ vì mối chung tình với Kim Trọng.
Thế thì ta chỉ nên thương hại thay cho nàng, chứ không nên trách nàng đã
yêu vụng dấu thầm chàng Kim.
Đó là xét riêng về hai điều kể trên. Nay nếu xét cả cuốn truyện thì ta
nhận thấy ở trong ấy có nhiều bài học luân lý rất hay.
Về đường cá nhân luân lý, thì Thúy Kiều treo cho ta cái gương một
người biết trọng phẩm giá:
"Đến điều sống đục, sao bằng thác trong!" (câu 1026)
biết giữ thủy chung, vì tuy bị lưu ly, lúc ở thanh lâu, lúc lấy Thúc sinh, lúc
lấy Từ Hải mà bao giờ nàng cũng nhớ đến Kim Trọng là người đã gắn bó
với nàng từ trước.
Về đường xã hội luân lý, thì việc Chung ông giúp Kiều để cứu cha
nàng là một việc nghĩa, việc Kiều khuyên Từ Hải ra hàng để cứu nhân dân,
là một việc nhân. Tác giả lại khéo tả các cách hành động của những kẻ gian
ác, cái thói tham nhũng của một bọn sai nha, khiến cho người đọc sinh lòng
tức giận. Vậy một quyển sách gây nên nhiều thiện cảm như truyện Kiều
chả phải là một tác phẩm có ảnh hưởng tốt về đường luân lý hay sao?
Văn chương truyện Kiều
Xưa nay ai cũng công nhận cái giá trị đặc biệt của truyện Kiều về
đường văn chương. Cách kết cấu toàn thiên đã có phương pháp, cách sắp
đặt trong mỗi hồi, mỗi đoạn lại phân minh. Các câu chuyện thật là thần
tình khéo léo. Tả cảnh thì theo lối phác họa mà cảnh nào cũng linh hoạt
khiến cho người đọc cảm thấy cái thi vị của mỗi cảnh và cái tâm hồn của
mỗi vai ở trong cảnh ấy. Tả người thì vai nào rõ ra tính cách vai ấy, chỉ một
vài nét mà như vẽ thành bức truyền thần của mỗi vai, khám phá được tâm
lý của vai ấy, khiến cho nhiều vai (như Sở khanh, Tú bà) đã thành ra những
nhân vật dùng làm mô dạng cho đời sau. Văn tả tình thì thật là thấm thía
khác số quyển đổi đi. Bản Kiều chữ Hán này ông Hùng sơn NGUYỄN
DUY NGUNG đã dịch ra quốc văn nhan là Kim Vân Kiều tiểu thuyết, Tân
dân thư quán x.b. Hà nội, 1928.
5. Về quyển sách này, chúng tôi đã tả rõ trong bài "nguồn gốc quyển truyện
Kiều của cụ Nguyễn Du" nói trên.
6. (.) nhất, hoặc (.) nhị, hoặc (.) tam, hoặc (.) tứ, tùy theo từng quyển.
7. Chữ (.) nhân này trong nhiều bản chép tay, viết sai ra là chữ (.) tử. Bốn
chữ "Thanh tâm tài nhân" ý hẳn là hiệu của tác giả theo như thói thường
của các văn sĩ Tàu và hay ký tác phẩm bằng hiệu.
8. Tuy là không biết tác giả tên thực là gì và sống về đời nào nhưng các việc
kể trong tiểu thuyết đều thuộc về đời Gia tĩnh nhà Minh tức là tự năm 1522
đến năm 1566, mà sách ấy lại do Kim Thánh thán sống tự năm 1627 đến
năm 1662 phê bình (xem lời chú dưới), vậy theo đấy ta có thể biết được
rằng sách ấy làm vào khoảng cuối thế kỷ thứ XVI hoặc đầu thế kỷ thứ
XVII.
9. Kim Thánh thán ( ) (1627-1662): người cuối đời Minh, vốn họ Trương (.)
tên Thái (.), sau đổi họ Kim, tên Vị (.), tự Thánh thán: người cuồng ngạo, có
kỳ khí, có phê bình nhiều sách như Thủy Hử, Tây Sương ký. Đến đời nhà
Thanh, bị án chết, thọ 35 tuổi.
10. Sở dĩ biết rằng sách ấy do Thánh thán phê bình, vì như trên đã nói, ở
đầu mỗi quyển có đề: "Thánh thán ngoại thư" là những chữ ta thường thấy
đề ở đầu các sách do ông đã đọc và phê bình (thí dụ trên đầu bộ Tam quốc
diễn nghĩa ( )); vả chăng ta lại thấy đề mấy chữ "Quán hoa đường bình
luận", mà Quán hoa đường tức là tên thư viện của Thánh thán.
11. Có người cho rằng việc báo oán của Kiều (giết Tú bà, Mã Giám sinh,
Khuyển, Ưng) là một việc ác trái với tôn chỉ của đạo Phật lấy chữ từ bi bác
ái làm trọng, nhưng ta nên nhận rằng cái tội của bọn ấy phải chịu chính là
cái kết quả các việc gian ác của chúng đã làm; vậy việc chúng làm ác gặp ác
cũng là hợp với thuyết nhân quả và nghiệp báo của Phật giáo vậy.
12. Về ý kiến nói trong câu này, ta sẽ xét ở Chương XIX khi nói đến truyện