Giá trị hiện thực trong thơ Đỗ Phủ 1 - Pdf 28

Giá trị hiện thực trong thơ Đỗ Phủ 1. Sơ lược về giá trị hiện thực trong
tác phẩm văn học Hiện thực trong tác phẩm văn học là thế giới hiện thực
đã được tái tạo qua thế giới chủ quan của tác giả. Thế giới ấy chính là
một hiện thực khác, một hiện thực thứ hai, dù mang hình bóng của thế
giới khách quan ngoài đời. Thế giới hiện thực trong tác phẩm không
phải lúc nào cũng mang một nội dung, ý nghĩa đồng nhất với hiện thực
tương tự trong đời sống thực tại. Đó là thế giới của hình tượng thuộc
một trật tự khác, mang ý nghĩa sáng tạo so với hiện thực khách quan
thông qua lăng kính chủ quan của người nghệ sĩ vì vậy nó cao hơn hiện
thực thứ nhất - hiện thực khách quan của cuộc sống con người. Sở dĩ ta
coi hiện thực trong văn học là hiện thực thứ hai là vì nó được khơi
nguồn từ trong hiện thực cuộc sống nhưng hiện thực này đã được người
nghệ sĩ quan sát một cách rất tỉ mỉ và lựa chọn lấy những vấn đề quan
trọng nhất để rồi sử dụng nh ững thủ pháp nghệ thuật làm cho hiện thực
ấy đi vào tác phẩm văn học vừa có giá trị khái quát cao, vừa thể hiện
chiều sâu của sự vật, sự việc của con người. Giá trị hiện thực của tác
phẩm văn học là “toàn bộ hiện thực được nhà văn phản ánh trong tác
phẩm văn học, tùy vào ý đồ sáng tạo mà hiện tượng đó có thể đồng nhất
với thực tại cuộc sống hoặc có sự khúc xạ ở những mức độ khác nhau”
(2) Giá trị hiện thực trong tác phẩm văn học có hai đặc điểm chủ yếu: −
Đặc điểm thứ nhất: Đặc điểm của các hiện thực được nhà văn đưa vào
trong tác phẩm. Tác phẩm đó phản ánh hiện thực đời sống trong một giai
đoạn lịch sử nhất định, với những nét riêng tiêu biểu và có ý nghĩa phản
ánh hiện thực khách quan. − Đặc điểm thứ hai: Con người điển hình.
Đây là nét đặc trưng của tác phẩm hiện thực. Gắn với mỗi thời kỳ, mỗi
xã hội nhất định là mẫu người đại diện cho toàn xã hội. Mẫu người ấy
được nhà văn khái quát và xây dựng lại thành cách hình tượng điển hình
trong tác phẩm của mình. Do vậy, một tác phẩm văn học có giá trị hiện
thực phải khắc họa được ngoại hình, tính cách, hành 3 View slide
Giá trị hiện thực trong thơ Đỗ Phủ động, lời nói,…. của nhân vật điển
hình, đại diện cho tầng lớp, giai cấp hay lớp người nào đó trong xã hội,

An, kết thúc quãng đời ngao du đó đây. Lần này ông trở về không ngoài
mục đích thực hiện hoài bão từ lâu ấp ủ trong lòng: "Trí quân Nghiêu
Thuấn thượng, Tái sử phong tục thuần" (Phụng tặng Vi tả thừa trượng
nhị thập nhị vận). Đó chính là ước mơ và lý tưởng chính trị của ông.
Theo ông thì đó là con đường duy nhất để thực hiện lý tưởng đó là phải
thi đỗ và làm quan. Nhưng tiếc thay, đến đâu ông cũng vấp phải trở ngại.
Lúc này Đường Huyền Tông bỏ bê triều chính, giao phó mọi việc cho
hai tên gian thần là Lý Lâm Phủ và Dương Quốc Trung. Tuy Đường
Huyền Tông hạ chiếu ai có tài thì đi dự thi, nhưng trong khóa thi này Tể
tướng Lý Lâm Phủ đánh hỏng hết tất cả các thí sinh để khoe rằng trong
những khóa thi trước y sáng suốt lựa chọn hết nhân tài, nên bây giờ
chẳng còn một ai và đây cũng là dịp để Lý Lâm Phủ chặn đường tiến cử
hiền tài, nhằm củng cố thế lực của phe cánh y. Đỗ Phủ cũng như những
thí sinh khác bị đánh hỏng. Từ đây Đỗ Phủ nhận thức đầy đủ hơn bộ mặt
chính trị nhà Đường do bọn 5
Giá trị hiện thực trong thơ Đỗ Phủ gian quan nịnh thần khống chế. Để
tìm lối thoát, nhiều lần ông gặp gỡ, dâng thư cho các bậc quyền quý
mong được tiến cử, nhưng không có kết quả mà cuộc sống thì ngày càng
nghèo khốn. Năm 751, nhân Đường Huyền Tông cử hành đại lễ, Đỗ Phủ
dâng lên "Tam đại lễ phú", được Đường Huyền tông khen ngợi cho ghi
tên vào Tập hiền viện, chờ bổ dụng nhưng vì bị Lý Lâm Phủ cản trở nên
Đỗ Phủ chờ mãi vẫn không có tin gì. Mãi đến năm 755, Đỗ Phủ được bổ
làm Hà Tây huyện úy. Mặc dù bao năm sống khổ cực ở đất Trường An
nhưng Đỗ Phủ quyết không nhậm chức vì chức huyện úy này buộc ông
phải cúi đầu vâng lệnh quan trên, đánh đập kẻ dưới. Bị ông cự tuyệt giai
cấp thống trị nhà Đường giao cho ông chức quản lý kho quân giới. Đỗ
Phủ nhận chức, ông xin phép về huyện Phụng Tiên thuộc tỉnh Thiểm
Tây thăm gia đình. Có ngờ đâu khi vừa về đến nhà thì đứa con trai đã
chết đói. Mười năm cực khổ ở Trường An là mười năm khiến Đỗ Phủ
thay đổi rất nhiều phong cách sáng tác thơ so với những năm tháng

khắc họa chi tiết và đưa vào thơ như để lột tả lòng mình. Hiện thực đó
trở nên sinh động, rõ nét đến mức trở thành những bài thơ sử được các
nhà sử học nghiên cứu để tìm hiểu về thời bấy giờ. Tháng giêng năm Chí
Đức thứ nhất (756), không chịu hợp tác với giặc, Đỗ Phủ không quản
nguy hiểm tìm đường chốn khỏi Trường An tìm về Phụng Tường, nơi
chính quyền mới đóng. Đỗ Phủ được giữ chức Tả thập di. Tháng 9 năm
757, quân nhà Đường lấy lại được Trường An, Đỗ Phủ bèn đưa gia
quyến về Trường An. Ở Trường An không được bao lâu, vì dâng sớ cứu
Phùng Quán thua trận Trần Đào, nên Đỗ Phủ bị gian thần hãm hại.
Tháng 6 năm 758, ông bị biếm ra làm Tư công tham quân, một chức
quan coi việc tế tự nghi lễ ở Hoa Châu. Mùa xuân năm 759, trên đường
từ Lạc Dương đi Hoa Châu, nhìn thấy cảnh đau thương vô hạn của nhân
dân ông viết sáu bài thơ nổi tiếng "Tam biệt"(7) và "Tam lại"(8) được
người đời truyền tụng. “Tam biệt” là ba bài thơ viết về những cuộc chia
ly: Tân hôn biệt 新婚別 (Cuộc chia ly của cặp vợ chồng mới cưới),
Thùy lão biệt 垂老別 (Cuộc chia ly lúc về già) và Vô gia biệt 無家別
(Cuộc ly biệt 8
Giá trị hiện thực trong thơ Đỗ Phủ của kẻ không nhà). “Tam lại” là ba
bài thơ viết về quan lại ở các địa phương khác nhau: Đồng Quan lại 潼
關吏 (Tên lại ở Đồng Quan), Thạch Hào lại 石壕吏 (Tên lại ở Thạch
Hào) và Tân An lại 新安吏 (Tên lại huyện Tân An). “Tam biệt” và
“Tam lại” là sáu bài thơ xây dựng rõ nét các hình tượng nhân vật điển
hình đại diện cho nhiều tầng lớp trong xã hội lúc bấy giờ. Đó là hình
tượng kẻ thân già lận đận trong Thùy lão biệt: 四郊未寧靜, 垂老不得
安。 子孫陣亡盡, 焉用身獨完! 投杖出門去, 同行 為辛酸。 幸有
牙齒存, 所悲骨髓幹。 Tứ giao vị ninh tĩnh Thuỳ lão bất đắc an Tử
tôn trận vong tận Yên dụng thân độc hoàn ? Đầu trượng xuất môn khứ ?
Đồng hành vị tân toan Hạnh hữu nha xỉ tồn Sở bi cốt tuỷ can (Bốn
phương chưa ổn định Thân về già cũng chẳng được yên 9
Giá trị hiện thực trong thơ Đỗ Phủ Con cháu chết trận hết Một mình

嗚呼!何時眼前突兀見此屋, 吾廬獨破受凍死亦足! An đắc quảng
hạ thiên vạn gian, Ðại tí thiên hạ hàn sĩ câu hoan nhan, 11
Giá trị hiện thực trong thơ Đỗ Phủ Phong vũ bất động an như san. Ô hô,
hà thời nhãn tiền đột ngột kiến thử ốc, Ngô lư độc phá thụ đống tử diệc
túc. (Mong sao có được ngàn vạn gian nhà lớn, Để giúp cho các hàn sĩ
trong thiên hạ đều được vui vẻ, Không bị kinh động vì mưa gió, yên ổn
như núi non! Hỡi ôi, biết bao giờ được trông thấy nhà này đứng cao
sững trước mắt, Dù cho riêng nhà ta bị phá vỡ, mình có chịu rét đến
chết, cũng thỏa lòng!) Đầu năm Bảo Ứng (762) vì loạn ông đưa gia đình
chạy loạn khắp nơi, gần hai năm sau mới trở về lại mái nhà tranh ở
Thành Đô. Được Nghiêm Vũ tiến cử, Đỗ Phủ nhận chức Kiểm hiệu công
bộ viên ngoại lang. Nghiêm Vũ mất, ông cũng thôi việc. Lúc này bao
bạn thân của ông như Lý Bạch, Cao Thích lần lượt từ giã cõi đời, để lại
cho ông nỗi buồn vô hạn. Ông lại phiêu bạt tới vùng Quỳ Châu. Qua bao
nhiêu năm lưu lạc gian nan, giờ đây sức yếu, tuổi già, ông thường xuyên
bị bệnh. Quỳ Châu là nơi có nhiều di tích nổi tiếng như thành Bạch Đế,
Bát trận đồ của Gia Cát Võ Hầu, nhà Tống Ngọc, Dữu Tín, nên ông
làm năm bài "Chư tướng", năm bài "Vịnh hoài cổ tích", tám bài "Thu
hứng" nổi tiếng. Trong hai năm ở Quỳ Châu ông sáng tác 437 bài thơ,
chiếm ba phần mười toàn bộ thơ ca của ông, thơ luật chiếm đa số. Chất
hiện thực trong thơ ông không thay đổi, vẫn dạt dào tình cảm yêu nước,
yêu dân, tuy âm điệu có phần bi thương hơn trước. Năm Đại Lịch thứ 3
(768), Đỗ Phủ rời Quỳ Châu, lênh đênh trôi dạt khắp nơi đến Giang
Lăng, Công An (Hồ Bắc), Nhạc Châu (Nhạc Dương, Hồ Bắc), rồi theo
sông Tương ra Đàm Châu (Tương Đàm, Hồ Nam). Ở đây ông gặp lại
danh ca Lý Quy Niên và làm bài tuyệt cú "Giang Nam phùng Lý Quy
Niên" nổi tiếng. Đàm Châu có loạn, Đỗ Phủ lại cùng 12
Giá trị hiện thực trong thơ Đỗ Phủ vợ con xuống thuyền đi Hành Châu
(Hành Dương, Hồ Nam), dự định theo sông Hán về Trường An. Cuộc
sống đói rét, bệnh tật, phiêu bạt cứ dày vò nhà thơ mãi. Mùa đông năm

dân đen đau khổ quanh năm” và nguyện sống đến chết không thay đổi
cái chí của mình”. Thơ Đỗ Phủ có chứa hiện thực và rất nhiều hiện thực,
hiện thực phũ phàng và bi uất, hiện thực cay đắng và tàn bạo. Cũng bởi
ông là một nhà thơ, và cũng bởi cuộc đời đã khiến ông trầm luân trong
những khổ nạn không dứt, thế nên thơ ông quyết liệt hướng về cuộc đời,
về chiến tranh, nạn đói, hướng về những người khốn khổ. Trong bài tiểu
luận này, chúng tôi đã cố gắng hướng tới việc làm rõ giá trị hiện thực
trong thơ Đỗ Phủ, từ những nét đặc trưng của hiện thực ông đã sống đến
những nhân vật điển hình ông đã họa vào thơ. Tuy nhiên, đến cuối cùng
chúng tôi vẫn thấy mình gần như chưa làm được gì, thơ của Đỗ Phủ rõ
ràng và chân thực đến thế, nhưng vẫn khó giải nghĩa. Có thể đó đơn giản
chỉ là cái khó lý giải của cuộc đời ông, vì chúng tôi chưa từng nếm trải
những khốn khổ ông đã kinh qua, không từng nhìn thấy những bi thương
tàn nhẫn ông đã thấy. Như nhà thơ Phùng Quán đã viết trong bài “Đêm
Nghi Tàm đọc Đỗ Phủ cho vợ nghe”: 14
Giá trị hiện thực trong thơ Đỗ Phủ Thơ ai như thơ ông Lặng im mà gầm
thét Trang trang đều xé lòng Câu câu đều đẫm huyết Thơ ai như thơ
ông Mỗi chữ đều như róc Từ xương thịt cuộc đời Từ bi thương phẫn uất
Thơ ai như thơ ông Kể chuyện mái nhà tốc Vác củi làm chuồng gà
Đọc lên trào nước mắt! Giữa tuyết trong đò con Đỗ Phủ nằm chết đói
Đắp mặt áo bông sờn Kéo hoài không kín gối. Ngàn năm nay sông
Tương Sóng còn nức nở mãi Khóc chuyện áo bông sờn Đắp mặt thơ
chết đói! 15
Giá trị hiện thực trong thơ Đỗ Phủ *Chú giải: (1) Trích dẫn dựa trên bản
thơ của website thivien.com - Trang thơ Đỗ Phủ. (2) Theo thạc sỹ Ngô
Viết Hoàn trong bài nghiên cứu “Giá trị hiện thực và giá trị nhân đạo
trong tác phẩm văn chương”. (3) Trong bài “Phụng tặng Vi tả thừa
trượng nhị thập nhị vận” - 奉贈韋左丞丈二十二韻 (4) Bài “Bạch Đế” -
白帝 (5) Lý Bạch 李 白 (701-762) là một trong những nhà thơ danh
tiếng nhất thời thịnh Đường nói riêng và Trung Quốc nói chung, được


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status