Sự cạnh tranh của các trung gian tài chính phi ngân hàng với ngân hàng thương mại. Liên hệ với Việt Nam - Pdf 28

Đề tài 3 : Sự cạnh tranh của các trung gian tài chính phi ngân hàng với ngân hàng
thương mại. Liên hệ với Việt Nam
Sự khác nhau giữa các tổ chức trung gian tài chính phi ngân hàng với nhtm
Ngân hàng và các tổ chức trung gian tài chính khác đều có vai trò trung gian giữa
người tiết kiệm và sử dụng vốn.
Ngân hàng thương mại Tổ chức tài chính phi ngân hàng
Ngân hàng nhận tiền gửi và trả lãi cho
người gửi tiền
Ngân hàng cho vay và tính lãi người đi
vay
Là tổ chức nhận tiền gửi
Phải tạo lập dự trữ bắt buộc
Có chức năng trung gian thanh toán
Nhận phí bảo hiểm hoặc tiền góp của
các thành viên
Đem tiền này đi đầu tư chứng khoán và
chia lợi nhuận cho tv
Là tổ chức không nhận tiền gửi
Không cần tạo lập dự trữ bb
Không có chức năng trung gian tt
I, Hoạt động chính của ngân hàng thương mại
1. Huy động vốn
Ngân hàng huy động vốn dưới các hình thức sau:
a, Nhận tiền gửi của các tổ chức, cá nhân và các tổ chức tín dụng khác dưới các hình
thức tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn và các loại tiền gửi khác.
b, Phát hành chứng chỉ tiền gửi, trái phiếu và giấy tờ có giá khác để huy động vốn của
tổ chức, cá nhân trong nước và ngoài nước khi được Thống đốc NHNN chấp thuận.
c, Vay vốn của các tổ chức tín dụng khác hoạt động tại Việt Nam và của tổ chức tín
dụng nước ngoài.
d, Vay vốn ngắn hạn của NHNN dưới hình thức tái cấp vốn.
e, Các hình thức huy động vốn khác theo quy định của NHNN.

cầm cố thương phiếu và các giấy tờ có giá ngắn hạn khác đã được chiết khấu theo quy
định pháp luật hiện hành.
6.Công ty cho thuê tài chính
Ngân hàng phải thành lập Công ty cho thuê tài chính khi hoạt động cho thuê tài chính.
7. Dịch vụ thanh toán và ngân quỹ
a, Ngân hàng thực hiện các dịch vụ thanh toán và ngân quỹ:
- Cung ứng các phương tiện thanh toán.
- Thực hiện các dịch vụ thanh toán trong nước cho khác hàng.
- Thực hiện dịch vụ thu hộ và chi hộ.
- Thực hiện các dịch vụ thanh toán khác theo quy định của NHNN.
- Thực hiện dịch vụ thanh toán quốc tế khi được NHNN cho phép .
- Thực hiện dịch vụ thu và phát tiền mặt cho khách hàng.
b, Ngân hàng tổ chức hệ thống thanh toán nội bộ và tham gia hệ thống thanh toán liên
ngân hàng trong nước. Tham gia các hệ thống thanh toán quốc tế khi được NHNN cho
phép.
8.Các hoạt động khác
Ngân hàng thực hiện các hoạt động khác sau đây:
a, Dùng Vốn điều lệ và quỹ dự trữ để góp vốn, mua cổ phần của doanh nghiệp và của
các tổ chức tín dụng khác theo quy định của pháp luật.
b, Góp vốn với tổ chức tín dụng nước ngoài để thành lập tổ chức tín dụng liên doanh
tại Việt Nam theo quy định của Chính phủ về tổ chức và hoạt động của tổ chức tín
dụng nước ngoài tại Việt Nam.
c, Tham gia thị trường tiền tệ theo quy định của NHNN.
d, Kinh doanh ngoại hối và vàng trên thị trường trong nước và thị trường quốc tế khi
được NHNN cho phép.
đ, Được quyền uỷ thác, nhận uỷ thác, làm đại lý trong các lĩnh vực liên quan đến hoạt
động ngân hàng, kể cả việc quản lý tài sản, vốn đầu tư của tổ chức, cá nhân trong và
ngoài nước theo hợp đông uỷ thác và đại lý.
e,Cung ứng dịch vụ bảo hiểm; được thành lập công ty trực thuộc hoặc liên doanh để
kinh doanh bảo hiểm theo quy định của pháp luật.

Có thể thấy lợi ích của công ty tài chính mang lại cho các doanh nghiệp là rất lớn.
Không phải ngẫu nhiên mà trên thế giới, các tập đoàn lớn thường có ít nhất một công
ty tài chính. Công ty tài chính là công cụ để tập đoàn điều tiết vốn và sử dụng vốn một
cách có hiệu quả và thuận lợi nhất. Trong phạm vi nội bộ tập đoàn hoặc nhóm công ty
có quan hệ lợi ích gắn bó, công ty tài chính có thể dễ dàng huy động các nguồn vốn
nhàn rỗi từ các công ty thành viên để tập trung vốn đầu tư. Với tính nội bộ cao trong
hoạt động nghiệp vụ công ty tài chính có thể kiểm soát rủi ro và tập trung vốn lớn cho
các dự án quan trọng trong nội bộ tập đoàn.
Với lợi nhuận hấp dẫn và có thể kiểm soát được rủi ro, công ty tài chính đang được
mở rộng quy mô và số lượng hoạt động và đóng góp không nhỏ vào lỗ hổng thiếu hụt
tài chính do thiếu khả năng cung ứng của các ngân hàng thế giới.
> Tại Việt Nam, hiện có tới 17 công ty tài chính, phần lớn thuộc các tập đoàn kinh tế
Nhà nước. Các công ty tài chính thường trực thuộc những Tập đoàn, Tổng công ty Nhà
nước như: Công ty tài chính công nghiệp Tàu thủy, Công ty tài chính Điện lực, công ty
tài chính xi măng, công ty tài chính Than khoáng sản Việt nam, công ty tài chính Cổ
phần Dầu khí…
Ưu điểm của các công ty tài chính là mang lại một nguồn vốn lớn dài hạn, cung ứng
cho nhiều dự án lớn trọng điểm. Tuy nhiên ở Việt Nam, các công ty tài chính lại trực
thuộc các tập đoàn mà các tập đoàn này về bản chất là sử dụng vốn của Nhà nước.
Năm 2008 khi các Tập đoàn công bố báo cáo tài chính thì hầu hết các ngành nghề
chính đều thua lỗ trong khi phần thu lãi lại xuất phát từ đầu tư tài chính. Trong khi đó,
các Tổng công ty tập đoàn có vốn nhà nước thường xuyên “kêu” thiếu vốn đầu tư cho
các dự án thì vẫn thành lập ra hàng loạt các công ty tài chính để nhằm mục đích đầu
tư tài chính.
2, Quỹ đầu tư tương hỗ
Các quỹ này thu hút được các nhà đầu tư vốn ít nhỏ lẻ, các cá nhân có ít tiền tiết
kiệm muốn sinh lợi cho những đồng tiền của họ. Họ bỏ vốn vào quỹ, những người
quản lý dùng đầu tư vào chứng khoán lãi suất cao. Rồi lại dùng chứng khoán lãi suất
cao này làm đảo bảo để phát hành hoặc mua đi bán lại chứng khoán ngắn hạn khác.
Lợi tức được chia theo tháng hoặc nửa năm 1 lần và cao hay thấp là phụ thuộc vào kết

cháy nổ, trộm cắp xảy ra thường xuyên nên các công ty này rất ít dám dùng vốn đầu tư
vào những tài sản lâu dài. Thông thường họ chỉ dám đầu tư vào chứng khoán ngắn hạn
và các loại tài sản dễ thanh khoản
Vậy các công ty bảo hiệm huy động vốn bằng những vốn tiết kiệm trong dân cư để
mang ra đầu tư, và việc đầu tư của các cty bảo hiểm này có tính rủi ro khá cao. Ngoài
ra vốn huy động từ bảo hiểm có tính chu kỳ, không linh hoạt. Khó có thể so sánh được
với sự linh hoạt đến chộp giật của các ngân hàng thương mại.
Tuy nhiên Mấy năm gần đây ngân hàng và các công ty bảo hiểm đã liên kết chặt chẽ
với nhau thông qua hoạt động Bancassurance. Đây là kênh phân phối sản phẩm bảo
hiểm hiệu quả, cạnh tranh mạnh mẽ với kênh phân phối truyền thống (thông qua các
đại lý bảo hiểm là các ngân hàng). Thông qua các hoạt động này, hình ảnh của các
ngân hàng và công ty bảo hiểm được quảng bá mạnh hơn.
Tại Việt Nam đã có một số doanh nghiệp phát triển khá thành công trên kênh phân
phối này, tiêu biểu như : Liên kết Bảo Việt nhân thọ-Techcombank: là một trong các
liên kết ngân hàng và bảo hiểm ở Việt Nam cho ra đời các sản phẩm Bancassurance
đầu tiên. Vào ngày 01/08/2006 hai bên đã ký kết hợp tác cho ra đời hai sản phẩm là
“Tài khoản tiết kiệm giáo dục” và “ Tín dụng cho nhà mới và ô tô xịn”. Ngày
20/11/2007 Bảo Việt và Techcombank tiếp tục triển khai 2 sản phẩm mới là sự kết hợp
“An tâm tiêu dùng” của Bảo Việt và “Cho vay tiêu dùng trả góp” và “Cho vay trả góp
mua hàng” của Techcombank. Việc chính thức ra mắt các sản phẩm Bancassurance
mới này đánh dấu bước phát triển mới trong hoạt động Bancassurance giữa
Techcombank và Bảo Việt Nhân thọ.
Nước ngoài hệ thống các công ty bảo hiểm rất phổ biến và hoạt động rất mạnh, đặc
biệt là về bảo hiểm nhân thọ do Bảo hiểm này có thể giảm được gánh nặng cho bảo
hiểm xã hội nên được nhà nước ủng hộ rất nhiệt tình.
VN chỉ có một vài công ty bảo hiểm. Hoạt động chính vẫn là công ty bảo hiểm Việt
Nam ( Bảo Việt), cty bảo hiểm TPHCM (Bảo Minh), những doanh nghiệp nhà nước và
một số công ty bảo hiểm nước ngoài như Prudential, Manulife …Nhưng cường độ hoạt
động, mức độ phát triển tải sản nợ, có cũng như phương thức hoạt động còn rất chậm
so với nước ngoài. Sự phát triển của tài chính trong tương lai tất yếu sẽ đòi hỏi nhiều tổ

để sản xuất kinh doanh. Ngoài ra các cty mới thành lập rất khó vay được từ các cty đầu
tư mạo hiểm(2%). Vậy chúng ta có thể thấy cty đầu tư mạo hiểm không cần cạnh tranh
với NHTM


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status