ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
o0o
NGUYỄN HỒNG YÊN
THU HÚT VỐN ĐẦU TƢ
CHO PHÁT TRIỂN DU LỊCH TỈNH QUẢNG NINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ KINH TẾ
CHƢƠNG TRÌNH ĐỊNH HƢỚNG THỰC HÀNH
Hà Nội – 2014 MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VIẾT TẮT i
DANH MỤC CÁC BẢNG ii
MỞ ĐẦU 1
CHƢƠNG 1 9
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ THU HÚT VỐN ĐẦU TƢ CHO PHÁT TRIỂN
DU LỊCH 9
1.1 Các khái niệm cơ bản 9
1.1.1 Du lịch và phát triển du lịch 9
1.1.2 Khái niệm vốn đầu tƣ và thu hút vốn đầu tƣ 9
1.1.3 Các nguồn vốn đầu tƣ 10
1.2 Thu hút vốn đầu tƣ để phát triển du lịch 12
1.2.1 Sự cần thiết phải thu hút vốn đầu tƣ để phát triển du lịch 12
1.2.2 Những nhân tố ảnh hƣởng đến thu hút vốn đầu tƣ vào du lịch 14
1.2.3 Nội dung thu hút vốn đầu tƣ 16
1.3 Kinh nghiêm thu hút vốn và du khách cho phát triển du lịch ở một số quốc gia và địa
phƣơng 18
1.3.1 Kinh nghiệm của Singapore 18
1.3.2 Kinh nghiệm của thành phố Đà Nẵng 20
1.3.3 Bài học kinh nghiệm cho tỉnh Quảng Ninh 22
Tiểu kết chƣơng 1 24
CHƢƠNG 2 25
THỰC TRẠNG THU HÚT VỐN ĐẦU TƢ CHO PHÁT TRIỂN DU LỊCH TỈNH
QUẢNG NINH 25
2.1 Những nhân tố ảnh hƣởng đến thu hút vốn đầu tƣ vào du lịch Quảng Ninh 25
2.1.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế – xã hội 25
2.1.2 Sự phát triển của ngành du lịch Quảng Ninh 30
3.2.5 Giải pháp về nguồn nhân lực du lịch 63
3.2.6 Giải pháp về xúc tiến đầu tƣ, quảng bá du lịch 64
3.2.7 Tổ chức và quản lý nhà nƣớc 66
Tiểu kết chƣơng 3 69
TÀI LIỆU THAM KHẢO 72 i
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VIẾT TẮT
STT
Ký hiệu
Tiếng Anh
Tiếng Việt
1
ASEAN
Association of Southeast
Asian Nations
Hiệp hội các Quốc gia Đông
Nam Á
2
9
PCI
Provincial Competitiveness
Index
Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp
tỉnh
10
PPP
Public – private partnership
Hợp tác công tƣ
11
TP
Thành phố
12
UBND
Ủy ban nhân dân ii
DANH MỤC CÁC BẢNG
STT
Số hiệu
Nội dung
Trang
1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Là một tỉnh có nhiều tiềm năng về phát triển du lịch, Quảng Ninh không chỉ
nổi tiếng với di sản thế giới, kỳ quan thiên nhiên thế giới Vịnh Hạ Long mà vùng
đất này cũng có rất nhiều danh lam, thắng cảnh, di tích lịch sử hấp dẫn khác nhƣ
cửa khẩu Móng Cái - nơi thông thƣơng với đất nƣớc Trung Hoa lớn mạnh, chùa
Yên Tử- trung tâm phật giáo lớn của Việt Nam, hay những bãi biển đẹp hoang sơ
nổi tiếng nhất miền Bắc nhƣ Cô Tô, Quan Lạn và gần 500 di tích lịch sử, văn hóa, lễ
hội đặc sắc…Đây là những điều kiện rất thuận lợi để Quảng Ninh phát triển một
nền kinh tế du lịch xanh, bền vững và thịnh vƣợng.
Trong những năm qua du lịch Quảng Ninh đã có những bƣớc phát triển
mạnh mẽ. Lƣợng du khách đến với Quảng Ninh không ngừng gia tăng. Song, hiệu
quả doanh thu từ du lịch vẫn còn hạn chế. Theo đánh giá của các chuyên gia kinh tế,
nếu so với nguồn tài nguyên, sự phát triển của du lịch tỉnh Quảng Ninh lâu nay vẫn
chƣa thật sự tƣơng xứng với những gì mà thiên nhiên hào phóng ban tặng cho vùng
đất này.
Theo số liệu thống kê trong giai đoạn 2001-2010, tổng số du khách đến
Quảng Ninh tăng bình quân 11,84%/năm, trong đó khách quốc tế tăng 13,48%/năm;
tổng doanh thu du lịch tăng bình quân 24,5%. Năm 2012, Quảng Ninh đón khoảng
trong việc thực hiện các giải pháp đồng bộ nhằm thu hút vốn đầu tƣ cho phát triển
du lịch, trong đó vai trò của chính phủ và chính quyền địa phƣơng trong việc tạo
điều kiện để thu hút nguồn vốn đầu tƣ từ các thành phần kinh tế là rất quan trọng.
Trƣớc thực tiễn nhƣ vậy, đề tài “Thu hút vốn đầu tƣ cho phát triển du lịch
tỉnh Quảng Ninh” cần đƣợc đặt ra nghiên cứu nhằm tìm ra giải pháp để thu hút
vốn đầu tƣ cho phát triển du lịch, để du lịch thực sự trở thành ngành kinh tế mũi
nhọn của tỉnh, đồng thời hƣớng tới mục tiêu đƣa Quảng Ninh trở thành tỉnh dịch vụ
– công nghiệp vào năm 2020 và tiến cao hơn một bƣớc là tỉnh dịch vụ-công nghiệp
hiện đại vào năm 2030.
2. Tình hình nghiên cứu
Cho đến nay, vấn đề thu hút vốn đầu tƣ cho phát triển du lịch cũng đã đƣợc
nhiều tác giả quan tâm. Trong các công trình nghiên cứu của mình, các tác giả hầu
3
nhƣ đều đề cập đến lý luận về vốn đầu tƣ và du lịch, sự cần thiết phải thu hút vốn
đầu tƣ vào du lịch, phân tích thực trạng vốn đầu tƣ vào du lịch ở Việt Nam cũng
nhƣ một số địa phƣơng trong nƣớc và lần lƣợt đƣa ra các giải pháp để thu hút vốn
hiệu quả hơn trong tƣơng lai. Cụ thể nhƣ:
Những nghiên cứu về thu hút vốn đầu tư cho du lịch Việt Nam:
- Luận văn “Một số biện pháp thu hút và sử dụng hiệu quả vốn đầu tƣ vào du
lịch” của tác giả Nguyễn Thị Nhung (2012), chuyên ngành Quản trị kinh doanh, chủ
yếu chú trọng vào việc hình thành khung lý thuyết về kinh tế đầu tƣ và du lịch trên
cơ sở làm nổi bật tầm quan trọng của ngành du lịch đối với phát triển kinh tế và vai
trò của đầu tƣ đối với ngành du lịch. Tác giả có nêu thêm thực trạng đầu tƣ vào
ngành du lịch , đồng thời đƣa ra một số giải pháp khả thi để thu hút và sử dụng một
cách hiệu quả nhất vốn đầu tƣ vào du lịch Việt Nam trong tƣơng lai.
- Luận văn “Thực trạng và giải pháp thu hút vốn đầu tƣ vào ngành Du lịch”
thúc đẩy ngành du lịch phát triển.
- Với mục đích đƣa ra chiến lƣợc marketing cụ thể cho công tác thu hút vốn du
lịch của tỉnh Quảng Ninh, tác giả Lê Thị Hồng Dự đã viết bài“Lập kế hoạch
marketing cho Quảng Ninh trong việc thu hút đầu tư du lịch” đã thực hiện các
nghiên cứu thực tế để phân tích, đánh giá tiềm năng du lịch, các nguồn lực phát
triển du lịch tỉnh Quảng Ninh, nghiên cứu môi trƣờng vĩ mô, năng lực cạnh tranh
của Tỉnh, nêu lên thực trạng thu hút đầu tƣ cho du lịch trong thời gian qua, đồng
thời đƣa ra những đánh giá về thuận lợi, khó khăn.
Tuy nhiên, các đề tài về thu hút vốn cho phát triển du lịch Việt Nam chỉ mới
đƣợc xem xét trên góc độ đơn thuần là làm thế nào để thu hút vốn đầu tƣ mà chƣa
tạo đƣợc cú hích thực sự trong việc thu hút vốn để phát triển du lịch.
Các đề tài về thu hút vốn cho phát triển du lịch của một số địa phƣơng nhƣ
thành phố Hà Nội, thành phố Hội An…chƣa đề xuất đến vai trò quyết định của
Chính phủ cũng nhƣ địa phƣơng trong việc thu hút đầu tƣ tƣ nhân, đó là do việc
thiếu cơ sở lý luận về vai trò của khu vực công trong việc thu hút vốn đầu tƣ.
Các nghiên cứu về thu hút vốn đầu tƣ cho phát triển du lịch Quảng Ninh còn
chƣa nhiều, đặc biệt thƣờng chỉ chú trọng đến vốn đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài và
5
chƣa có những nghiên cứu cập nhật, đồng thời một số đề tài chƣa đƣa gắn đƣợc với
quy hoạch, chiến lƣợc phát triển du lịch của Tỉnh trong tƣơng lai.
Trên đây chính là những yếu tố mới phát sinh sẽ có tác động tích cực đến
việc thu hút vốn đầu tƣ phát triển ngành du lịch của tỉnh Quảng Ninh trong tƣơng
lai mà các công trình nghiên cứu trƣớc có thể đề cập chƣa nhiều.
Ở luận văn này, tác giả tập trung nghiên cứu việc thu hút vốn đầu tƣ vào phát
triển du lịch vào một tỉnh, cụ thể là tỉnh Quảng Ninh, trong đó sẽ đề cập đến vai trò
quyết định của khu vực công trong việc tạo môi trƣờng thuận lợi đẩy mạnh thu hút
- Về thời gian: Nghiên cứu khảo sát số liệu vốn đầu tƣ và khách du lịch chủ
yếu trong giai đoạn 2007 - 2012
6. Phƣơng pháp nghiên cứu
Để phù hợp với nội dung, yêu cầu và mục đích nghiên cứu, luận văn sử dụng
một số phƣơng pháp nghiên cứu khoa học, bao gồm:
- Phương pháp phân tích, tổng hợp: Luận văn phân tích và tổng hợp kinh
nghiệm các nƣớc trong khu vực trong việc thu hút vốn đầu tƣ và khách du lịch.
Đồng thời luận văn sử dụng các dữ liệu phù hợp trong quá trình phân tích thực trạng
phát triển du lịch và thực trạng thu hút các nguồn vốn đầu tƣ của tỉnh Quảng Ninh.
Trên cơ sở kinh nghiệm các nƣớc để đề xuất các giải pháp khả thi.
- Phương pháp so sánh: Tác giả dùng phƣơng pháp này nhằm so sánh thực
trạng và tiềm năng phát triển du lịch của tỉnh Quảng Ninh, so sánh tình hình thu hút
vốn và khách du lịch của tỉnh Quảng Ninh với địa phƣơng khác và với các nƣớc
khác, từ đó rút ra những điểm đƣợc và chƣa đƣợc trong công tác thu hút vốn phát
triển du lịch Tỉnh và đƣa ra giải pháp.
- Phương pháp thống kê: Các số liệu sử dụng trong đề tài này lấy từ một số
nguồn cơ bản đó là từ UBND tỉnh Quảng Ninh, Sở Kế hoạch và Đầu tƣ Quảng
Ninh, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Quảng Ninh, Cục thống kê tỉnh Quảng Ninh.
- Phương pháp định tính: Phƣơng pháp này đƣợc áp dụng trong việc nghiên cứu
các nhân tố ảnh hƣởng đến quyết định đầu tƣ vào ngành du lịch tỉnh Quảng Ninh.
7
7. Những đóng góp của luận văn
- Trên cơ sở kế thừa các nghiên cứu trƣớc đây về thu hút vốn đầu tƣ cho
phát triển du lịch, luận văn đã luận giải các chính sách để thu hút vốn đầu tƣ
vào địa phƣơng là chính sách về quy hoạch, chính sách cải thiện môi trƣờng
đầu tƣ, chính sách về phát triển cơ sở hạ tầng, chính sách về ƣu đãi, hỗ trợ đầu
triển du lịch tỉnh Quảng Ninh. 9 CHƢƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ THU HÚT VỐN ĐẦU TƢ CHO
PHÁT TRIỂN DU LỊCH
1.1 Các khái niệm cơ bản
1.1.1 Du lịch và phát triển du lịch
Luật du lịch đƣợc Quốc hội thông qua năm 2005 đã đƣa ra khái niệm: “Du
lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú
thường xuyên của mình nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, tìm hiểu, giải trí, nghỉ
dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định” [8]. Từ khái niệm trên, có thể rút ra
những luận điểm cơ bản về du lịch sau:
- Du lịch là hoạt động của con ngƣời ngoài nơi cƣ trú thƣờng xuyên.
- Chuyến du lịch ở nơi đến mang tính tạm thời, trong một thời gian ngắn.
- Mục đích của chuyến du lịch là thoả mãn nhu cầu tham quan, nghỉ dƣỡng
hoặc kết hợp đi du lịch với giải quyết những công việc của cơ quan và nghiên cứu
thị trƣờng, nhƣng không vì mục đích định cƣ hoặc tìm kiếm việc làm để nhận thu
nhập nơi đến viếng thăm.
- Du lịch là thiết lập các quan hệ giữa khách du lịch với nhà cung ứng các dịch
vụ du lịch, chính quyền địa phƣơng và dân cƣ ở địa phƣơng.
Phát triển du lịch được hiểu là sự vận động đi lên theo chiều hướng tiến bộ
của hoạt động du lịch cả về quy mô số lượng và chất lượng. Đây cũng là quá trình
cộng đồng doanh nghiệp, dân cư và chính quyền không ngừng mở rộng và nâng cao
tránh đƣợc hậu quả từ bên ngoài. Nguồn vốn trong nƣớc bao gồm vốn Nhà nƣớc,
vốn tín dụng, vốn của khu vực doanh nghiệp tƣ nhân và dân cƣ chủ yếu đƣợc hình
thành từ các khu vực sau: tiết kiệm của ngân sách, tiết kiệm của doanh nghiệp và
tiết kiệm của khu vực dân cƣ.
- Tiết kiệm của ngân sách nhà nước: Là số chênh lệch dƣơng giữa tổng các
khoản thu mang tính không hoàn lại (chủ yếu là thuế) với tổng chi tiêu của ngân
11
sách. Tiết kiệm ở khâu tài chính này sẽ hình thành nên nguồn vốn đầu tƣ của nhà
nƣớc và phụ thuộc vào chính sách chi tiêu của ngân sách.
- Tiết kiệm doanh nghiệp: Là số lãi ròng có đƣợc từ kết quả kinh doanh. Đây
là nguồn tiết kiệm cơ bản để các doanh nghiệp tạo vốn cho đầu tƣ phát triển theo
chiều rộng và chiều sâu. Quy mô tiết kiệm của doanh nghiệp phụ thuộc vào các yếu
tố trực tiếp nhƣ hiệu quả kinh doanh, chính sách thuế, sự ổn định kinh tế vĩ mô…
- Tiết kiệm của khu vực dân cư: Là khoản tiền còn lại của thu nhập sau khi đã
phân phối và sử dụng cho mục đích tiêu dùng. Quy mô tiết kiệm của khu vực dân cƣ
chịu ảnh hƣởng bởi các nhân tố trực tiếp nhƣ trình độ phát triển kinh tế, thu nhập bình
quân đầu ngƣời, chính sách lãi suất, chính sách thuế, sự ổn định kinh tế vĩ mô…
1.1.3.2 Nguồn vốn đầu tƣ nƣớc ngoài:
Nguồn vốn đầu tƣ nƣớc ngoài đƣợc hình thành từ tiết kiệm của các chủ thể
kinh tế nƣớc ngoài và đƣợc huy động thông qua các hình thức cơ bản: Viện trợ phát
triển chính thức (Official Development Assistance – ODA) và Đầu tƣ trực tiếp nƣớc
ngoài (Foreign Direct Invesment – FDI).
- Viện trợ phát triển chính thức ODA: Đây là tất cả các khoản viện trợ của
các đối tác viện trợ nƣớc ngoài dành cho Chính phủ và nhân dân nƣớc nhận viện
trợ. Gọi là “Viện trợ” bởi vì các khoản đầu tƣ này thƣờng là các khoản cho vay
không lãi suất hoặc lãi suất thấp với thời gian vay dài. Gọi là “Phát triển” vì mục
1.2.1 Sự cần thiết phải thu hút vốn đầu tƣ để phát triển du lịch
Thu hút vốn đầu tƣ đƣợc các nhà kinh tế học quan tâm nghiên cứu, đƣợc
Chính phủ các nƣớc đẩy mạnh thực hiện. Quá trình này đang diễn ra gay gắt giữa
các quốc gia, khu vực, vùng miền. Cũng nhƣ với các ngành kinh tế khác, thu hút
vốn đầu tƣ có vai trò rất quan trọng trong sự phát triển của ngành du lịch. Để đƣa du
khách đến với các địa điểm du lịch, trƣớc hết cần phải đầu tƣ xây dựng cơ sở hạ
tầng nhƣ hệ thống giao thông, phƣơng tiện vận chuyển…Muốn giữ chân du khách,
phải đầu tƣ xây dựng, tôn tạo các khu du lịch, xây dựng cơ sở lƣu trú, hoàn chỉnh hệ
thống thông tin liên lạc, cung cấp nƣớc sạch, năng lƣợng cho các khu du lịch. Muốn
gia tăng nguồn thu từ khách du lịch phải đầu tƣ vốn để tạo ra các sản phẩm du lịch
đa dạng, phong phú và hấp dẫn…Do đó, việc xác định quy mô và định hƣớng đầu
tƣ vốn đúng đắn sẽ tạo điều kiện cho du lịch phát triển bền vững, khai thác tốt các
13
tiềm năng và bảo vệ cảnh quan môi trƣờng. Ở nhiều quốc gia trên thế giới, kinh
doanh du lịch đang là một trong những ngành kinh tế mũi nhọn, du lịch là “con gà
đẻ trứng vàng”, vì vậy, không ngừng thu hút vốn đầu tƣ vào phát triển du lịch là sự
cần thiết khách quan bởi một số lý do sau:
- Thu hút vốn đầu tư vào phát triển du lịch góp phần tăng trưởng kinh tế:
Thu hút đẩu tƣ sẽ làm cho lƣợng vốn đầu tƣ tăng lên, do đó sản lƣợng đầu ra cũng
tăng lên sẽ góp phần phát triển ngành du lịch nói riêng và thúc đẩy các ngành khác
trong nền kinh tế quốc dân phát triển thông qua việc tạo ra một thị trƣờng tiêu thụ
sản phẩm cho các ngành. Từ nông nghiệp, thuỷ hải sản, công nghiệp chế biến lƣơng
thực thực phẩm, công nghiệp hàng tiêu dùng đến điện lực, nƣớc sạch, bƣu chính,
viễn thông…tiêu thụ đƣợc sản phẩm thông qua bán sản phẩm và dịch vụ cho khách
du lịch và doanh nghiệp du lịch.
- Thu hút vốn đầu tư vào phát triển du lịch góp phần chuyển dịch cơ cấu
triển cao về quản lý kinh tế vĩ mô, cơ sở hạ tầng, chất lƣợng cung cấp dịch vụ
cho hoạt động kinh doanh của các nhà đầu tƣ… thƣờng thu hút đầu tƣ mạnh mẽ
hơn các chính sách ƣu đãi về tài chính của quốc gia đó đối với chủ đầu tƣ, đặc
biệt với nhà đầu tƣ nƣớc ngoài, họ quan tâm đến các yếu tố kinh tế nhƣ xu thế
phát triển của nền kinh tế thế giới, lãi suất, tỷ giá hối đoái, tiền lƣơng và thu
nhập của lao động nƣớc chủ nhà. Ngoài ra, sự bảo đảm vững chắc về quốc
phòng, an ninh tạo môi trƣờng ổn định cho đất nƣớc và khách tới tham quan.
Sự ổn định chính trị mang lại sự an toàn về đầu tƣ, quyền sở hữu lâu dài và hợp
pháp của họ. Từ đó, họ có thể an tâm và tập trung vào hoạt động sản xuất kinh
doanh của mình, thực hiện hiệu quả các dự án đầu tƣ.
- Cơ chế, chính sách và luật pháp của Nhà nước: Nhận thức vai trò của du
lịch đối với sự phát triển kinh tế-xã hội nhiều nƣớc đã xác định “phát triển du lịch là
quốc sách”, hoặc “đƣa ngành du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn”, việc xây
dựng các cơ chế, chính sách và luật pháp tạo điều kiện cho du lịch phát triển là điều
kiện mang tính quyết định. Đó là việc xây dựng cơ chế chính sách tạo điều kiện
thuận lợi và dễ dàng cho: khách du lịch quốc tế vào – ra, cho việc đầu tƣ, liên
doanh, liên kết các cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ du lịch, cho việc phát triển các
loại hình dịch vụ đáp ứng nhu cầu của khách du lịch, việc phát triển cơ sở hạ tầng
15
cho hoạt động du lịch phát triển. Nhiều nƣớc xây dựng cơ chế miễn thị thực cho
khách du lịch nƣớc ngoài nhằm thu hút nhiều khách hoặc có chính sách khuyến
khích các nhà đầu tƣ nƣớc ngoài đầu tƣ vào lĩnh vực khách sạn và du lịch. Xây
dựng Luật Du lịch, Luật Khách sạn, Luật Hƣớng dẫn viên du lịch, Luật Đại lý du
lịch…để tạo một môi trƣờng pháp lý cho hoạt động du lịch phát triển. Điều đó đóng
vai trò quan trọng trong việc làm tăng dòng vốn đầu tƣ, đặc biệt là đầu tƣ nƣớc
ngoài vào quốc gia, địa phƣơng.
động về tình trạng ô nhiễm môi trƣờng, hạ tầng cơ sở yếu kém và chất lƣợng dịch
vụ kém, quản lý kém, tạo ấn tƣợng xấu với du khách, cạnh tranh thiếu lành mạnh,
“chặt chém”, bắt nạt du khách Từ hơn 20 năm phát triển du lịch, Việt Nam chỉ
chú trọng khai thác thiên nhiên và thiếu định hƣớng chiến lƣợc phát triển, đầu tƣ
một cách bài bản cho du lịch, và kém xa các nƣớc khác trong khu vực.
Sự phát triển thiếu lành mạnh và kém bền vững của du lịch Việt Nam thời
gian qua đã làm cho chúng ta phải chú ý đến tính bền vững của du lịch. Phát triển
du lịch bền vững là xu thế tất yếu của Việt Nam và thế giới. Phát triển du lịch bền
vững sẽ tạo cho Việt Nam đạt nhiều thành tựu mới trong phát triển du lịch, hấp dẫn
các nhà đầu tƣ trong nƣớc và nƣớc ngoài, dần dần trở thành ngành kinh tế mũi nhọn
góp phần thúc đẩy cơ cấu kinh tế và mang lại công bằng tiến bộ xã hội.
1.2.3 Nội dung thu hút vốn đầu tƣ
Chính sách thu hút đầu tƣ gồm hệ thống các chính sách, công cụ và biện
pháp mà nhà nƣớc áp dụng tác động vào hoạt động đầu tƣ nhằm thu hút các dòng
vốn đầu tƣ trong một thời kỳ nhất định. Đầu tƣ ở đâu, bằng hình thức nào trƣớc hết
ở quyền lựa chọn của các nhà đầu tƣ. Sự lựa chọn đó đƣợc quy định bởi khả năng
sinh lời từ đồng vốn mà họ sẽ bỏ ra. Nếu quốc gia hay địa phƣơng nào tạo đƣợc môi
trƣờng kinh doanh có lãi cao sẽ thu hút đƣợc nhiều nguồn vốn cả bên trong lẫn bên
ngoài. Nghiên cứu những yếu tố là động lực thúc đẩy cũng nhƣ các yếu tố làm kìm
hãm và hạn chế các nhà đầu tƣ là công việc vô cùng quan trọng đối với các nhà
hoạch định chính sách. Sự hiểu biết sâu sắc về việc nhà đầu tƣ cần và tránh gì sẽ
giúp cho họ xây dựng đƣợc các chính sách thu hút đầu tƣ hiệu quả nhất.
- Công tác quy hoạch: Quy hoạch phát triển du lịch nằm trong quy hoạch phát
triển kinh tế-xã hội của một quốc gia, một địa phƣơng theo chiến lƣợc phát triển
kinh tế-xã hội trong một giai đoạn nhất định. Quy hoạch du lịch là một phƣơng án
17
18
phẩm, hội nghị, hội thảo, truyền tin, truyền hình, tổ chức gặp gỡ, qua kênh thông tin
điện tử…để các nhà đầu tƣ có cơ hội nắm bắt đƣợc thông tin, hiểu rõ về thông tin để
có lựa chọn và đƣa ra quyết định đầu tƣ.
1.3 Kinh nghiêm thu hút vốn và du khách cho phát triển du lịch ở một số quốc
gia và địa phƣơng
1.3.1 Kinh nghiệm của Singapore
Singapore là một quốc đảo nhỏ chỉ có 710 km2, tài nguyên hạn chế, rất ít
danh lam thắng cảnh tụ nhiên nhƣng đã biết phát huy triệt để tiềm năng, thế mạnh
về vị trí địa lý và nguồn lực con ngƣời để có những bƣớc phát triển du lịch vƣợt
bậc. Năm 2012, ngành du lịch và khách sạn đã đóng góp cho nền kinh tế Singapore
số doanh thu khổng lồ, gần 19 tỷ đô la. Điều đáng nói là số lƣợng khách du lịch đến
Singapore không ngừng tăng lên trong những năm qua, từ con số 7,7 triệu lƣợt
khách vào năm 2000 đến 10,8 triệu lƣợt khách năm 2008 và dự kiến lên đến 17 triệu
lƣợt khách vào năm 2015. Singapore hiện có khoảng trên 50.000 phòng khách sạn,
với giá dịch vụ trung bình khoảng 245 đô Sing/phòng/ngày (khoảng hơn 4 triệu
đồng Việt Nam), tỷ lệ sử dụng phòng năm 2011 đạt đến 86%. Đây thực sự là những
con số ấn tƣợng của ngành du lịch ở một đất nƣớc nhỏ bé, ít tài nguyên và chƣa hẳn
đã có nhiều lợi thế để phát triển du lịch nhƣ Singapore.
Khu du lịch Resort World Sentosa là một minh chứng điển hình cho sự phát
triển du lịch của Singapore. Thống kê riêng tại khu du lịch Resort World Sentosa,
trong năm 2010, đã đón 15 triệu lƣợt khách (gấp hơn 3 lần lƣợng du khách quốc tế
đến Việt Nam trong cùng kỳ), mặc dù dân số của nƣớc này chỉ khoảng 4 triệu
ngƣời. Mục tiêu của khu nghỉ dƣỡng này là phải tạo đƣợc sự tò mò, mang đến cảm
giác mới lạ cho du khách, bên cạnh đó phải bảo đảm đƣợc các dịch vụ ăn, ở, đi lại
thuận tiện. Đây là một bí quyết đơn giản, nhƣng có tính ứng dụng ở mọi nơi, bởi nó
đóng vai trò quyết định trong việc cung cấp đƣợc dịch vụ trọn gói và thu hút khách
- Dịch vụ ăn, ở, đi lại thuận tiện: Để du khách có nhiều sự lựa chọn, các khách
sạn tại đây đƣợc thiết kế với những phong cách khác biệt. Chẳng hạn, khách sạn Lễ hội
(Festive Hotel) là nơi đặc biệt dành cho các gia đình có trẻ con; còn khách sạn Hard
Rock thì lại phù hợp với cá tính sôi nổi của giới trẻ… Các nhà hàng tại Resort World
Sentosa cũng đều mang những nét văn hóa ẩm thực đến từ các châu lục khác nhau. Để