Nâng cao thu nhập của nông dân Hải Phòng hiện nay - Pdf 28

B GIO DC V O TO
TRNG I HC KINH T QUC DN PHM MINH C

NÂNG CAO THU NHậP
CủA NÔNG DÂN HảI PHòNG HIệN NAY
Chuyờn ngnh: Kinh t chớnh tr
Mó s: 62310102 LUậN áN TIếN Sĩ KINH TếNGI HNG DN KHOA HC:
GS.TS. MAI NGC CNG

H Ni thỏng 05 nm 2015

1.1.4. Câu hỏi nghiên cứu 18
1.2. Phương pháp nghiên cứu 19
1.2.1. Về phương pháp tiếp cận. 19
1.2.2. Khung nghiên cứu, phương pháp thu thập và xử lý dữ liệu. 20
1.3. Các chỉ tiêu nghiên cứu và tính toán trong luận án 27
1.3.1. Các chỉ tiêu phản ánh kết quả đầu ra 27
1.3.2. Các chỉ tiêu nghiên cứu về yếu tố đầu vào 31
TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 33
CHƯƠNG 2: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ THU
NHẬP CỦA NÔNG DÂN TRONG BỐI CẢNH HIỆN NAY 34
2.1. Khái quát lịch sử tư tưởng về thu nhập của người lao động. 34
2.1.1. Những nghiên cứu về thu nhập của người lao động từ A.Smith đến C.Mác
[9]. 34
2.1.2. Các lý thuyết hiện đại về thu nhập. 39
2.2. Thu nhập của nông dân hiện nay: khái niệm, đặc điểm, nhân tố ảnh
hưởng và tầm quan trọng. 42
iii
2.2.1. Khái niệm thu nhập của nông dân trong bối cảnh hiện nay. 42
2.2.2. Các bộ phận cấu thành thu nhập của nông hộ hiện nay. 44
2.2.3. Các nhân tố chủ yếu ảnh hưởng đến thu nhập của nông hộ. 46
2.2.4. Ý nghĩa của việc nâng cao thu nhập của người nông dân trong bối cảnh
CNH, HĐH 55
2.3. Thực tiễn về nâng cao thu nhập của nông dân và kinh nghiệm cho
Hải Phòng 57
2.3.1. Thực tiễn nâng cao thu nhập cho nông dân của một số nước trên thế giới. 57
2.3.2. Bài học kinh nghiệm rút ra cho Hải Phòng. 66
CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG THU NHẬP CỦA NÔNG DÂN TRÊN 69
ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG HIỆN NAY 69
3.1. Đặc điểm tự nhiên và kinh tế - xã hội liên quan đến thu nhập của
nông dân Hải Phòng. 69

chức quản lý và phối hợp thực hiện các chủ trương chính sách phát triển
nông nghiệp nông thôn trên địa bàn thành phố nhằm hỗ trợ, tạo cơ hội
nông dân trên địa bàn Hải Phòng có được những việc làm mới, sinh kế
mới với thu nhập cao hơn. 153
TIỂU KẾT CHƯƠNG 4 161
KẾT LUẬN 162
CÔNG TRÌNH CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ 0
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 0
PHỤ LỤC
v

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

Viết tắt
Công nghiệp hóa, hiện đại hóa

CNH, HĐH

Công nghiệp nông thôn CNNT
Chủ nghĩa tư bản CNTB
Chương trình Đồng hành cùng Doanh nghiệp dành cho các Hộ
gia đình nông nghiệp
FHSP
Chương trình bất động sản khu công nghiệp nông thôn RIEP
Chương trình xúc tiến du lịch trang trại FTPP
Đạo luật Phát triển Nguồn thu nhập nông thôn RISDA
Đạo luật phát triển nguồn thu nhập nông thôn RISDW
Đầu tư trưc tiếp nước ngoài FDI
Điểm trung bình ĐTB
Hoạt động sản xuất HĐSX

Bảng 3.11: Thu nhập bình quân nhân khẩu một năm giai đoạn 2010-2012 86
Bảng 3.12: Cơ cấu nguồn thu nhập bình quân của Hộ một năm giai đoạn 2010-2012 87
Bảng 3.13: Sự đóng góp của các nguồn vào thu nhập bình quân năm của hộ giai
đoạn 2010-2012 87
Bảng 3.14: Tốc độ gia tăng thu nhập bình quân năm của hộ nông dân Hải Phòng
giai đoạn 2010-2012 theo năm nguồn thu 88
Bảng 3.15: Chi tiết tốc độ gia tăng thu nhập bình quân năm của Hộ nông dân
Hải Phòng theo từng ngành nghề và nguồn thu nhập giai đoạn 2010-2012 . 89
Bảng 3.16: Thu nhập của hộ thuần nông và hộ hỗn hợp 90
Bảng 3.17: Thu nhập của hộ theo quy mô nhân khẩu 92
Bảng 3.18: Thu nhập bình quân một khẩu một năm của hộ tối đa 4 nhân khẩu và
tối thiểu 5 nhân khẩu 92
Bảng 3.19: Thu nhập bình quân của hộ theo quy mô lao động 93
vii
Bảng 3.20: Thu nhập bình quân một lao động một năm của hộ có tối đa 2 lao
động và tối thiểu 3 lao đồng. 93
Bảng 3.21: Thu nhập bình quân hộ theo đất đai sản xuất và phục vụ sản xuất
năm 2012 94
Bảng 3.22: Thu nhập theo quy mô vốn sản xuất của hộ 95
Bảng 3.23: Bảng thu nhập của các hộ có vốn lưu động trên và dưới mức 20 triệu
năm 2012 95
Bảng 3.24: Thu nhập của hộ có và không tiếp cận được tín dụng 96
Bảng 3.25: Thu nhập bình quân nông hộ theo trình độ học vấn 97
Bảng 3.26: Thu nhập bình quân nông hộ theo tiêu chí có và không tham gia các
khóa bồi dưỡng, đào tạo nghiệp vụ sản xuất 99
Bảng 3.27: Tác động từ tình trạng di cư lao động đến biến đổi thu nhập của nông hộ 101
Bảng 3.28: Thu nhập theo 5 nhóm phân vị của nông dân Hải Phòng 2010-2012 102
Bảng 3.29: So sánh cơ cấu thu nhập bình quân hộ của nhóm 1 nhóm 3 và nhóm 5 103
Bảng 3.30: So sánh chênh lệch thu nhập của nông dân Hải Phòng và cả nước 105
Bảng 3.31: Cơ cấu chi tiêu bình quân của các hộ gia định hai năm 2011-2012 107

Sơ đồ 1.1: Khung phân tích thu nhập của nông hộ 21

HỘP:
Hộp 2.1: Cấu thành thu nhập của nông hộ 45
Hộp 2.2:. Các chính sách hỗ trợ phát triển và tăng thu nhập nông hộ 52

MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài
Thu nhập của người lao động nói chung, của nông dân nói riêng là một trong
những phạm trù mà khoa học kinh tế chính trị luôn quan tâm. Bởi lẽ việc nâng cao
thu nhập cho người lao động không những phản ánh sự phát triển của lực lượng sản
xuất mà còn đảm bảo hoàn thiện quan hệ phân phối, một khâu của quan hệ sản xuất
xã hội.
Là phạm trù kinh tế, thu nhập mang tính lịch sử, nó luôn biến đổi theo sự phát
triển của lịch sử phát triển kinh tế xã hội. Trong điều kiện hiện nay, khi mà sự phát
triển kinh tế thị trường, hội nhập kinh tế quốc tế và đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện
đại hóa (CNH, HĐH) trở thành xu hướng tất yếu của các nước đang phát triển như
Việt Nam, thu nhập của người lao động nói chung, của nông dân nói riêng cũng có
sự biến đổi. Các lý thuyết thu nhập đã chỉ ra cơ cấu thu nhập của nông dân đa dạng
hơn, các nguồn hình thành thu nhập của nông dân cũng có sự biến đổi theo hướng
tăng thu nhập từ lĩnh vực dịch vụ và công nghiệp, giảm tỷ lệ thu nhập từ nông
nghiệp; đồng thời thu nhập của nông hộ từ nguồn chuyển khoản do người thân tham
gia vào thị trường lao động trong nước và quốc tế gửi về cũng như từ sự trợ giúp

và thực tiễn.
2. Mục tiêu nghiên cứu:
- Làm rõ nội hàm của phạm trù thu nhập của nông dân, những nhân tố tác
động đến thu nhập của nông dân; những tiêu chí được sử dụng để đánh giá thu
nhập của nông dân.
- Khái quát kinh nghiệm một số nước trên thế giới và một số tỉnh thành phố
nước ta trong việc nâng cao thu nhập của nông dân, rút ra những khuyến nghị cho
thành phố Hải Phòng.
- Phân tích, đánh giá tình hình thu nhập của nông dân thành phố Hải Phòng,
chỉ ra những thành tựu, hạn chế và nguyên nhân hạn chế về thu nhập của nông dân
hiện nay.
- Khuyến nghị phương hướng và các giải pháp nâng cao thu nhập đối với
nông dân trên địa bàn Hải Phòng những năm tới.
2

3. Giả định nghiên cứu:
Luận án này dựa trên hai giả định:
Thứ nhất, trong bối cảnh hiện nay, khi mà CNH, HĐH ngày càng mạnh,
phát triển kinh tế thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng tăng thì thu
nhập của nông dân ngày càng được đa dạng với các bộ phận cấu thành như i) thu
nhập từ hoạt động sản xuất nông nghiệp; ii) thu nhập phi sản xuất nông nghiệp
trong nông thôn; iii) thu nhập từ phục vụ các khu công nghiệp và xuất khẩu lao
động; iv) các khoản thu nhập từ trợ giúp của chính phủ và cộng đồng; v) các
khoản thu nhập khác; quy mô thu nhập sẽ tăng lên, tỷ trọng thu nhập sẽ biến đổi
theo hướng thu từ sản xuất nông nghiệp giảm xuống, thu nhập từ phi sản xuất
nông nghiệp, phục vụ các khu công nghiệp và xuất khẩu lao động tăng lên.
Thứ hai, trong bối cảnh đó, việc nâng cao thu nhập của hộ nông dân sẽ thực
hiện được khi nông dân biết đa dạng hóa việc làm, đa dang hóa sinh kế gắn với
sự phát triển của công nghiệp, dịch vụ; tăng cường năng lực các yếu tố sản xuất
của nông dân, trong một môi trường luật pháp, cơ chế chính sách, tổ chức quản


1.1. Tổng quan các công trình nghiên cứu về thu nhập của nông dân
1.1.1. Những nghiên cứu về bản chất phạm trù thu nhập của người lao
động trong lý thuyết cổ điển và C. Mác.
Trong lịch sử tư tưởng kinh tế, các nhà kinh tế chính trị tư sản cổ điển, các nhà
kinh tế chính trị tiểu tư sản, xã hội chủ nghĩa không tưởng và C.Mác đã đặt nền
móng và từng bước tiến sâu vào vạch rõ nguồn gốc và bản chất của các khoản thu
nhập. Ở đây chúng ta chỉ tập trung nghiên cứu lý thuyết thu nhập của người lao
động làm thuê.
1.1.1.1.Tư tưởng thu nhập của người lao động của các nhà kinh tế học cổ điển
Các nhà kinh tế học Cổ điển mà đại biểu như: Adam Smith (1723-1790),
David Ricardo (1772-1823), Jean Charles Leonard Simonde de Sismondi (1773 –
1842) có chung một quan điểm là trong điều kiện của xã hội tư bản, người lao động
là người làm thuê, họ nhận được một số tiền từ phía chủ sau khi đã làm việc cho chủ
với một thời gian nhất định. Số tiền đó được gọi là tiền lương. Họ xác định cơ sở
của lượng tiền lương là giá trị những tư liệu sinh hoạt cần thiết để nuôi sống người
công nhân làm thuê và giáo dục, nuôi dưỡng con cái anh ta để có thể đưa ra thay thế
trên thị trường lao động.
Nhìn chung, tư tưởng về tiền lương (thu nhập) của người công nhân là tiền
công của lao động, hay nói cách khác, thu nhập của công nhân có nguồn gốc là từ
việc làm. Đó là tiền công của người lao động làm việc cho chủ.[ 9]
1.1.1.2 Tư tưởng tiền lương của Các Mác (1818 - 1883).
Trong tác phẩm Tư bản C.Mác chỉ rõ, công nhân làm việc cho các nhà tư bản
trong một thời gian nào đó, sản xuất ra một lượng hàng hoá nào đó, thì nhận được
một số tiền trả công nhất định. Tiền công đó chính là tiền lương. Tiền lương không
phải là giá trị hay là giá cả của lao động. Vì lao động không phải là hàng hoá và
5

không phải là đối tượng mua bán. Cái mà công nhân bán cho nhà tư bản chính là
sức lao động. Do đó tiền lương mà nhà tư bản trả cho công nhân là giá cả của sức

nhập kinh tế quốc tế.
Thứ nhất, nghiên cứu ngoài nước về xu thế đa dạng hóa việc làm của nông dân.
Thực tiễn cho thấy tác phát triển kinh tế thị trường, công nghiệp hóa, hiện đại
hóa và hội nhập kinh tế quốc tế đã làm biến đổi cơ cấu lao động và cơ cấu ngành
nghề trong nền kinh tế nói chung, đối với khu vực nông thôn và đối tượng nông dân
nói riêng. Nhiều nghiên cứu trong và ngoài nước đã chỉ ra xu hướng này dưới các
cách tiếp cận khác nhau.
Trong “Lý thuyết tăng trưởng kinh tế ở các nước Châu Á gió mùa”, Harry T.
Oshima chỉ ra rằng khu vực nông nghiệp làm việc theo mùa vụ, thời gian nông nhàn
lớn. Trong điều kiện đó, con đường tăng trưởng kinh tế, do đó cũng để tăng thu
nhập cho nông dân ở các nước này là cần tạo thêm việc làm cho khu vực nông thôn.
Việc tạo ra việc làm tại chỗ là phù hợp với nhu cầu lao động nông nghiệp biến đổi
theo mùa vụ, vừa tăng thêm thu nhập cho nông dân là con đường tăng trưởng bền
vững của các nước Châu Á gió mùa [23].
Lewis W.A. (1955) lại tiếp cận theo hướng khác. Trong “Lý thuyết tăng
trưởng kinh tế” ông đã nghiên cứu tình trạng lao động, việc làm và thu nhập ở các
nước đang phát triển. Ông chỉ ra rằng lao động khu vực nông nghiệp có thu nhập
nhấp, ở khu vực công nghiệp có thu nhập cao hơn. Do đó với một mức tiền lương
cao hơn thì dễ thu hút sự dịch chuyển lao động từ khu vực nông nghiệp sang làm
việc. Từ đó, chuyển việc làm từ nông nghiệp sang việc làm trong khu vực công
nghiệp, theo ông là một xu hướng biến đổi tấy yếu đối với khu vực nông thôn dưới
tác động của phát triển công nghiệp [91].
Torado M.P. đã phân tích lý do người lao động thực hiện di cư tìm việc làm
với thu nhập cao hơn trong quá trình phát triển kinh tế. Nói cách khác, theo phân
tích của Torado M.P. trong quá trình phát triển kinh tế, nhiều người sẽ rời bỏ việc
làm nông nghiệp với thu nhập thấp trước đây để chuyển sang làm ở những ngành
nghề có thu nhập cao hơn nơi đô thị [114].
7

Thứ hai, những nghiên cứu trong nước về xu thế đa dạng hóa việc làm của

nghề của lao động. Nhiều lao động làm nông nghiệp trước đây phải thực hiện
chuyển đổi nghề, hoặc phải làm nhiều nghề để đảm bảo thu nhập là điều tất yếu
[29]. Nghiên cứu này có nhiều điểm tương đồng với nghiên cứu của Nguyễn Đình
Phan và các cộng sự khi đề cập đến xu hướng tất yếu của chuyển đổi ngành nghề
trong khu vực nông thôn Việt Nam [37].
Bạch Thị Lan Anh [1] và Nguyễn Thị Thu Hường [30] đã chỉ ra phát triển các
làng nghề sẽ tạo thêm việc làm, tăng thu nhập ở nông thôn, góp phần xoá đói giảm
nghèo, thực hiện chiến lược kinh tế hướng ngoại cũng như thực hiện mục tiêu ly
nông bất ly hương ở nông thôn. Làng nghề ở Việt Nam trong đó một bộ phận quan
trọng là làng nghề thủ công truyền thống với sản phẩm đặc trưng là hàng thủ công
mỹ nghệ tinh xảo. Các sản phẩm này vừa mang giá trị kinh tế vừa hàm chứa nghệ
thuật văn hóa dân tộc. Phát triển làng nghề nói chung và làng nghề truyền thống nói
riêng không những có vai trò quan trọng trong đa dạng hóa việc làm và thu nhập,
mà còn mang ý nghĩa là giữ gìn, quảng bá bản sắc văn hoá dân tộc trong quá trình
hội nhập kinh tế quốc tế.
Mai Ngọc Cường, Lê Quốc Hội, Mai Ngọc Anh đã chỉ ra nguyên nhân của
việc lao động nông thôn di cư ra 4 thành phố lớn (Hà Nội, Đồng Nai, TP Hồ Chí
Minh và Đà Nẵng) để tìm việc làm với mức thu nhập cao hơn. Đó là việc lao động
di cư ra thành phố tìm việc làm không chỉ góp phần cải thiện thu nhập và đời sống
của gia đình có lao động di cư làm việc nơi đô thị mà còn tác động tích cực đến sự
phát triển của nền kinh tế Việt Nam [10].
Việc di cư tìm việc làm cũng rất đa dạng đối với lao động trước đây làm nông
nghiệp ở khu vực nông thôn, Lưu Bích Ngọc trong nghiên cứu của mình đã cho
thấy xu hướng ngày càng gia tăng của nhóm lao động di cư làm việc trong khu vực
phi chính thức ở hai thành phố lớn của Việt Nam. Bùi Sỹ Tuấn chỉ ra rằng, mặc dù
có sự gia tăng về tỷ lệ xuất khẩu lao động trong thời gian qua [47]. Tuy nhiên, theo
Lưu Bích Ngọc, phần lớn lực lượng lao động đi xuất khẩu lao động của Việt Nam
xuất thân từ nông dân – những lao động "3 không” (không nghề, không ngoại ngữ,
không tác phong công nghiệp và kỷ luật lao động), nên dẫn đến tình trạng vi phạm
9

10
họ. Việc tham gia các hoạt động nông nghiệp của nông dân phụ thuộc vào điều kiện
tự nhiên, thời tiết [64], vào tình trạng sức khỏe [77], vào trình độ công nghệ mà
nông dân sử dụng trong quá trình tiến hành các hoạt động kinh tế [76], các chính
sách mà chính quyền trung ương, chính quyền địa phương thực hiện để giúp người
dân tiếp cận tốt hơn tới thị trường lao động [89]. Khi những điều kiện này thuận lợi,
thu nhập của nông dân sẽ cao. Còn nếu một trong những yếu tố này chịu tác động
xấu thì thu nhập của nông dân sẽ bị tác động tiêu cực.
2) Thu từ việc làm phi nông nghiệp: hoạt động kinh tế phi nông nghiệp giữ
một vai trò quan trọng trong đảm bảo thu nhập cho các gia đình sống ở khu vực
nông thôn ở các nước đang phát triển, đặc biệt là với những nông hộ ít đất hoặc mất
đất do quá trình công nghiệp hóa [82], [111]. Việc làm phi nông nghiệp trong nông
thôn rất đa dạng và khác nhau giữa các vùng, các quốc gia. Ngành nghề phi nông
nghiệp trong nông thôn liên quan đến các hoạt động kinh tế phi mùa vụ thông qua
các hoạt động sản xuất ngành nghề thủ công truyền thống, hoạt động sản xuất dịch
vụ, vận tải, thương mại, Steven và Peter chỉ ra rằng những lao động thực hiện các
hoạt động kinh tế phi nông nghiệp với vốn đầu tư lớn thường có thu nhập cao hơn
hơn so với những lao động thực hiện các hoạt động phi nông nghiệp với vốn đầu tư
nhỏ hơn [110].
3) Thu từ các khoản trợ giúp của người thân: Các khoản tiền trợ giúp của
người thân có thể được hình thành từ việc thành viên trong gia đình thực hiện di cư
gửi tiền về cho người thân ở quê nhà. Mathias và Hein đã sử dụng lý thuyết kinh tế
mới của lao động di cư (NELM) để nghiên cứu về lý do di cư tìm việc làm của
người lao động. Nghiên cứu này khẳng định những người lao động có trình độ tay
nghề tốt nhưng đang làm việc ở những nơi có mức thu nhập thấp có xu hướng di cư
đến những nơi mà họ có thể có được mức nhu nhập cao hơn. Những cá nhân hoặc
hộ gia đình thực hiện di cư không chỉ có được thêm thu nhập mà còn kích thích tăng
thu nhập cho những hộ gia đình khác [93]. Priya cho rằng di cư trong nước cần
được thúc đẩy để thực hiện mục tiêu xóa đói giảm nghèo, góp phần tăng trưởng
kinh tế của các quốc gia đang phát triển bởi so với di cư quốc tế, di cư trong nước

12
Những trợ giúp còn đến từ các nguồn còn lại khác mang ý nghĩa tinh thần
nhiều hơn [2], [4], 49]. Các tác giả đều nhất trí, rằng việc mở rộng mạng lưới bao
phủ của trợ giúp xã hội cũng như nâng cao chất lượng các khoản trợ giúp là điều
cần được Đảng và Chính phủ Việt Nam ưu tiên thực hiện trong giai đoạn tới để đảm
bảo mục tiêu nâng cao chất lượng cuộc sống cho những đối tượng yếu thế. Nhận
định này một lần nữa được khẳng định trong nghiên cứu của Phan Thị Kim Oanh và
cộng sự [36]. Nghiên cứu này chỉ ra trong giai đoạn 2007-2009 khi thực hiện nghị
định 67/2007/NĐ-CP, mức chuẩn mà đối tượng của trợ giúp thường xuyên nhận
được hàng tháng là 120.000 đồng/người/tháng. Mức hỗ trợ này mới bằng 17,14%
thu nhập bình quân chung cả nước, 84,21% thu nhập bình quân của 20% hộ có thu
nhập ở mức thấp nhất và tương đương với 70,6% chi tiêu của nhóm hộ có thu nhập
thấp nhất. Từ năm 2010 việc sử dụng nghị định 13/2010/NĐ-CP để chi trả mức trợ
giúp hàng tháng cho đối tượng của trợ giúp thường xuyên. Theo nghị định này mức
chuẩn hàng tháng mà mỗi đối tượng thuộc diện này được hưởng là 180.000
đồng/người/tháng. Nếu mang so sánh với các chỉ số trên thì mặc dù có cải thiện
nhưng trên thực tế, các đối tượng của chương trình chưa đạt được mức sống tối
thiểu với nguồn tiền mà họ nhận được [36].
1.1.2.4. Nghiên cứu về sự biến đổi thu nhập của nông dân trong bối cảnh phát
triển kinh tế thị trường, công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập kinh tế quốc tế.
Đã có nhiều nghiên cứu về quá trình CNH, HĐH và tác động của nó đến biến
đổi thu nhập của nông dân. Purma C. Samanta nghiên cứu về công nghiệp hóa và
chỉ ra rằng đây là một thuật ngữ liên quan đến quá trình phát triển của các quốc gia
ở Tây Âu và Bắc Mỹ trong suốt thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20 [103]. Nói đến công
nghiệp hóa là nói đến sự chuyển đổi từ một nền kinh tế nông nghiệp hoạt động theo
hình thức tự cung tự cấp sang một nền kinh tế sản xuất dựa trên máy móc công nghệ
[84]. Công nghiệp hóa theo quan điểm của Mumo Nzau liên quan đến sự tham gia
của các nhà máy công nghiệp trong các hoạt động sản xuất tư liệu sản xuất cũng
như chế biến nguyên liệu thô thành thành phẩm [98]. Weiss J. cho rằng đây là một
quá trình mà các hoạt động sản xuất sử dụng công nghệ trong tổng số hoạt động

14
làm cũng gia tăng, theo quan điểm của Ioana Schiopu và Nikolaus Siegfried, việc di
cư tìm việc làm tạo điều kiện nâng cao thu nhập của gia đình ở quê nhà thông qua
các khoản tiền gửi từ nhóm đối tượng di cư tìm việc làm [83].
(iv) Cùng với những rủi ro do tự nhiên, thời tiết, biến đổi khí hậu, sự phát
triển công nghiệp, của kinh tế thị trường gắn với tình trạng khủng hoảng, thất
nghiệp, phân hóa giàu nghèo cũng ảnh hưởng đến thu nhập của nông dân. Điều đó
đòi hỏi sự trợ giúp từ Ngân sách nhà nước (NSNN) cũng tăng lên. Những khoản trợ
giúp này ở nhiều nước, như các nước trong khối liên minh Châu Âu hiện nay trở
thành công cụ chính bảo trợ cho sự phát triển nông nghiệp và tài trợ cho nông dân.
Vì vậy, thu nhập từ các khoản trợ giúp trực tiếp bằng tiền mà nông dân nhận được
do đó cũng tăng lên trong cơ cấu thu nhập của nông hộ [74].
1.1.2.5. Những cong trình nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập
của nông hộ trong bối cảnh phát triển kinh tế thị trường, công nghiệp hóa,
hiện đại hóa và hội nhập kinh tế quốc tế.

Thứ nhất, những nghiên cứu ngoài nước về các yếu tố ảnh hưởng đến thu
nhập của nông hộ:
1) Nghiên cứu về môi trường luật pháp và cơ chế chính sách: Các học giả quốc
tế, trong những nghiên cứu của mình dù không trực tiếp cũng gián tiếp khẳng định
môi trường luật pháp và cơ chế chính sách đều tác động đến biến đổi thu nhập của
nông dân. Nhiều nghiên cứu thể hiện ý tưởng NSNN là cần thiết để hỗ trợ những đối
tượng yếu thế gia tăng thu nhập cũng như đạt được một cuộc sống tốt hơn. UNIDO
chỉ ra chính sách phát triển nông nghiệp là cần thiết để nâng cao thu nhập cho nông
dân nhằm thực hiện mục tiêu xóa đói giảm nghèo cho nhóm đối tượng này [115].
2) Nghiên cứu về mức độ dồi dào của các yếu tố sản xuất: Alfonso Peter và
các cộng sự, Jean-Jacques và Alexandra đã chỉ ra rằng các yếu tố đầu vào của sản
xuất như quy mô quỹ đất, vốn và công nghệ được sử dụng có mối quan hệ tích cực
với thu nhập mà nông dân có được [56], [82]. Alain và các cộng sự


Nguyễn Thị Lệ Thúy và các cộng sự (2013) khi đưa ra các khuyến nghị nhằm
nâng cao thu nhập của nông hộ đã nhấn mạnh đến việc nhà nước cần tiếp tục các


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status