Tiểu luận: Công nghiệp hóa nông nghiệp – nông thôn con đường nâng cao thu nhập cho nông dân - Pdf 23


Tiểu luận

Công nghiệp hóa nông
nghiệp nông thôn_ Con
đường nâng cao thu nhập
cho nông dân MỤC LỤC

3. Conclusion 52
REFERENCES 52

Công nghiệp hóa nông nghiệp – nông thôn con đường nâng cao thu nhập cho nông dân
(12/07/2006-04:56:00 PM)
In bản tin, bài viết n
ày

Thực hiện công nghiệp hóa nông nghiệp - nông thôn là xu thế tất yếu của con đường phát
triển nông nghiệp ở nước ta; là yêu cầu khách quan của nền kinh tế thị trường và là nhu
cầu thích ứng với hiện đại hóa nông nghiệp. Đây chính là con đường hữu hiệu để tăng thu
nhập cho người nông dân.
Từ nhiều năm nay, Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm đến nông nghiệp - nông thôn đã
có nhiều chủ trương, chính sách về nông nghiệp - nông thôn, tăng cường đầu tư… nên
nông nghiệp - nông thôn Việt Nam đã có những bước tiến triển vượt bậc, đời sống nông

cầu, do thông tin và sự dự đoán của đại bộ phận nông dân có hạn, thị trường lại ngưng trệ
điều tiết, sản xuất lại tự phát, việc tiêu thụ sản phẩm sẽ gặp trở ngại hoặc bán không đúng
với giá dự kiến hoặc thừa ế sẽ xuất hiện tình trạng năng suất cao, được mùa mà thu nhập
không tăng thậm chí còn giảm, nông dân hoang mang thiếu phấn khởi trong sản xuất.

Thông qua công nghiệp hóa nông nghiệp - nông thôn, tạo được cầu nối giữa các hộ nông
dân với thị trường, đưa sản xuất nhỏ, phân tán của các hộ hòa nhập vào thị trường lớn;
hướng dẫn nông dân tổ chức sản xuất hàng hóa, tạo điều kiện cho hoạt động sản xuất và
nhu cầu của thị trường liên kết chặt chẽ với nhau. Bên cạnh đó, thông qua mạng lưới
cung tiêu không những sản xuất được thuận lợi mà sản phẩm còn được bán với giá cao và
tiêu thụ hết. Trong quá trình tiêu thụ sản phẩm, nông dân biết được sự cạnh tranh trên thị
trường mà không ngừng mở rộng quy mô sản xuất, nâng cao chất lượng sản phẩm tạo
được thương hiệu của mình.
Nếu quy trình sản xuất khép kín theo hộ nông dân, họ khó có thể ngăn cản được những
rủi ro đến bất ngờ, nhất là những rủi ro thiên tai và do sự điều tiết của thị trường … sẽ có
những hộ nông dân không duy trì được sản xuất.
Thông qua công nghiệp hóa nông nghiệp - nông thôn có thể tăng cường được khả năng
ngăn chặn rủi ro cho nông dân. Mặt khác, từ các hd sản xuất – kinh doanh sẽ hình thành
một khối gắn bó hữu cơ giữa nông nghiệp - công nghiệp – thương mại, giữa sản xuất -
chế biến – tiêu thụ với thị trường.
Tiến hành công nghiệp hóa nông nghiệp - nông thôn là phương pháp hữu hiệu để củng cố
và hoàn thiện cơ chế bao khóan sản phẩm, bảo đảm tính tự chủ trong sản xuất của nông
dân.
Hiện nay, so với các ngành khác lợi nhuận trong sản xuất nông nghiệp rất thấp dẫn đến
mất đi một lượng lớn tài nguyên nông nghiệp hiện có. Điều đó không chỉ làm yếu đi vị trí
của ngành nông nghiệp mà còn ảnh hưởng đến xây dựng và phát triển kinh tế nông thôn.
Thông qua công nghiệp hóa nông nghiệp - nông thôn có thể nâng cao trình độ kỹ thuật và
trình độ chuyên môn hóa trong nông nghiệp đưa công nghiệp nông thôn phát triển nhanh,
gắn thị trường nông thôn với thành phố, thị trường trong nước với quốc tế, tăng lợi nhuận
trong sản xuất nông nghiệp. Người nông dân không chỉ thu được lợi nhuận trong sản xuất

sản lượng tăng 54,9%; diện tích cây ăn quả tăng 1,4 lần; bông vải diện tích tăng 42,5%, sản
lượng tăng 57,4%; đậu tương diện tích tăng 47,1%, sản lượng tăng 62,2%. Các loại cây công
nghiệp có lợi thế xuất khẩu hầu hết đều tăng về diện tích, sản lượng và kim ngạch xuất khẩu.
Chăn nuôi tăng bình quân 10%/năm; tỷ trọng giá trị chăn nuôi trong nông nghiệp tăng từ 19,3%
lên 21,6%. Ðàn bò, nhất là bò sữa tăng nhanh, đạt 95 nghìn con, sản lượng sữa tươi tăng gấp 3
lần. Sản lượng thủy sản nuôi trồng tăng 2,0 lần, sản lượng khai thác tăng 1,2 lần.
Công nghiệp chế biến nông, lâm, thủy sản và ngành nghề nông thôn: Giá trị sản xuất công
nghiệp chế biến nông, lâm, thủy sản tăng trưởng bình quân 12-14%/năm. Sản xuất tiểu, thủ công
nghiệp và ngành nghề nông thôn tăng bình quân 15%/năm. Hiện cả nước có 2.971 làng nghề,
khoảng 1,35 triệu cơ sở ngành nghề nông thôn, với khoảng 1,4 triệu hộ, thu hút hơn 10 triệu lao
động (trong đó có khoảng 1,5 triệu người làm hàng mỹ nghệ).
Giá trị sản xuất nông, lâm nghiệp, thủy sản tăng trưởng liên tục và đạt mức cao (5,4%/năm, chỉ
tiêu Ðại hội Ðảng toàn quốc lần thứ IX đề ra là 4,8%/năm). Tổng kim ngạch xuất khẩu nông, lâm,
thủy sản năm 2004 đạt gần 7 tỷ USD, tăng 1,5 lần so với năm 2000, trong đó nông, lâm sản tăng
gần 1,5 lần, thủy sản tăng 1,6 lần. Một số mặt hàng xuất khẩu chủ yếu đạt sản lượng và giá trị
lớn như: gạo, cà-phê, cao-su, hạt điều. Ðặc biệt, xuất khẩu đồ gỗ gia dụng và lâm sản tăng
mạnh, đạt hơn 1,2 tỷ USD, tăng gấp 3,3 lần so với năm 2000.
Cơ cấu kinh tế nông thôn chuyển dịch theo hướng tăng dần tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ,
giảm tỷ trọng nông nghiệp. Năm 2004 trong tổng GDP của cả nước, tỷ trọng nông, lâm nghiệp,
thủy sản đã giảm từ 24,53% xuống 21,76%; lao động nông nghiệp giảm từ 59,04% xuống 57,9%,
lao động công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp chiếm khoảng 17%, dịch vụ chiếm 25,1%. Năm 2003,
hộ thuần nông đã giảm còn 68,8%, hộ kiêm nghề tăng lên, chiếm 12,7% và phi nông nghiệp
18,4%. Nguồn thu của hộ nông dân từ nông, lâm, ngư nghiệp chiếm 77,5%; công nghiệp, xây
dựng và dịch vụ nông thôn đã dần tăng lên, chiếm 22,5% tổng thu.
Trình độ khoa học, công nghệ trong sản xuất nông nghiệp, thủy sản từng bước được nâng cao
theo hướng sử dụng giống mới, công nghệ sinh học, phương thức canh tác tiên tiến để nâng cao
năng suất chất lượng nông sản, thủy sản. Ðến nay, có hơn 90% diện tích lúa, 80% diện tích ngô,
60% diện tích mía, 100% diện tích điều trồng mới được sử dụng giống mới. Công nghệ sử
dụng mô hom được đưa nhanh vào sản xuất giống cây rừng, nên năng suất chất lượng rừng
được cải thiện. Ngành thủy sản đã sản xuất và đưa vào sản xuất một số loài thủy sản có giá trị

công nghiệp, ngành nghề dịch vụ nông thôn phát triển còn chậm và chưa tương xứng với tiềm
năng… Cơ cấu lao động nông thôn chuyển dịch chậm, cơ bản vẫn là thuần nông (năm 2004 lao
động nông nghiệp: 58,7%, năm 2001 là: 63,5%).
- Năng suất, chất lượng và khả năng cạnh tranh của một số nông sản phẩm còn thấp. Việc
nghiên cứu và chuyển giao khoa học, công nghệ vào sản xuất nông nghiệp còn chậm…
- Việc sắp xếp, đổi mới doanh nghiệp và phát triển các thành phần kinh tế còn chậm. Hiệu quả
hoạt động doanh nghiệp nhà nước còn thấp. Doanh nghiệp tư nhân là nhân tố quan trọng trong
phát triển và chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động ở nông thôn, nhưng quy mô nhỏ bé,
chủ yếu là dịch vụ (chỉ có 5% liên quan đến sản xuất) và chỉ phát triển mạnh ở ven đô thị, hoặc
nơi có kết cấu hạ tầng tương đối phát triển.
- Chênh lệch mức sống giữa nông thôn và thành thị ngày càng gia tăng. Nếu áp dụng chuẩn
nghèo mới dự kiến tỷ lệ nghèo cả nước là 26-27%, riêng ở nông thôn lên 31%, miền núi lên hơn
50%, có nơi lên hơn 60% (vùng Tây Bắc)…

Ðẩy mạnh CNH, HÐH nông nghiệp, nông thôn
Một số nội dung chủ yếu cần tập trung sức chỉ đạo, thực hiện có hiệu quả là:

- Thúc đẩy nhanh quá trình chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp và kinh tế nông thôn, chuyển mạnh
sang sản xuất các loại sản phẩm có thị trường và hiệu quả kinh tế cao; phát triển mạnh chăn
nuôi với tốc độ và chất lượng cao hơn; xây dựng các vùng sản xuất hàng hóa tập trung gắn với
việc chuyển giao công nghệ sản xuất, bảo quản và chế biến; khắc phục tình trạng sản xuất manh
mún, tự phát. Tiếp tục rà soát, bổ sung, điều chỉnh lại quy hoạch sản xuất nông nghiệp theo
hướng: phát huy lợi thế tự nhiên của từng vùng, lợi thế kinh tế của từng loại cây trồng, con gia
súc, tăng tỷ trọng chăn nuôi và dịch vụ; hình thành vùng sản xuất hàng hóa gắn với thị trường và
công nghiệp chế biến, bảo đảm hiệu quả bền vững và an ninh lương thực quốc gia…
- Tiếp tục phát triển và mở rộng thị trường, coi trọng và phát triển thị trường trong nước, tổ chức
tốt việc tiêu thụ nông, lâm sản, thủy sản cho nông dân.
- Ðưa nhanh khoa học công nghệ vào sản xuất, nhất là việc nghiên cứu và chuyển giao khoa học
công nghệ, nâng cao chất lượng giống cây trồng, giống vật nuôi, kỹ thuật canh tác và môi
trường, công nghệ sau thu hoạch; ứng dụng mạnh công nghệ sinh học và xây dựng các khu

của dân tộc ta…
(Tin từ Báo ND 28/7,www.nhandan.org.vn)

Đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn trong tình hình mới
Hồ Văn Vĩnh
GS, TS, Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh
(Cập nhật: 9/4/2008)
Qua các kỳ Đại hội Đảng, nhận thức của chúng ta ngày càng rõ hơn về vai trò của công
nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH, HĐH) nông nghiệp, nông thôn. Nhờ đó, hơn 20 năm đổi
mới đã qua, nông nghiệp nước ta tiến bộ vượt bậc, có nhiều mặt hàng nông sản xuất
khẩu, từ chỗ bị thiếu lương thực triền miên đã trở thành nước xuất khẩu gạo đứng thứ 2
thế giới. Tuy vậy, trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay, mục tiêu giữ vững an
ninh lương thực quốc gia đang đặt ra những vấn đề mới.
Ngay từ Đại hội III của Đảng (năm 1960), nhiệm vụ cơ giới hóa, thủy lợi hóa, hóa học hóa, gắn
với hợp tác hóa nông nghiệp, thực chất là CNH, HĐH nông nghiệp, đã được đặt ra và từng bước
thực hiện. Đó là các biện pháp thâm canh gồm: nước-phân-cần-giống và đẩy mạnh cải tiến công
cụ, thực hiện cơ giới hóa nông nghiệp. Trong gần 5 thập kỷ, qua mỗi giai đoạn lịch sử, nội dung
và mục tiêu của CNH, HĐH nông nghiệp nông thôn lại được điều chỉnh, bổ sung và phát triển.
Ngày nay, nền kinh tế nói chung và nền nông nghiệp nói riêng đang được đặt trong tình thế mới,
đó là:
Thứ nhất: Sự cách biệt quá lớn của CNH, HĐH các ngành công nghiệp và dịch vụ so với
ngành nông nghiệp và kinh tế nông thôn. Trong công nghiệp và dịch vụ, những năm qua tốc
độ CNH, HĐH đạt khá cao, có nhiều lĩnh vực đạt trình độ khu vực và thế giới như đóng tàu, viễn
thông Nhờ đó tốc độ tăng trưởng của hai khu vực kinh tế này cũng mạnh hơn. Nhưng tốc độ
CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn còn rất chậm. Nền nông nghiệp nước ta vẫn còn phân tán,
manh mún, năng suất lao động thấp, ngay cả những loại nông sản xuất khẩu chủ lực như gạo,
cà phê, cao su, chè, thủy sản chủ yếu vẫn là sản phẩm từ lao động thủ công. Bởi vậy, khó có
thể hoàn thành công cuộc CNH, HĐH đất nước nếu nông nghiệp và kinh tế nông thôn không
thoát được tình trạng lạc hậu, kém phát triển.
Thứ hai: Nhu cầu lương thực của thế giới đang đứng trước một bước ngoặt lịch sử,

chìm trong nước biển. Theo bản báo cáo về phát triển con người 2007/2008 của UNDP, nếu
nhiệt độ trên trái đất tăng thêm 2 độ, thì có nguy cơ khoảng 22 triệu người ở Việt Nam sẽ mất
nhà ở và mất 45% diện tích đất nông nghiệp
(4)
.
Bảo vệ môi trường sinh thái là nhiệm vụ chiến lược toàn cầu, đòi hỏi mọi người phải cùng chung
sức góp phần khắc phục thảm họa môi trường. Ngành nông nghiệp và kinh tế nông thôn của
nước ta không thể không tính đến vấn đề về môi trường trong quá trình CNH, HĐH. Mọi giải
pháp, biện pháp phát triển đều vừa phải tính đến những hậu họa của sự tàn phá môi trường, vừa
phải tiến hành sản xuất và sinh hoạt thân thiện với môi trường.
Thứ tư: Nước ta đã trở thành thành viên chính thức của WTO. Nông nghiệp là lĩnh vực chịu
nhiều tác động nhất trong quá trình gia nhập WTO. Về thuận lợi, các mặt hàng nông sản xuất
khẩu chủ lực được tiếp tục gia tăng về quy mô, kim ngạch và bạn hàng, thuế suất nhập khẩu
giảm mạnh, có lợi cho nhà xuất khẩu. Theo đánh giá của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông
thôn, năm 2007 nước ta tiếp tục thành công trong xuất khẩu nông sản, kim ngạch xuất khẩu
nông, lâm, thủy sản của cả nước đạt 10,5 tỉ USD, tăng 20% so với năm 2006. Hiện đã có tới 5
mặt hàng là thủy sản, gỗ và sản phẩm gỗ, cà phê, gạo và cao su đạt giá trị xuất khẩu từ 1 - 3 tỉ
USD.
Bên cạnh thuận lợi thì những khó khăn, thách thức cũng tăng lên. Đặc biệt là sức cạnh tranh của
nông sản Việt Nam trên thị trường thế giới xuất phát từ những hạn chế trong năng lực sản xuất,
chế biến, tạo dựng thương hiệu và uy tín của từng mặt hàng nông sản. Thực tế hiện nay, trình độ
sản xuất của nông dân còn ở mức độ thấp, thể hiện:
- Giống cây trồng, vật nuôi vẫn chưa kiểm dịch đầy đủ và kiểm soát nguồn gốc;
- Chưa kiểm soát tốt phân hóa học, phân bón, thuốc trừ sâu và các loại hóa chất kích thích sinh
trưởng khác nhau;
- Công tác bảo quản sau thu hoạch, bao bì, nhãn hiệu hàng hóa, thương hiệu vẫn chưa đáp ứng
theo chuẩn mực yêu cầu của quốc tế trong quá trình hội nhập;
- Quy mô sản xuất nhỏ lẻ, bình quân diện tích đất còn rất thấp, khoảng 0,7-1 ha/hộ, vì vậy muốn
sản xuất với quy mô lớn, chất lượng đồng đều là rất khó;
- Giá thành sản xuất vẫn còn cao, chất lượng và an toàn vệ sinh thực phẩm chưa được quan tâm

đồng bộ các vấn đề nông nghiệp, nông thôn và nông dân. Chuyển dịch mạnh cơ cấu nông
nghiệp và kinh tế nông thôn theo hướng tạo ra giá trị gia tăng ngày càng cao, gắn với công
nghiệp chế biến và thị trường; thực hiện cơ khí hóa, điện khí hóa, thủy lợi hóa, đưa nhanh tiến
bộ khoa học - kỹ thuật và công nghệ sinh học vào sản xuất, nâng cao năng suất, chất lượng và
sức cạnh tranh, phù hợp đặc điểm từng vùng, từng địa phương"
(7)
.
Để đẩy mạnh CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn trong tình hình mới, theo chúng tôi cần có một
số giải pháp sau:
Một là, cần chuyển đổi mạnh chính sách đầu tư theo hướng tập trung ưu đãi hơn nữa cho nông
nghiệp. Đầu tư cho nông nghiệp bao gồm: đầu tư của Nhà nước, đầu tư của hộ nông dân, của
doanh nghiệp trong nước và vốn đầu tư gián tiếp và trực tiếp nước ngoài. Đặc thù của kinh
doanh nông nghiệp là gặp nhiều rủi ro, phụ thuộc vào điều kiện thiên nhiên và thời tiết, địa bàn
rộng và xa, cơ sở hạ tầng yếu kém, đi lại khó khăn, thu hồi vốn chậm, lợi nhuận thấp, nên các
nhà đầu tư trong nước và đầu tư nước ngoài không mặn mà, thiết tha đầu tư vào nông nghiệp.
Năm 2007, tỷ trọng FDI cho ngành nông nghiệp vẫn còn rất thấp (chỉ chiếm 10,6% số dự án và
6,5% số vốn đầu tư đăng ký), chưa thu hút các nhà đầu tư của một số nước có tiềm năng, thế
mạnh lớn về nông nghiệp như Mỹ, Ca-na-đa, Ô-xtrây-li-a Đầu tư của Nhà nước cho nông
nghiệp và nông thôn còn hạn chế, theo Bộ Tài chính, 5 năm qua, tổng vốn đầu tư phát triển nông
nghiệp, nông thôn đạt khoảng 113.116 tỉ đồng, mới chỉ đáp ứng được 17% nhu cầu, chiếm 8,7%
tổng vốn đầu tư cả nước. Việc sử dụng vốn tại nhiều địa phương lại kém hiệu quả
(8)
. Đa phần
kinh tế hộ nông dân còn ở quy mô ruộng đất nhỏ lẻ, thu nhập thấp, không có vốn tích lũy để đầu
tư, nếu có không phải hộ nào cũng biết đầu tư thế nào cho có hiệu quả do thiếu kiến thức, thiếu
thông tin. Do đó, trong khi các nhà đầu tư trong nước và nước ngoài tập trung đầu tư vào các
ngành công nghiệp và dịch vụ thì Nhà nước, một mặt có chính sách ưu đãi hơn đối với đầu tư
cho nông nghiệp để bảo đảm các nhà đầu tư thu lợi nhiều hơn; mặt khác Nhà nước phải ưu tiên
đầu tư cho nông nghiệp, chí ít cũng phải bằng tỷ lệ giá trị của riêng ngành nông nghiệp đóng góp
vào GDP của nền kinh tế, hiện nay là trên 20%

tiếp tục đầu tư và nâng cấp hệ thống thủy nông lên trình độ cao hơn và để quản lý tốt hơn.
Ngoài thủy lợi, điện khí hóa đã có những bước tiến quan trọng, trừ vùng sâu, vùng xa còn gặp
khó khăn, nói chung hệ thống điện quốc gia đã bao phủ hầu hết các vùng nông thôn cả nước,
trong khi đó cơ giới hóa nông nghiệp vẫn còn là bài toán khó. Không thể chấp nhận một nền
nông nghiệp được CNH, HĐH mà lao động chủ yếu bằng thủ công, "con trâu đi trước, cái cày
theo sau" như cách đây hàng thế kỷ, do đó cần có giải pháp đồng bộ và hợp lý để đầu tư phát
triển cơ giới hóa nông nghiệp. Để nâng cao trình độ hóa học hóa, sinh học hóa thì ngoài đầu tư
phát triển công nghiệp hóa chất phục vụ nông nghiệp và công nghệ sinh học thì cần đầu tư cho
nghiên cứu khoa học, công nghệ trong ngành nông nghiệp
(11)
và có cơ chế quản lý thích hợp để
khuyến khích các nhà khoa học phục vụ sự nghiệp CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn, không để
nông dân phải tự "bươn chải", phó mặc cho cơ chế thị trường.
Ba là, coi trọng nâng cao trình độ dân trí nói chung và trình độ kỹ thuật, công nghệ cho người lao
động nông nghiệp. Sự nghiệp CNH, HĐH có sự đóng góp của nhiều người ở nhiều cấp, nhiều
ngành nhưng người trực tiếp thực hiện và quyết định thành công chính là nông dân. Họ là người
tiếp thu tiến bộ kỹ thuật và công nghệ, cơ chế, chính sách, tiếp cận thị trường và biến tiềm năng
thành hiện thực. Thực tế nông thôn nước ta hiện nay cho thấy, phần lớn con em nông dân gặp
rất nhiều khó khăn, nhiều bậc cha mẹ không trong việc lo đủ chi phí cho con em học tập và tìm
việc làm. Tình trạng bỏ học dở chừng có xu hướng gia tăng. Phần lớn thanh niên có trình độ sau
khi tốt nghiệp ra trường lại không muốn trở về làm nông nghiệp và phục vụ nông thôn. Thực
trạng đó dẫn tới lực lượng lao động nông nghiệp vừa yếu về trình độ và kỹ năng, vừa yếu cả về
thể lực, vì đa phần còn lại là người lớn tuổi và phụ nữ, những người không thể "ly hương" được
mới buộc phải ở lại nông thôn. Nếu vậy, khó có một nền nông nghiệp phát triển theo hướng hiện
đại, chuyên nghiệp; khoảng cách thành thị - nông thôn khó rút ngắn.
Thêm vào đó, các tệ nạn xã hội như ma túy, cờ bạc và các tiêu cực xã hội khác càng xói mòn tư
tưởng và đạo đức của một bộ phận thanh niên nông thôn. Tình trạng đó ở các vùng sâu, vùng
xa, vùng đồng bào dân tộc còn trầm trọng hơn. Tất cả những tình hình đó sẽ ảnh hưởng không
tốt tới quá trình CNH, HĐH.
Để nâng cao trình độ dân trí cho dân cư nông thôn và trình độ kỹ thuật, tay nghề cho lực lượng

Do đó, trước mắt cũng như lâu dài, muốn có một nền nông nghiệp sản xuất hàng hóa lớn để hội
nhập với nền kinh tế thế giới thì không thể không tổ chức lại nền nông nghiệp với nhiều hình
thức tổ chức khác nhau, có thể là trang trại, công ty cổ phần, doanh nghiệp nông nghiệp, nhưng
hình thức tổ chức hợp tác xã vẫn là thích hợp và dễ tiếp thu nhất đối với hàng triệu hộ sản xuất
nông nghiệp, bao gồm hợp tác xã dịch vụ và hợp tác xã kinh doanh tổng hợp.
Tuy nhiên, hiện nay trong nông thôn nước ta phổ biến là hợp tác xã dịch vụ, có vai trò phục vụ hộ
nông dân một hoặc một số khâu, còn bản thân hộ nông dân vẫn là đơn vị kinh tế tự chủ, nhiều hộ
gia đình vẫn đang đứng ngoài hợp tác xã. Nguyên nhân yếu kém của hợp tác xã nông nghiệp
như nhận định của Nghị quyết 13-NQ/TW, đó là trình độ lực lượng sản xuất yếu kém, thiếu sót
về nhận thức mô hình hợp tác xã kiểu mới, bất cập trong lãnh đạo và quản lý hợp tác xã, tâm lý
hoài nghi, mặc cảm với mô hình hợp tác xã kiểu cũ
(12)
. Để khắc phục những yếu kém, hạn chế
của kinh tế hợp tác trong nông nghiệp hiện nay cần nắm vững những quan điểm, chủ trương và
giải pháp trong Nghị quyết 13-NQ/TW ngày18-2-2002.
Theo chúng tôi, trước hết cần giải quyết về mặt nhận thức, tư tưởng đối với kinh tế hợp tác, khắc
phục tâm lý hoài nghi, mặc cảm đối với mô hình hợp tác xã nông nghiệp kiểu cũ bằng cách giới
thiệu và nhân rộng mô hình hợp tác xã nông nghiệp kiểu mới có hiệu quả, triệt để tôn trọng các
nguyên tắc tổ chức và quản lý hợp tác xã nông nghiệp, nhất là nguyên tắc tự nguyện, cùng có
lợi, quản lý dân chủ, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng và quản lý của Nhà nước ở các cấp, các
ngành, các địa phương đối với hợp tác xã nông nghiệp.
Năm là, chuyển dịch lao động nông nghiệp sang phi nông nghiệp nhằm phát triển công nghiệp và
dịch vụ ở nông thôn. Trong những năm qua, nhờ thực hiện nhiều biện pháp tích cực để chuyển
dịch cơ cấu kinh tế, thời gian qua cơ cấu dân cư nông thôn và lao động nông nghiệp đã có
những chuyển biến tích cực. Dân cư nông thôn đến năm 2005 còn 73% dân số cả nước, còn tỷ
lệ lao động nông nghiệp trong sản xuất thuần nông cũng liên tục giảm, tăng tỷ lệ lao động trong
các ngành công nghiệp và dịch vụ (xem bảng).

Bảng: Cơ cấu lao động xã hội theo ngành kinh tế từ năm 1990 đến năm 2005
Tổng số lao động xã hội 1990

tay nghề, nguyên liệu, phục hồi các thương hiệu truyền thống, tạo ra nhiều sản phẩm hàng hóa
cho tiêu dùng nội địa và cho xuất khẩu.
Công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn

Những thành tựu đã đạt được
Cơ cấu nông nghiệp và kinh tế nông thôn đã có bước chuyển dịch tích cực theo hướng
đẩy mạnh sản xuất các loại nông sản hàng hóa có nhu cầu thị trường và có giá trị kinh tế
cao. Tiếp tục bảo đảm tốt an ninh lương thực quốc gia, tuy diện tích trồng lúa giảm
(khoảng hơn 300 nghìn ha), để chuyển sang nuôi trồng thủy sản và các cây trồng khác có
giá trị cao hơn, nhưng sản lượng lương thực vẫn tăng từ 34,5 triệu tấn (năm 2000) lên
39,12 triệu tấn (năm 2004), trong đó, sản lượng lúa tăng từ 32,5 lên 35,8 triệu tấn, bình
quân mỗi năm lương thực tăng hơn một triệu tấn. Hàng năm vẫn xuất khẩu khoảng 3,5-4
triệu tấn gạo.

Sản xuất cây công nghiệp, cây ăn quả có sự điều chỉnh mạnh theo nhu cầu thị trường để
xuất khẩu và thay thế hàng nhập khẩu, hình thành một số vùng sản xuất hàng hóa tập
trung gắn với công nghiệp bảo quản, chế biến. Diện tích, sản lượng cây công nghiệp tăng
nhanh so với năm 2000, cao-su diện tích tăng 9,5%, sản lượng tăng 37,6%; hồ tiêu diện
tích tăng 83,2%, sản lượng tăng 87,8%; hạt điều diện tích tăng 44,3%, sản lượng tăng
205,3%; chè diện tích tăng 35,3%, sản lượng tăng 54,9%; diện tích cây ăn quả tăng 1,4
lần; bông vải diện tích tăng 42,5%, sản lượng tăng 57,4%; đậu tương diện tích tăng
47,1%, sản lượng tăng 62,2%. Các loại cây công nghiệp có lợi thế xuất khẩu hầu hết đều
tăng về diện tích, sản lượng và kim ngạch xuất khẩu.

Chăn nuôi tăng bình quân 10%/năm; tỷ trọng giá trị chăn nuôi trong nông nghiệp tăng từ
19,3% lên 21,6%. Ðàn bò, nhất là bò sữa tăng nhanh, đạt 95 nghìn con, sản lượng sữa
tươi tăng gấp 3 lần. Sản lượng thủy sản nuôi trồng tăng 2,0 lần, sản lượng khai thác tăng
1,2 lần.
được cơ giới hóa như: tưới nước, tuốt lúa, xay xát đạt hơn 80%, vận chuyển làm đất đạt
hơn 60%. Trong ngành thủy sản, tổng công suất tàu thuyền đánh bắt đạt hơn 4 triệu sức
ngựa, một số cơ sở nuôi trồng thủy sản được trang bị các máy móc, thiết bị bảo đảm cho
công nghệ nuôi trồng tiên tiến.

Quan hệ sản xuất được xây dựng ngày càng phù hợp. Cả nước hiện có 72 nghìn trang trại,
tăng bình quân 10%/năm, kinh tế trang trại đã góp phần đáng kể vào chuyển dịch cơ cấu
kinh tế nông thôn. Thành lập mới được 524 hợp tác xã nông nghiệp, chủ yếu hoạt động
theo hướng dịch vụ, tiêu thụ sản phẩm, hiện có hơn 10 nghìn hợp tác xã ở nông thôn
(9.255 HTX nông nghiệp, hơn 500 HTX thủy sản, 800 quỹ tín dụng nhân dân ) và hàng
trăm nghìn tổ kinh tế hợp tác, so với năm 2000, số hợp tác xã hoạt động có lãi tăng từ
32% lên 35%, số HTX yếu kém giảm từ 22% xuống còn khoảng 10%.

Doanh nghiệp tư nhân tăng nhanh, năm 2004 có 15.600 doanh nghiệp tư nhân đang hoạt
động trên địa bàn nông thôn, bình quân một doanh nghiệp thu hút khoảng 20 lao động,
đang là nhân tố quan trọng trong phát triển kinh tế nông thôn. Nông thôn có bước phát triển khá nhanh. Nhiều công trình thủy lợi đã hoàn thành và đưa
vào sử dụng, góp phần chuyển dịch cơ cấu sản xuất, thâm canh, tăng năng suất cây trồng
đã bảo đảm tưới cho 90% diện tích lúa, hàng vạn ha hoa màu, cây công nghiệp và cây ăn
quả; hệ thống đê điều được củng cố. Ðến nay đã có 98% số xã có đường ô-tô tới khu
trung tâm, hơn 90% số xã có điện, gần 88% số hộ dân nông thôn được sử dụng điện. Số
thuê bao điện thoại ở khu vực nông thôn tăng nhanh, đạt 4 máy/100 người dân (cả nước
là 12,56 máy/100 người dân); 58% số dân nông thôn được sử dụng nước sạch; xây mới
501 chợ, góp phần giảm bớt khó khăn về tiêu thụ nông sản cho nông dân.

Công tác xóa đói, giảm nghèo: Bình quân mỗi năm giảm 3% tỷ lệ hộ đói nghèo. Tỷ lệ hộ
đói nghèo ở nông thôn giảm từ 19% năm 2000 xuống còn 11% năm 2004. Ðiều kiện về
nhà ở, đi lại, học tập, chữa bệnh được cải thiện tốt hơn. Nhiều làng xã đã trở thành làng

nền đại công nghiệp qui mô lớn hiện đại ở thành phố trong việc tạo việc làm, tăng thu
nhập
và xóa đói giảm nghèo [1]. Kinh nghiệm cho thấy ở một số nước Châu Á việc phát triển

công nghiệp nông thôn đã được tiến hành theo nhiều các khác nhau như ở Đài Loan, Nhà
nước khuyến khích lập các nhà máy, xí nghiệp công nghiệp nhẹ như ngành sợi, dệt, đồ
chơi
trẻ em, chế biến nông sản thực phẩm nằm phân tán ở các huyện lỵ, thị trấn ở các vùng
nông
thôn, gần nơi có nguồn nguyên liệu, Ở Ấn Độ, phát triển các xí nghiệp nhỏ với các
ngành
thủ công nghiệp ở nông thôn, đó là các ngành cần ít vốn nhưng lại có sẵn nguyên liệu, lao
động và không đòi hỏi kỹ thuật phức tạp. Ở Trung Quốc, sự CNH nông thôn đã phát triển
2
doanh nghiệp vừa và nhỏ ở nông thôn do nông dân thực hiện như xí nghiệp Hương Trấn1
từ
những năm 1980 [2]. Ở Thái Lan, CNH nông thôn chỉ phát triển ở những vùng thuận lợi,
ven các đô thị lớn. Ở nông thôn, phần lớn các xí nghiệp công nghiệp làm chế biến nông,
lâm
sản và bán tại chỗ. Trong việc CNH nông thôn của Thái Lan có phong trào với tên gọi
“One
tambon, one product” (mỗi làng, một sản phẩm) được phát động từ năm 1999 sau khi Thủ
tướng Thái Lan đi thăm cửa hàng “one village, one product” tại Nhật Bản [3].
Như vậy, trong quá trình CNH nông thôn, một số nước đã thành công trong việc phát
triển các ngành nghề phi nông nghiệp và phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ ở nông thôn.
Còn ở Việt Nam, chiến lược CNH nông thôn đã được đưa ra từ Nghị quyết Trung ương
V,
khóa VII, ngày 10/06/1993 và đến nay vẫn đang tiếp tục đẩy mạnh. Câu hỏi đặt ra là
trong
thời gian qua Việt Nam đã tiến hành sự nghiệp CNH nông thôn theo mô hình nào? Có

công nghiệp này bắt đầu phát triển từ đầu những năm 1990, đến nay nó vẫn tiếp tục phát
triển mạnh và đã hình thành hệ thống sản xuất có công nghệ và trang thiết bị hiện đại,
chuyên làm gia công cho các doanh nghiệp của đô thị và nước ngoài.

1
Các doanh nghiệp Hương Trấn (Township an Village Entreprise - TVE) được chia thành
doanh nghiệp tập thể (làng,
xã, thị trấn) và doanh nghiệp tư nhân (doanh nghiệp có ít nhất 8 công nhân gọi là doanh
nghiệp tư nhân và dưới 8 công
nhân gọi là doanh nghiệp cá thể). 3
Đối với loại hình CNH nông thôn này, Nhà nước đã ban hành các chính sách rất
thông thoáng và thuận lợi cho các nhà đầu tư trong và ngoài nước đầu tư và xây dựng
nhiều
khu công nghiệp ở các vùng ven đô và các vùng nông thôn. Ban đầu, các thành phố lớn
được coi như là một động lực thúc đẩy sự nghiệp CNH và HĐH của cả nước nên sự ưu
tiên
được giành cho các tam giác tăng trưởng kinh tế như: Tam giác tăng trưởng phía Bắc là

Nội – Hải Phòng – Quảng Ninh, ở miền trung là Huế - Đà nẵng – Quảng Ngãi và miền
nam
là Thành phố Hồ Chí Minh – Biên Hòa – Vũng Tàu [5]. Nhưng hiện nay, mọi chính sách

sự ưu đãi đều được thực hiện ở tất cả các tỉnh thành trong toàn quốc. Đặc biệt, Nhà nước
đã
thực hiện việc phân cấp, phân quyền cho các địa phương tổ chức lập dự án, thẩm định dự
án
trình Chính phủ phê duyệt, rồi xây dựng và quản lý các khu công nghiệp tại địa phương.
Đến nay cả nước có trên 150 khu công nghiệp - khu chế xuất với diện tích trên
25000ha, dự kiến đến năm 2015 sẽ thành lập mới thêm 115 khu công nghiệp và mở rộng
27

thụ trên 100 nước trên thế giới, giá trị xuất khẩu các hàng thủ công mỹ nghệ đã đạt 565
triệu
USD/năm. Trong những năm vừa qua, mặc dù Nhà nước đã có những chủ trương, chính
sách nhằm khôi phục và phát triển các làng nghề. Nhưng gần như các làng nghề còn phát
triển tự phát, chưa có sự hỗ trợ hiệu quả và kiểm soát chặt chẽ của nhà nước. Hiện nay có
nhiều làng nghề không phát triển được và có nguy cơ mất nghề. Nhưng cũng có một số
làng
nghề năng động đã đổi mới, hiện đại hóa sản xuất và đã trở thành các cụm công nghiệp
làng
nghề (CCNLN), đó thường là những khu vực tập trung nhiều doanh nghiệp, nhiều tiềm
năng

2
Làng nghề là một hoặc nhiều cụm dân cư cấp thôn, ấp, bản, làng, buôn, phum, sóc hoặc
các điểm dân cư tương tự trên
địa bàn một xã, thị trấn, có các hoạt động ngành nghề nông thôn, sản xuất ra một hoặc
nhiều loại sản phẩm khác nhau.
3
Tiêu chi để xác định làng nghề là làng có các hoạt động liên quan đến nghề nào đó thu
hút ít nhất 20% tổng số hộ làm
nghề và tạo ra ít nhất 20% tổng giá trị sản xuất tạo ra trên địa bàn của làng đó. 4
sáng tạo, đổi mới và là nơi để nuôi dưỡng và phát triển các doanh nghiệp chính thức
(formel) vì thế các CCNLN này cần phải được quy hoạch và phát triển như một hệ thống
sáng tạo và sự đổi mới ở nông thôn.

2.2. Cụm công nghiệp làng nghề ở vùng Đồng bằng sông Hồng
Khái niệm về cụm công và cụm công nghiệp làng nghề
Khái niệm cụm công nghiệp “district industriel” xuất hiện vào cuối thế kỷ 19 bởi
Marshall [8] xuất phát từ việc nghiên cứu của ông về sự tập trung sản xuất công nghiệp ở
miền bắc nước Anh. Sau đó, khái niệm này được phát triển theo 2 trường phái tiếp cận

đề mấu chốt là có sự hiệp đồng, sản xuất với qui mô lớn, có sự tác động qua lại, có sự
tương
trợ, có sự ganh đua và có khả năng phản ứng nhanh với những thay đổi của thị trường để
mang lại hiệu quả trong sản xuất và kinh doanh.
Ở Việt Nam, Cụm công nghiệp làng nghề là một hệ thống sản xuất địa phương, được
đặc trưng bởi sự tập trung theo địa lý các doanh nghiệp4
sản xuất, kinh doanh và dịch vụ có

4
Doanh nghiệp ở đây hiểu theo nghĩa rộng bao gồm cả hộ gia đình tham gia sản xuất kinh
doanh và các doanh nghiệp

chính thức có đăng ký thành lập theo luật doanh nghiệp của Việt Nam. 5
sự chuyên môn hóa trong cùng một hoạt động hoặc một nhóm các hoạt động bổ trợ cho
nhau. Sự tập trung theo địa lý của các doanh nghiệp đã tạo ra các thể chế thúc đẩy sự hình
thành và phát triển các mối quan hệ, sự hợp tác và cạnh tranh giữa các doanh nghiệp
trong
cùng lãnh thổ, đồng thời tạo ra mạng lưới các nhà cung cấp, mạng lưới khách hàng và tạo
ra sự đổi mới, các lợi ích chung cho các thành viên trong cùng lãnh thổ.

Các kiểu cụm công nghiệp làng nghề ở vùng ĐBSH
Trên cơ sở số liệu điều tra và thông tin thu thập được trong 90 CCNLN ở Hà Tây và
Bắc Ninh, chúng tôi đã phân loại được 3 loại CCNLN, cụ thể như sau:
A)- Cụm công nghiệp làng nghề đã công nghiệp hóa và chuyên môn hóa cao (chiếm
30% trong tổng số CCNLN được điều tra), đây là CCNLN năng động với các đặc trưng
của
loại cụm này như sau:
- Mật độ dân số cao (2500người/km2
), đất nông nghiệp/người rất ít (260m2
/người).


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status