THÔNG TIN VỀ SÁNG KIẾN
1.Tên sáng kiến:
Nâng cao chất lượng môn Ngữ văn bằng phương pháp sử dụng
Bản đồ tư duy trong dạy học.
2. Lĩnh vực áp dụng sáng kiến: Môn học Ngữ văn trong nhà trường.
3. Thời gian áp dụng sáng kiến:
Từ ngày 20 tháng 9 năm 2011 đến ngày 15 tháng 2 năm 2012.
4. Tác giả:
Họ và tên: Trần Văn Quang
Năm sinh: 1977
Nơi thường trú: Thọ Nghiệp - Xuân Trường - Nam Định.
Trình độ chuyên môn: Cử nhân cao đẳng.
Chức vụ công tác: Giáo viên
Nơi làm việc: Trường THCS Thọ Nghiệp - Xuân Trường - Nam Định.
Địa chỉ liên hệ: Trường THCS Thọ Nghiệp - Xuân Trường - Nam Định.
Điện thoại:
5. Đồng tác giả: Không
Họ và tên:
Năm sinh:
Nơi thường trú:
Trình độ chuên môn:
Chức vụ công tác:
Nơi làm việc:
Địa chỉ liên hệ:
Điện thoại:
6. Đơn vị áp dụng sáng kiến:
Tên đơn vị: Trường THCS Thọ Nghiệp - Xuân Trường - Nam Định.
Địa chỉ: Xóm 10 xã Thọ Nghiệp, huyện Xuân Trương, tỉnh Nam Định.
Điện thoại:
1
NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG MÔN NGỮ VĂN BẰNG PHƯƠNG PHÁP SỬ
tiềm năng vô tận của bộ não.
BĐTD giúp học sinh có được phương pháp học hiệu quả hơn: Việc rèn luyện
phương pháp học tập cho HS không chỉ là một biện pháp nâng cao hiệu quả dạy học
mà còn là mục tiêu dạy học. Thực tế cho thấy một số học sinh học rất chăm chỉ
nhưng vẫn học kém, các em thường học bài nào biết bài đấy, học phần sau đã quên
phần trước và không biết liên kết các kiến thức với nhau, không biết vận dụng kiến
thức đã học trước đó vào những phần sau. Phần lớn số học sinh khi đọc sách hoặc
nghe giảng trên lớp không biết cách tự ghi chép để lưu thông tin, lưu kiến thức trọng
tâm vào trí nhớ của mình. Sử dụng thành thạo BĐTD trong dạy học sẽ gúp học sinh
có được phương pháp học, tăng tính độc lập, chủ động, sáng tạo và phát triển tư
duy.
BĐTD - giúp học sinh học tập một cách tích cực. Một số kết quả nghiên cứu cho
thấy bộ não của con người sẽ hiểu sâu, nhớ lâu và in đậm cái mà do chính mình tự
suy nghĩ, tự viết, vẽ ra theo ngôn ngữ của mình vì vậy việc sử dụng BĐTD giúp học
sinh học tập một cách tích cực, huy động tối đa tiềm năng của bộ não.
II. THỰC TRẠNG:
1. Thực trạng của việc học văn hiên nay:
Nhà văn hoá lớn của nhân loại Lê-nin từng nói:"Văn học là nhân học" vậy mà một
thực trạng đáng lo ngại là học sinh bây giờ không còn thích học văn. Thực trạng này
lâu nay đã được báo động. Ban đầu chỉ đơn thuần là những lời than thở với nhau của
những người trực tiếp giảng dạy môn văn và nay đã trở thành vấn đề của báo chí và
dư luận. Ai đã trực tiếp dạy và chấm bài làm văn của học sinh trong những năm gần
đây mới thấy cần thiết phải có những thay đổi về phương pháp dạy văn và học văn
hiện nay. Qua công tác giảng dạy cũng như chấm trả các bài kiểm tra Ngữ văn, tôi
nhận thấy có rất nhiều những biểu hiện thể hiện tâm lý chán học văn của học sinh , cụ
thể là:
3
- Học sinh thờ ơ với Văn: Những năm gần đây, nhiều người quan tâm đến công
tác giáo dục không khỏi lo ngại trước một thực trạng, đó là tâm lý thờ ơ với việc học
văn ở các trường phổ thông. Điều đáng buồn nhất cho các giáo viên dạy văn là nhiều
cảm xúc ẩn sau mỗi trái tim người học.
b. Đối với học sinh:
- Một số học sinh vì lười học, chán học mải chơi, hổng kiến thức nên không chuẩn bị
tốt tâm thế cho giờ học Ngữ văn
- Địa phương xã Thọ Nghiệp thuộc vùng kinh tế còn khó khăn, hầu hết phụ huynh đều
đi làm ăn xa, ít có thời gian quan tâm kèm cặp con em mình. Bản thân các em còn
phải phụ giúp gia đình ngoài giờ lên lớp, không có thời gian học.
- Đời sống văn hóa tinh thần ngày một nâng cao, một số nhu cầu giải trí như xem ti vi,
chơi game . . . ngày càng nhiều làm cho một số em chưa có ý thức học bị lôi cuốn, sao
nhãng việc học tập.
III. CÁC GIẢI PHÁP
A. Bản chất phương pháp dạy học bằng BĐTD:
- BĐTD là kĩ thuật dạy học tổ chức và phát triển tư duy giúp người học chuyển tải
thông tin vào bộ não rồi được thông tin ra ngoài bộ não một cách dễ dàng, đồng thời
là phương tiện ghi chép sáng tạo và hiệu quả, mở rộng, đào sâu và kết nối các ý tưởng,
bao quát được các ý tưởng trên phạm vi sâu rộng.
- Dạy học bằng Bản đồ tư duy - một giải pháp góp phần đổi mới cơ bản giáo dục.
1. BĐTD tận dụng được các nguyên tắc của trí nhớ siêu đẳng:
a. Sự hình dung: BĐTD có rất nhiều hình ảnh để bạn hình dung về kiến thức cần
nhớ. Đây là một trong những nguyên tắc quan trọng nhất của trí nhớ siêu đẳng. Đối
5
với não bộ, BĐTD giống như một bức tranh lớn đầy hình ảnh màu sắc phong phú hơn
là một bài học khô khan, nhàm chán.
b. Sự liên tưởng, tưởng tượng: BĐTD hiển thị sự liên kết giữa các ý tưởng một cách
rất rõ ràng.
c. Làm nổi bật sự việc: Thay cho những từ ngữ tẻ nhạt đơn điệu, Sơ BĐTD cho phép
giáo viên và học sinh làm nổi bật các ý tưởng trọng tâm bằng việc sử dụng những màu
sắc, kích cỡ, hình ảnh đa dạng. Hơn nữa, việc BĐTD dùng rất nhiều màu sắc khiến
giáo viên và học sinh phải vận dụng trí tưởng tượng sáng tạo đầy phong phú của mình.
Nhưng đây không chỉ là một bức tranh đầy màu sắc sặc sỡ thông thường, BĐTD giúp
thức một cách nhẹ nhàng, tự nhiên nhưng rất hiệu quả, đồng thời kích thích hứng thú
học tập của học sinh.
7
Sơ đồ minh hoạ
Bản đồ tư duy bài “So sánh” - Ngữ Văn 6
- Dùng BĐTD để củng cố kiến thức sau mỗi tiết học và hệ thống kiến thức sau mỗi
chương, phần…: Sau mỗi bài học, giáo viên hướng dẫn, gợi ý để học sinh tự hệ
thống kiến thức trọng tâm, kiến thức cần nhớ của bài học bằng cách vẽ BĐTD. Mỗi
bài học được vẽ kiến thức trên một trang giấy rời rồi kẹp lại thành tập. Việc làm này
sẽ giúp các em dễ ôn tập, xem lại kiến thức khi cần một cách nhanh chóng, dễ dàng.
- Ví dụ 1: Khi dạy phần từ loại tiếng Việt, giáo viên tổ chức cho học sinh vẽ BĐTD
sau mỗi bài học để mỗi em có một tập BĐTD về các từ loại tiếng Việt: danh từ, động
từ, tính từ, số từ, đại từ, quan hẹ tự, trợ từ, thán từ…. Lên đến lớp 9, trong bài “ Tổng
Kết ngữ pháp”, học sinh có thể dễ dàng tổng hợp kiến thức về từ loại tiếng Việt bằng
BĐTD dựa vào tập BĐTD đã có. Sau khi có một học sinh hoặc một nhóm học sinh vẽ
xong BĐTD sẽ cho một học sinh khác, nhóm khác nhận xét, bổ sung … Có thể cho
học sinh vẽ thêm các đường, nhánh khác và ghi thêm các chú thích… rồi thảo luận
chung trước lớp để hoàn thiện, nâng cao kĩ năng vẽ BĐTD cho các em.
8
Sơ đồ minh hoạ
Bản đồ tư duy bài “Tổng kết ngữ pháp”- Ngữ văn 9
- Ví dụ 2: BĐTD khi tìm hiểu tác phẩm Truyện Kiều của Nguyễn Du:
Giáo viên định hướng để học sinh khai thác kiến thức của bài học bằng hệ thống
câu hỏi gợi mở. Trên cơ sở đó hình thành và củng cố kiến thức cho HS bằng BĐTD.
Hệ thống kiến thức của bài học bao gồm:
a. Tác giả bao gồm: Tiểu sử (thân thế, gia đình), cuộc đời, sự nghiệp sáng tác
b. Tác phẩm:
+ Các tác phẩm tiêu biểu của Nguyễn Du ở cả hai thành phần chữ (chữ Hán và chữ
Nôm)
+ Thời gian và hoàn cảnh sáng tác, nguồn gốc của tác phẩm; đồng thời giáo viên gúp
việc sử dụng BĐTD giúp học sinh học tập một cách tích cực, huy động tối đa tiềm
năng của bộ não.
- Việc học sinh tự vẽ BĐTD có ưu điểm là phát huy tối đa tính sáng tạo của học sinh,
phát triển năng khiếu hội họa, sở thích của học sinh, các em tự do chọn màu sắc (xanh,
đỏ, vàng, tím,…), đường nét (đậm, nhạt, thẳng, cong…), các em tự “sáng tác” nên trên
mỗi BĐTD thể hiện rõ cách hiểu, cách trình bày kiến thức của từng học sinh và
BĐTD do các em tự thiết kế nên các em yêu quí, trân trọng “tác phẩm” của mình.
IV. HIỆU QUẢ DO SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM ĐEM LẠI:
Việc sử dụng BĐTD giúp giáo viên đổi mới phương pháp dạy học, giúp học sinh
học tập tích cực đó chính là một trong những cách làm thiết thực triển khai nội dung
dạy học có hiệu quả - nội dung quan trọng nhất trong năm nội dung của phong trào thi
đua “Xây dựng Trường học thân thiện, học sinh tích cực” mà Bộ Giáo dục và Đào tạo
phát động.
Sử dụng thành thạo và hiệu quả Bản đồ Tư duy trong dạy học sẽ mang lại nhiều kết
quả tốt và đáng khích lệ trong phương thức học tập của học sinh và phương pháp
giảng dạy của giáo viên. Học sinh sẽ học được phương pháp học tập, tăng tính chủ
động, sáng tạo và phát triển tư duy. Giáo viên sẽ tiết kiệm được thời gian, tăng sự linh
hoạt trong bài giảng, và quan trọng nhất sẽ giúp học sinh nắm được kiến thức thông
qua một “bản đồ” thể hiện các liên kết chặt chẽ của tri thức.
11
Sau một thời gian ứng dụng BĐTD trong đổi mới phương pháp dạy học nói chung
và đổi mới phương pháp dạy học môn Ngữ văn nói riêng, tôi thấy bước đầu có những
kết quả khả quan. Tôi đã nhận thức được vai trò tích cực của ứng dụng BĐTD trong
hỗ trợ đổi mới phương pháp dạy học. Biết sử dụng BĐTĐ để dạy bài mới, củng cố
kiến thức bài học, tổng hợp kiến thức chương, phần. Học sinh hiểu bài nhanh hơn,
hiệu quả hơn. Đa số các em học sinh khá, giỏi đã biết sử dụng BĐTD để ghi chép bài,
tổng hợp kiến thức môn học. Một số HS trung bình đã biết dùng BĐTD để củng cố
kiến thức bài học ở mức đơn giản. Đối với môn Ngữ văn, học sinh rất hào hứng trong
việc ứng dụng BĐTD để ghi chép bài nhanh, hiệu quả, đặc biệt là trong học tiếng
Việt.
cố kiến thức bài học ở mức đơn giản. Đối với môn Ngữ văn, học sinh rất hào hứng
trong việc ứng dụng BĐTD để ghi chép bài nhanh, hiệu quả, đặc biệt là trong học
tiếng Việt.
d, Thực tế kết quả kiểm tra hết học kỳ I năm học 2011 - 2012 cho thấy môn Ngữ văn
khối 8 nói riêng và chất lượng môn văn của nhà trường nói chung đã có nhiều chuyển
biến tích cực. Cụ thể là:
- Môn Ngữ văn 6 đạt 80 % xếp thứ 8/21 đơn vị
- Môn Ngữ văn 7 đạt 89% xếp thứ 5/21 đơn vị trường.
- Môn Ngữ văn 8 đạt 95 % xếp thứ 4/ 21 đơn vị trường.
- Môn Ngữ văn 9 đạt 82 % xếp thứ 7/21 đơn vị trường. Riêng phòng chấm chéo
huyện đạt 86 % xếp thư 4/21 đơn vị trường. Đó là những kết quả rất khả thi nhờ áp
dụng phương pháp dạy học bằng BĐTD trong dạy học Ngữ văn.
13
V. ĐỀ XUẤT, KIẾN NGHỊ:
Tôi hy vọng rằng, trong những năm học tới phòng giáo dục đào tạo sẽ tiếp tục tổ
chức các buổi sinh hoạt chuyên môn hiệu quả hơn nữa để chúng tôi có được những
phương pháp dạy học hay, hiệu quả.
Xin trân trọng cảm ơn!
Thọ Nghiệp ngày 15 tháng 2 năm 2012
Người viết sáng kiến:
Trần Văn Quang
CƠ QUAN ĐƠN VỊ
ÁP DỤNG SÁNG KIẾN
(xác nhận, đánh giá, xếp loại)
(ký tên, đóng dấu)
PHÒNG GIÁO DỤC ĐÀO - TẠO
(xác nhận, đánh giá, xếp loại)
14
Tài liệu tham khảo
1. Trần Đình Châu, Sử dụng bản đồ tư duy – một biện pháp hiệu quả hỗ trợ học sinh