Ngày 15/04/2011
Sử dụng Bản đồ tư duy (Mind Map)
trong công tác, giảng dạy và học tập
Bản đồ tư duy (Mind Map) giống như Bản đồ khái niệm
(Concept Map) đã được các nhà giáo dục, các kỹ sư, các nhà
tâm lý học và nhiều người khác nữa sử dụng từ hàng thế kỷ
nay, nhưng người tuyên bố đã sáng tạo ra BĐTD (Bản đồ tư
duy) là Tony Buzan, một tác giả người Anh, có nhiều công
trình nổi tiếng về tâm lý học. Ý tưởng khơi nguồn sáng tạo ra BĐTD của Tony
Buzan được khởi nguồn từ lý thuyết về ngữ nghĩa học đại cương của Alfred
Korzybski.
Bản đồ tư duy là gì?
Bản đồ tư duy là một sơ đồ do chính người sử dụng nghĩ ra (hoặc sử dụng phần mềm
vi tính) để ghi lại những ý chính về một vấn đề nào đó nhằm phục vụ cho việc học
tập hoặc công tác của mình. BĐTD được thể hiện bằng từ ngữ, hình, tranh ảnh, ý
tưởng, nhiệm vụ được liên kết và sắp xếp quanh một từ, cụm từ, biểu tượng, hình ảnh
hoặc một ý tưởng chính.
Làm thế nào để tạo ra một Bản đồ tư duy?
Chúng ta có thể lập một BĐTD cho mình theo các bước sau:
1. Ghi ra một từ, cụm từ, một ý tưởng, một biểu tượng hoặc hình ảnh quan trọng nói
về một vần đề mà mình quan tâm. Đặt từ hoặc ý tưởng chính này ở giữa tờ giấy
(hoặc giữa một bảng đen chẳng hạn).
2. Suy nghĩ các chi tiết có liên quan đến từ hoặc cụm từ này, xong bạn có thể vòng
tròn từ hoặc cụm từ này lại (hoặc đóng khung từ này trong hình vuông, hình chữ
nhật, hình elip, hình thoi, hoặc chỉ gạch chân tùy theo ý thích của bạn).
3. Ghi tiếp các từ hoặc cụm từ có liên quan đến từ hoặc cụm từ chính xung quanh
vòng tròn này.
4. Chọn trong số các từ đã ghi ra những từ liên quan nhất.
5. Tiếp tục suy nghĩ thêm các từ, cụm từ có liên quan đến từ quan trọng (như trong
mục 1), xóa bỏ, thêm bớt cho đến khi mình thấy mình đã có một BĐTD ưng ý nhất.
Khi tạo ra các BĐTD chúng ta nên dùng loại giấy không có dòng kẽ như giấy Ruki
quản lý nhà nước và quản lý công cộng (hoạch định các sự kiện, quản lý dự án, quản
lý thời gian và thông tin, quản lý cuộc họp, hoạch định công việc hàng ngày, phân
tích SWOT (mặt mạnh, yếu điểm, cơ hội và nguy cơ), và dùng cho cá nhân (hoạch
định và tổ chức, thực hiện công việc mang tính sáng tạo, nghiên cứu tôn giáo, các
họat động hỗ trợ xã hội).
Chúng ta có thể tự mình làm ra các BĐTD (vẽ, viết bằng tay) hoặc mua các phần
mềm vi tính để chọn lựa và thực hiện, tạo ra các BĐTD thích hợp cho từng mảng
công việc trong công tác của mình. Các phần mềm vi tính để tạo ra các BĐTD hiện
được sử dụng rộng rãi trên thế giới là ConceptDraw MIND MAP 5, NovaMind,
SmartDraw, Visual Mind và một số phần mềm khác.
Sử dụng bản đồ tư duy trong giảng dạy nói chung
Trong giảng dạy nếu giáo viên sử dụng BĐTD thì họ có thể giúp học sinh thay đổi
cách ghi bài theo lối truyền thống đang phổ biến hiện nay, tức là ghi hết dòng này
đến dòng khác. Chúng tôi không phản đối cách giáo viên ghi bài giảng hoặc học sinh
chép bài giảng theo lối truyền thống, nhưng nếu sử dụng được BĐTD thì giáo viên đã
làm phong phú thêm kho tư liệu về phương pháp, thủ thuật dạy học của mình, góp
phần vào việc đổi mới phương pháp giảng dạy, tạo ra nhiều thử thách cho học sinh
trong học tập, từng bước rèn luyện khả năng tư duy cho học sinh thông qua việc động
viên khuyến khích học sinh tham gia vào bài giảng hoặc đọc các BĐTD mà học sinh
đã ghi chép lại sau các tiết học.
Sử dụng BĐTD trong giảng dạy cũng giúp khắc phục được tình trạng thầy đọc – trò
chép trong giảng dạy vì BĐTD được phát triển dần từng bước theo tiến trình giờ dạy.
Các chi tiết liên quan mở rộng cho thông tin chính được giáo viên gợi ý cho học sinh
(thảo luận theo cặp, nhóm hoặc cá nhân) trả lời và do nội dung ghi chỉ là từ hoặc cụm
từ, học sinh có thì giờ tự ghi chép. BĐTD cũng giúp học sinh rèn luyện kỹ năng
thuyết trình và nắm vững kiến thức của bài học một cách chắc chắn hơn, nhớ bài lâu
hơn.
Bản đồ tư duy chỉ có thể dùng để dạy cho các môn học thuộc khoa học xã hội, và một
số ít môn thuộc khoa học tự nhiên, nói chung là các môn học có nhiều phần lý
thuyết.
(Mỗi mặt giấy thể hiện một nội dung của một tiết học. Như vậy một tờ giấy A4 có
nội dung của 2 tiết học).
2. Phôtô thành 50 bản (dự tính số học sinh tối đa trên một lớp học là 50).
3. Ép Plastic tờ giấy A4 này (như vậy 2 mặt đã được bọc nhựa) nhằm bảo quản sử
dụng lâu dài.
4. Phát cho học sinh mang về nhà học (các em có thể phôtô hay ghi chép lại). Giờ
học sau mang trả lại cho thầy/cô giáo.
5. Thầy/cô giáo bảo quản cẩn thận để sử dụng cho nhiều năm sau.
Tôi đã học cách làm như trên từ một giáo viên của Tỉnh Khánh Hòa trong một đợt
tập huấn. (Giáo viên này có dự định làm nhiều dề kiểm tra dạng trắc nghiệm khách
quan để phát cho học sinh về nhà làm và thu lại sau khi học sinh làm xong).
Học Tiếng Anh bằng bản đồ tư duy
Nghệ thuật “mind map” trong kỹ năng viết
Bạn đã bao giờ dùng phương pháp mind map (bản đồ tư duy)?
Nếu chưa, bạn hãy thử nhắm mắt lại và tưởng tượng đến cấu trúc của những chiếc
mạng nhện nhé!
Trông những chiếc mạng nhện có vẻ rất yếu ớt nhưng thực tế lại rất bền chắc và là cả
một kiệt tác nghệ thuật đấy bạn ạ.
Nếu kiệt tác ấy được đem vào áp dụng trong việc dạy ngoại ngữ và nhất là kỹ năng
viết một cách hiệu quả thì ắt hẳn bạn sẽ trở thành một nghệ sĩ trong sử dụng ngôn
ngữ rồi.
1, Những điểm cộng của phương pháp mind map
Sử dụng phương pháp mind map hiệu quả nhất là trong các hoạt động pre-writing.
Topic của bài viết giống như những chú nhện và xung quanh là các luận điểm, luận
cứ chính là các đầu mối giữ vững một mạng nhện và có mối liên kết chặt chẽ với
nhau.
Phương pháp này giúp người học thiết kế được một dàn ý chi tiết cho bài viết, xây
dựng những luận điểm nhờ đó thấy rõ mối quan hệ giữa chúng. Cũng bởi đặc tính
hấp dẫn, bắt mắt và dễ hiểu, người học sẽ thấy hưng phấn hơn khi nhìn vào mind
maps - tác phẩm của riêng họ. Điều này cũng thôi thúc người học phải làm cách nào
Bước tiếp theo, từ sơ đồ tư duy bạn phải khéo léo chuyển chúng sang dạng dòng kẻ
ngang.
Trước tiên bạn nên hướng dẫn người học quan sát cấu trúc tổng thể của một bài viết
sau đó triển khai ý. Đừng quên nhắc người học rằng điều quan trọng nhất trước khi
làm một bài viết là phải luôn quan tâm đến đối tượng đọc bài viết của mình.
Ví dụ: bạn viết một bài báo cho tạp chí, đối tượng bạn quan tâm là độc giả của báo.
Nắm bắt được điều đó, người học sẽ biết cách sắp xếp các ý theo trật tự và văn phong
mà họ cho là hợp lý đối với người đọc.
Bước 5- Viết
Học viên nên được khuyến khích thảo luận và viết theo cặp. Cứ sau 2 đoạn văn, học
viên lại trao đổi bài viết cho nhau. Khi hoàn thành, 2 học viên lại đổi bài và chữa bài
cho nhau.
Không những học hỏi từ những ý tưởng của nhau, phương pháp này giúp người học
luôn cảm thấy chính họ như những nhà văn thực sự khi tác phẩm của mình có độc giả
đọc nó, chứ không phải là “tự biên tự diễn”.
Bước 6 – Kế thừa và phát huy
Khi học viên đã quen dần với phương pháp học này, họ sẽ tích cực sử dụng chúng.
Đây thực sự là phương pháp hữu hiệu trong việc học và giảng dạy kỹ năng viết.
Chúc bạn thành công với phương pháp tư duy mind map này!
Nhớ 1 đoạn văn tiếng anh = sơ đồ tư duy(mindmap)
Trước hết, ta xét đoạn văn bản khó nhằn sau đây (khoảng 700 từ), từ mới các bạn tự
tra cứu nha ok:cha-cha:
" EATING DISORDER"
Millions of people in the United States are affected by eating disorders. More than
90% of those afflicted are adolescents or young adult women. Although all eating
disorders share some common manifestations, anorexia nervosa, bulimia nervosa,
and binge eating each have distinctive symptoms and risks.
People who intentionally starve themselves (even while experiencing severe hunger
pains) suffer from anorexia nervosa. The disorder, which usually begins around the
bulimia may lead to irregular menstrual periods. Psychological effects include
compulsive stealing as well as possible indications of obsessive - compulsive
disorder, an illness characterized by repetitive thought and behaviors. Obsessive -
compulsive disorder can also accompany anorexia nervosa.
As with anorexia nervosa, bulimia typically begins during adolescence. Eventually,
half of those with - anorexia nervosa will develop bulimia. The condition occurs
most often in women but is also found in men.
Binge - eating disorder is found in about 2% of the general population. As many as
one-third of this group are men. It also affects older women, though with less
frequency. Recent research shows that binge - eating disorder occurs in about 30% of
people participating in medically supervised weight - control programs. This disorder
differs from bulimia because its sufferers do not purge. Individuals with binge-eating
disorder feel that they lose control of themselves when eating. They eat large
quantities of food and do not stop until they are uncomfortably full. Most sufferers
are overweight or obese and have a history of weight fluctuations. As a result, they
are prone to the serious medical problems associated with obesity, such as high
cholesterol, high blood pressure, and diabetes. Obese individuals also have a higher
risk for gallbladder disease, heart disease, and some types of cancer.
Usually they have more difficulty losing weight and keeping it off than do people
with other serious weight problems. Like anorexic and bulimic sufferers who exhibit
psychological problems, individuals with binge -eating disorder have high rates of
simultaneously occurring psychiatric illnesses, especially depression.
Chắc chắn bạn không thể nắm hết toàn bộ thông tin ngay lần đọc đầu tiên Đọc lại
văn bản khoảng 2,3 lần rồi tra từ mới Lưu ý rằng không phải tất cả từ mới là từ
khóa có thể dùng cho MM của bạn
SƠ ĐỒ TƯ DUY CỦA TOO HUMAN: bạn có thể thấy có ba nhánh chính - ba căn
bệnh mà bài đọc hiểu nói tới Vì nó thuộc chủ đề y học nên bạn hãy làm cho sơ đồ
càng hài hước càng tốt để tăng tính thú vị Ở đây mình vẽ hình ảnh trung tâm dựa
trên biểu tượng vui của 4rum
Các nhánh:
d. weight control programs.
ĐÁP ÁN: B A C D A
Bạn đã sẵn sàng đối mặt với những bài đọc hiểu dài hơn nữa chưa ? Thật không
may là nhìu bài đọc khác ý tưởng không được rõ ràng và rối rắm, xin chia buồn nếu
bạn vướng phải chúng Nhưng không sao, bạn hãy sắp xếp ý của chúng theo cách
hiểu của bạn và vẽ MM > chắc chắn chẳng có bài đọc nào chiếm của bạn quá 2
ngày công vẽ