37
CHƯƠNG I: LÝ LUẬN VỀ THỊ TRƯỜNG VỐN
1. Khái niệm thị trường vốn:
Thị trường vốn là nơi mua bán, trao đổi các công cụ tài chính trung và dài hạn
nhằm giải quyết nhu cầu về vốn trung và dài hạn cho các chủ thể trong nền kinh tế. Thị
trường vốn được xây dựng để cung cấp tài chính cho các khoản đầu tư dài hạn của các
doanh nghiệp, chính phủ, hộ gia đình. Các công cụ trên thị trường có thời gian đáo hạn
trên một năm. (Nguồn: Tiền tệ ngân hàng – TS. Lê Thị Tuyết Hoa, PGS. TS Nguyễn
Thị Nhung – NXB Phương Đông 2011 – Trang 114).
Những người huy động vốn chủ yếu và quan trọng nhất là các doanh nghiệp.
Những người cung cấp vốn là tổ chức tài chính như ngân hàng, công ty bảo hiểm, quỹ
hưu trí…và các công chúng. Nếu như trọng tâm của thị trường ngắn hạn là cung cấp
phương tiện giúp cá nhân, doanh nghiệp nhanh chóng điều chỉnh tình hình thanh khoản
thực của họ theo số lượng tiền mong muốn. Thì ngược lại, thị trường vốn gắn bó gần
gũi với tiết kiệm và đầu tư hơn. Là nhịp cầu để chuyển tiết kiệm của những đơn vị
thặng dư qua những cuộc đầu tư của những đơn vị thiếu hụt. Qua đó, thị trường vốn
đóng góp vào sự ổn định kinh tế bằng cách cân đối tiết kiệm với đầu tư. Do đó, một thị
trường vốn có hiệu quả sẽ đóng góp tích cực vào việc nâng cao mức sống cho dân
chúng.
2. Phân loại thị trường vốn:
Căn cứ vào cơ cấu tổ chức thị trường vốn
Thị trường sơ cấp: đây là thị trường mua bán các loại chứng khoán mới phát
hành. Thị trường sơ cấp tạo điều kiện tăng qui mô vốn đầu tư và là nơi cung ứng chứng
khoán vào lưu thông.
Thị trường thứ cấp: là thị trường chuyển nhượng quyền sở hữu các loại chứng
khoán đã phát hành và đang lưu thông trên thị trường. Thị trường thứ cấp không làm
thay đổi qui mô vốn đầu tư trong nền kinh tế
37
Căn cứ vào công cụ tham gia trên thị trường vốn, thị trường vốn được cấu
thành bởi ba bộ phận
Thị trường chứng khoán nhà nước: là thị trường mua bán các loại giấy ghi nợ do
Ngoài ra, để giúp cho các hệ thống giao dịch trên thị trường chứng khoán đạt hiệu
quả cón có các chủ thể phụ trợ rất quan trọng như:
- Công ty máy tính
- Trung tâm lưu ký và thanh toán bù trừ chứng khoán
- Các công ty đánh giá mức tín nhiệm
4. Các công cụ trên thị trường vốn
Các công cụ trên thị trường vốn bao gồm hai loại chủ yếu là những công cụ vốn
và công cụ nợ có thời gian đáo hạn trên một năm. Công cụ vốn biểu hiện dưới hình
thức cổ phiếu và các công cụ nợ bao gồm các loại trái phiếu.
a) Cổ phiếu công ty:
- Khái niệm: Là một loại chứng chỉ do công ty cổ phần phát hành hoặc bút toán
ghi sổ xác nhận quyền sở hữu một hoặc một số cổ phần của công ty đó. Là một chứng
khoán có giá, có quyền nhận lãi và hoa hồng. Cổ phiếu có thể dùng mua bán và thế
chấp, trở thành một trong những phương tiện tín dụng dài hạn chủ yếu của thị trường
tiền vốn.
- Đặc điểm của cổ phiếu:
+ Có tính quyết sách: Người có cổ phiếu phổ thông có quyền tham gia đại hội
cổ đông, bầu cử ban quản trị tham gia quyết sách quản lý kinh doanh xí nghiệp, quyền
lợi lớn hay nhỏ tuỳ theo số lượng cổ phiếu.
37
+ Có thể đổi tiền mặt: Cổ phiếu có thể chuyển nhượng bất kỳ lúc nào giao
dịch ở thị trường, biến thành tiền giấy.
+ Giá cả và giá trị mặt phiếu không khớp nhau: Cổ phiếu là đối tượng giao
dịch, giống như hàng hoá, có loại giá cả này chịu ảnh hưởng tình hình kinh doanh của
xí nghiệp và chịu ảnh hưởng nhiều nhân tố kinh tế, chính trị, xã hội, luôn luôn thay đổi,
tăng giảm lớn, không khớp với giá trị mặt cổ phiếu. Sự không khớp ấy tạo điều kiện
hoạt động cho người đầu cơ.
+ Rủi ro: Cổ phiếu đã mua không thể trả lại vốn cũ. Người đầu cơ cổ phiếu có
thể nhận được thù lao dự kiến hay không hoàn toàn phụ thuộc vào doanh lợi của xí
nghiệp quyết định, lãi nhiều chia nhiều, lãi ít chia ít, không lãi không chia, cùng chịu
+ Sau một thời hạn nhất định trả lại vốn và lãi theo định kỳ;
+ Chủ nợ xem xét tình hình thực tế thị trường tự do chuyển nhượng trái phiếu
của họ.
- Phân loại :
+ Trái phiếu chính phủ : là một công cụ vay nợ trung và dài hạn của chính
phủ, người đứng ra vay nợ là chính phủ với một mục đích huy động vốn nhàn rỗi trong
nền kinh tế để bù đắp thâm hụt ngân sách triền miên đồng thời giúp chính phủ có
nguồn vốn đầu tư vào cơ sở hạ tầng Nhìn chung lãi suất của trái phiếu chính phủ là
thấp. Với nhiều kỳ hạn khác nhau, trái phiếu chính phủ có thể có kỳ hạn là 3 tháng, 6
tháng, 9 tháng, 12 tháng, 1 năm đến 2, 3 năm
+ Trái phiếu công ty : là công cụ vay nợ trung, dài hạn của công ty, huy động
vốn cho sản xuất kinh doanh của công ty. Công ty bảo đảm sẽ trả vốn (giá trị
trên mặt phiếu) trái phiếu trong thời hạn nhất định và trả lãi suất trái phiếu theo
37
thời hạn ước định (thời hạn trả lãi) và lãi suất quy định. Có loại trái phiếu được
phát hành thấp hơn giá trị mặt phiếu, còn có thể trả vốn gốc trước thời hạn.
+ Trái phiếu Coupon : tiền lãi của trái phiếu được trả hàng năm, tiền vốn gốc
được trả vào ngày đáo hạn.
+ Trái phiếu triết khấu : là trái phiếu mà ở đó người mua trái phiếu sẽ trả
cho người bán với giá mua thấp hơn mệnh giá nhưng đến ngày đáo hạn người mua
được thanh toán trả lại theo mệnh giá. Khoản chênh lệch đó chính là lãi suất. Như vậy,
đây là hình thức trả lãi trước ngay tại thời điểm mua.
+ Trái phiếu vĩnh cửu : là loại trái phiếu mà ở đó người mua nó không bao
giờ được thanh toán tiền gốc. Nó giống trái phiếu cố định ở điểm : người mua nhận
khoản cố định hàng năm và không nhận được khoản gốc cho đến khi người sở hữu trái
phiếu vĩnh cửu chết đi mà không sang tên hay thừa kế. Vì thế nó có tên là trái phiếu
vĩnh cửu.
5. Vai trò thị trường vốn
Vai trò của thị trường vốn thể hiện ở các yếu tố sau:
Thứ nhất, thị trường vốn là một kênh huy động vốn quan trọng cho đầu tư phát
Bảng số liệu 1: Số liệu cụ thể các năm: giá trị vốn hóa thị trường so với GDP
Năm 2003 2004 2005 2006 2007 2008 2009 2010 2011 2012
% 0.39 0.55 0.87 14.93 27.52 10.53 21.81 19.15 14.81 23.25
Biểu đồ 1: Giá trị vốn hóa thị trường Việt Nam
Nguồn: ( ,)
Ta có thể thấy năm 2008, giá trị vốn hóa thị trường của nước ta giảm mạnh đột
ngột. Nguyên nhân là do:
Trong hơn 8 năm hoạt động của thị trường chứng khoán Việt Nam, chưa bao
giờ mối quan hệ và ảnh hưởng từ thị trường thế giới lại thể hiện sâu sắc như trong năm
2008.
Mối quan hệ trên được đặt trong một bối cảnh đặc biệt, cuộc khủng hoảng tài
chính bùng nổ tại Mỹ, kế tiếp là cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu. Thị trường chứng
37
khoán thế giới sụt giảm mạnh, ảnh hưởng đến thị trường Việt Nam, thể hiện rõ ở tâm
lý nhà đầu tư trong nước cũng như phản ứng không mong đợi từ khối đầu tư nước
ngoài.
Một ảnh hưởng cụ thể là năm 2008 đã chứng kiến hoạt động bán ròng chưa từng
có của nhà đầu tư nước ngoài. Trong năm này, thị trường chứng kiến đợt rút vốn mạnh
của khối ngoại trong các tháng 4, 5 và 6, cao điểm rút ra khoảng 300 triệu USD/tháng,
nguyên do chủ yếu từ biến động kinh tế trong nước; và đợt bán ròng hiếm thấy trong
tháng 10, do tác động của khủng hoảng thế giới.
Ở một ảnh hưởng khác, kinh tế thế giới rơi vào khủng hoảng tác động đến nền
kinh tế Việt Nam, đặc biệt là đối với xuất khẩu và đầu tư gián tiếp. Điều này cũng đã
thể hiện ở thị trường chứng khoán Việt Nam trong năm 2008, khi thị trường này
thường phản ánh trước những khó khăn của nền kinh tế.
Luật thuế thu nhập cá nhân và làn sóng dư luận:
Luật Thuế thu nhập cá nhân bắt đầu có hiệu lực từ ngày 1/1/2009 nhưng ảnh
hưởng của nó đối với thị trường chứng khoán đã đậm nét trong năm 2008, đặc biệt vào
những tháng cuối năm. Đây là lần đầu tiên thu nhập từ hoạt động đầu tư chứng khoán
được đưa vào diện chịu thuế.
trường trái phiếu hiện nay là các ngân hàng thương mại (NHTM). Các đợt phát hành
trái phiếu cũng thường là phát hành riêng lẻ cho một số nhà đầu tư, ít khi đấu thầu rộng
rãi.
+ Trung gian tài chính: Việt Nam vẫn chưa có một tổ chức định mức tín
nhiệm (CRA) chuyên nghiệp nhằm tạo niềm tin cho nhà đầu tư khi đánh giá về doanh
nghiệp phát hành;
+ Khuôn khổ pháp lý: Nghị định 90/2011/NĐ-CP về phát hành TPDN ra đời
năm 2011 thay thế cho Nghị định 52/2006/NĐ-CP trước đó mặc dù đã tạo được hành
lang pháp lý thông thoáng hơn cho việc phát hành nhưng vẫn cần tiếp tục hoàn thiện
cho phù hợp với tình hình thực tế
+ Chưa phát hành thành công trái phiếu có kỳ hạn dài:
Thị trường vốn là nơi cung cấp nguồn vốn trung và dài hạn cho nền kinh tế.Theo thống
kê trên thị trường quốc tế, kỳ hạn thông thường của trái phiếu là khoảng 3 - 10 năm, cá
biệt có những đợt phát hành với kỳ hạn lên tới 10 - 30 năm. Tuy nhiên, thực tế hiện nay
ở Việt Nam cho thấy thị trường trái phiếu chưa thực sự là kênh huy động vốn dài hạn
cho nền kinh tế mà chủ yếu vẫn là các kỳ hạn ngắn. Mặc dù TPCP và TPDN thường
37
được phát hành với các kỳ hạn từ 2 - 15 năm, song tỷ lệ trúng thầu cao nhất lại là các
trái phiếu có kỳ hạn dưới 5 năm, chiếm khoảng 90% khối lượng phát hành. Điều này
cho thấy các nhà đầu tư trên thị trường hiện nay đa số tập trung vào phân khúc trái
phiếu kỳ hạn ngắn, có thể do lo ngại về bất ổn kinh tế vĩ mô khi vấn đề lạm phát luôn
được đặt lên hàng đầu những năm qua, hoặc do nhà đầu tư chưa coi thị trường trái
phiếu là kênh đầu tư chính.
+ Cơ cấu nhà đầu tư chưa đa dạng:
Khác với cổ phiếu, nhà đầu tư trên thị trường trái phiếu đa phần là các nhà đầu tư
tổ chức vì khối lượng trái phiếu đấu thầu và giao dịch có giá trị lớn nên nhà đầu tư cá
nhân, nhà đầu tư nhỏ lẻ khó có thể đáp ứng được. Tại các quốc gia phát triển, cơ sở nhà
đầu tư luôn được đa dạng hóa, có sự cân đối giữa các nhóm nhà đầu tư nếu muốn duy
trì lực cầu đều đặn trên thị trường. Các nhà đầu tư chủ chốt trên thị trường trái phiếu
thường là các công ty bảo hiểm, các quỹ đầu tư, NHTM…
so với thị trường chính thức và chưa được kiểm soát chặt chẽ. Việc bán cổ phiếu trên
thị trường OTC khá sôi động, song hiện chưa có quy định pháp luật nào kiểm soát
thích đáng.
- Thị trường nhỏ, thiếu vắng sự đầu tư của các nhà đầu tư tổ chức. Nhà đầu tư
trên thị trường cổ phiểu Việt Nam chủ yếu là các nhà đầu tư cá nhân và mang tính đầu
cơ cao hơn là đầu tư, do đó thị trường có xu hướng bất ổn định. Những nhà đầu tư tổ
chức Việt Nam cũng như nước ngoài chưa tham gia nhiều vào mua cổ phiếu
của các công ty niêm yết, một phần là do tính kém hấp dẫn của các cổ phiếu
trên thị trường, nhưng cũng một phần do những khó khăn, phức tạp liên quan
đến khuôn khổ pháp lý. Những khó khăn đó là khung pháp lý về bảo vệ quyền
lợi cổ đông thiểu số chưa đầy đủ, thiếu các chuẩn mực về công khai minh bạch
thông tin, các quy định chưa rõ ràng về chế độ thuế đối với nhà đầu tư, quỹ
đầu tư nước ngoài, các hạn chế về hạn mức đầu tư của nhà đầu tư nước ngoài,
- Số lượng và chất lượng sản phẩm trên thị trường cổ phiếu có nhiều hạn chế.
Chưa có một lượng hàng hóa đủ lớn về quy mô cũng như cơ cấu nếu so sách mã 600
37
mà chứng khoán niêm yết với đăng ký giao dịch khoảng 4000 công ty đại chúng. Sản
phẩm chưa đa dạng, nhiều công ty niêm yết có quy mô nhỏ.
2. Cách quản lý thị trường vốn ở Việt Nam:
- Về cơ quan quản lý: Ủy ban chứng khoán nhà nước được thành lập để quản lý
và thúc đẩy thị trường phát triển theo định hướng XHCN và bảo vệ quyền lợi cho nhà
đầu tư.
- Về trung tâm giao dịch: Gồm 2 trung tâm là Sở giao dịch chứng khoán
TP.HCM và Sở giao dịch chứng khoán Hà Nội (cả 2 đều thuộc nhà nước). Ngoài ra
còn có sự hoạt động mạnh mẽ của thị trường OTC.
- Về các tổ chức trung gian: Ở Việt Nam, các ngân hàng chỉ được phép kinh
doanh chứng khoán dưới hình thức thành lập công ty độc lập, tách rời với hoạt động
kinh doanh tiền tệ. Nhà nước cũng cho phép các công ty chứng khoán độc lập thành lập
từ các công ty tài chính, các tổng công ty lớn.
- Về cách thức quản lý: Hiện nay, hình thức quản lý chủ yếu là tập trung thông
con người: chất lượng ban lãnh đạo, trình độ nghề nghiệp của công nhân; tình trạng tài
chính của DN sẽ tác động đến giá của chứng khoán, do đó ảnh hưởng đến thị trường
vốn.
- Môi trường kinh tế vĩ mô: mặc dù nền kinh tế Việt Nam hiện nay đã đạt những
bước phát triển đáng kể, song nhìn chung Việt Nam vẫn nằm trong nhóm nước đang
phát triển, thu nhập bình quân đầu người thấp, lạm phát biến động, cơ cấu các ngành
trong nền kinh tế chưa đồng đều, những điều này khiến cho việc thu hút các nhà đầu tư
vào thị trường vốn còn gặp nhiều khó khăn. Bên cạnh đó, mục đích của các nhà đầu tư
Việt Nam là đầu cơ, tăng vốn hơn là đầu tư. Vì vậy, thị trường vốn Việt Nam vẫn chưa
thực sự phát triển.
- Ngoài ra còn có các nhân tố khác như lãi suất, tỷ giá hối đoái, lạm phát, lãi
suất:
Tỷ giá hối đoái: Tỷ giá hối đoái không chỉ tác động đến thị trường ngoại hối mà
còn tác động đến thị trường vốn, cụ thể là thị trường trái phiếu. Nếu tỷ giá hối đoái
tăng mạnh sẽ làm các nhà đầu tư nước ngoài rút vốn khỏi thị trường trái phiếu Việt
Nam.
Lạm phát: sự mất giá đồng tiền làm thay đổi hành vi tiêu dùng và tiết kiệm của
người dân. Khi lạm phát tăng cao, làm đồng tiền mất giá, kéo theo lãi suất tiết kiệm
37
tăng cao, nhà đầu tư sẽ phân vân giữa việc đầu tư vào chứng khoán dài hạn hay gửi tiết
kiệm.
Lãi suất: lãi suất có tác động trực tiếp đến giá của trái phiếu, cổ phiếu, do đó nó
có tác động đến thị trường vốn. Cụ thể: khi lãi suất tăng cao thì các dòng tiền chiết
khấu với trái phiếu sẽ nhỏ, dẫn đến giá chứng khoán giảm, thúc đẩy các nhà đầu tư
mua chứng khoán.
4. Thực trạng thị trường vốn Việt Nam:
a) Thị trường trái phiếu:
Thị trường trái phiếu bao gồm các loại trái phiếu: trái phiếu chính phủ, trái phiếu
dược chính phủ bảo lãnh, trái phiếu chính quyền địa phương, và trái phiếu doanh
nghiệp.
chủ yếu vào các ngân hàng thương mại (chiếm đến 86,7% khối lượng trái phiếu đang
niêm yết). TTTP trong nước vẫn chưa thực sự thu hút được các nhà đầu tư nước ngoài
(chiếm 13,33% khối lượng trái phiếu đang niêm yết).
Đối với trái phiếu chính quyền địa phương, giai đoạn 2003 - 2011, trên quy mô
toàn quốc, có 3 tỉnh/ thành phố là Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh và Đồng Nai phát hành đạt
15.697 tỷ đồng. Tính đến 31/12/2012, dư nợ trái phiếu chính quyền địa phương đạt
9.125 tỷ đồng, tương đương khoảng 0,31% GDP 2012. Tính đến 30/9/2013, dư nợ trái
phiếu chính quyền địa phương đạt 12.389 tỷ đồng.
37
(Bảng 2: Quy mô TTTP - Nguồn: />truong-trai-phieu-Viet-Nam-va-dinh-huong-phat-trien/38303.tctc ,)
Trong giai đoạn 2010 - 2013, TTTP đã phát triển mạnh mẽ trên thị trường sơ cấp
và thị trường thứ cấp do từ năm 2000 đến nay, khung pháp lý về phát hành trái phiếu
đã được ban hành đầy đủ, đồng bộ tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của thị
trường. Trong năm 2012, Bộ Tài chính đã ban hành các thông tư quy định đầy đủ quy
trình, thủ tục phát hành, đăng ký, lưu ký và niêm yết các loại trái phiếu theo quy định
tại Nghị định số 01/2011/NĐ-CP, hướng tới các thông lệ của thị trường quốc tế. Đặc
biệt là việc niêm yết và giao dịch tín phiếu Kho bạc Nhà nước (KBNN) tại Sở Giao
dịch Chứng khoán Hà Nội.
b) Thị trường cổ phiếu
Giai đoạn năm 2006 – 2007
TTCK ở nước ta cuối năm 2006 đầu năm 2007 thực sự được các nhà đầu tư hay
giới đánh giá gọi là thời kì bùng nổ. Trong giai đoạn này, những điều kiện kinh tế
37
chính trị tích cực của quốc gia như: VIệt Nam chuẩn bị giai nhập WTO, tổ chức thành
công hội nghị APEC làm cho Việt Nam hấp dẫn các nhà đầu tư. Cuối năm 2006, thị
trường chứng khoán tăng trưởng ngoạn mục, VnIndex tăng từ 305 điểm vào cuối năm
2005 lên 751 điểm cuối năm 2006, chỉ số VN Index bằng 246% so với chỉ số Vnindex
2005.
Tại trung tâm giao dịch Hà nội, HaSTC chỉ số HaSTC Index tăng từ 95 điểm vào
cuối năm 2005 lên 258 điểm, tăng 2.7 lần trong năm 2006. Số lượng công ty giao dịch
Những tháng cuối năm 2008 do Chính phủ đã có nhiều điều chỉnh, thi hành chính
sách tiền tệ thắt chặt, dù kinh tế gặp nhiều khó khăn nhưng là một năm đánh dấu bước
phát triển mạnh mẽ của TTCK Việt Nam. Sự dao động của TTCK trong năm 2009 có
quan hệ khá chặt chẽ với chính sách tiền tệ và dòng tiền đổ vào thị trường. Cả hai chỉ
số VN-Index và HNX-Index đã phục hồi mạnh trên 50%. Số lượng công ty mới niêm
yết tăng vọt, trong đó nhiều doanh nghiệp lớn được niêm yết trên sàn. Trung tâm giao
dịch chứng khoán Hà Nội chuyển đổi thành sở giao dịch chứng khoán. Thành lập thêm
sàn UPCoM cho những công ty đại chúng đăng ký giao dịch.
Trên sàn HOSE, chỉ số VN-Index đã tăng 57% trong năm 2009, từ mức 315.62
điểm vào ngày 31/12/08 lên mức 494.77 điểm vào ngày 31/12/09. So với mức đáy
235.5 điểm vào ngày 24/02, VN-Index đã tăng 110%. Tính thanh khoản của thị trường
tăng mạnh không chỉ do lượng cổ phiếu niêm yết tăng mà còn do dòng tiền đã đổ vào
thị trường một cách mạnh mẽ trong giai đoạn này. Nguyên nhân:
37
+ Sự phục hồi của thị trường vào tháng 6 gắn liền với các chính sách kích cầu
của chính phủ. Gói hỗ trợ lãi suất làm dư nợ tăng lên nhanh chóng, khuyến khích người
tiêu dùng vay tiền.
+ Sự kiện NHNN tuyên bố mạnh mẽ trong việc kiểm soát tăng trưởng tín dụng.
Nhiều NHTM vượt trần tăng trưởng tín dụng bị “tuýt còi”. Trùng khớp với tuyên bố
này là sự sụt giảm của VN – Index. Từ mức đỉnh 512 điểm vào tháng 6, VN-Index
giảm xuống còn 412.88 điểm vào 20/7. Vào ngày 20/10, VN- Index từ mức 421.88 lên
mức 624.1 điểm, xuất phát từ việc tăng trưởng tín dụng quá mức. Thêm vào đó, các
ngân hàng và công ty chứng khoán cũng khuyến khích nhà đầu tư thực hiện các nghiệp
vụ repo và thế chấp chứng khoán.
Tuy nhiên những hoạt động siết chặt tín dụng của NHNN và hạn chế cung tiền
qua thị trường mở làm thị trường giảm xuống từ 624.1 vào này 20/10 đến mức 434.87
vào ngày 12/11 (gần bằng mức đáy hồi tháng 7).
(Biểu đồ 4: Diễn biến TTCK Việt Nam 2009 – Nguồn :
/>141287.htm)
Trên sàn HNX, chỉ số HNX-Index tăng 60.97% so trong năm nay, so với mức
Giai đoạn năm 2011
Năm 2011 là một năm khó khăn của nền kinh tế Việt Nam và thế giới, nó đã tác
động tiêu cực đến TTCK Việt Nam theo đó. Trong cả năm, thị trường chỉ có được
hiếm hoi hai đợt phục hồi ngắn vào cuối tháng 5 và khoảng giữa tháng 8, toàn bộ
khoảng thời gian còn lại thị trường chủ yếu đi xuống. Chốt phiên ngày 30/12/2011, VN
Index và HNX Index lần lượt đóng cửa ở 351,55 và 58,74 điểm, như vậy so với đầu
năm 2011 sàn Hồ Chí Minh đã giảm mạnh 27,46% còn sàn Hà Nội lao dốc đến hơn
48,6%. Thanh khoản của TTCK cũng giảm mạnh, so với con số của năm 2010 thì giá
trị trung bình của mỗi phiên giao dịch của mỗi sàn đều sụt giảm mạnh đến xấp xỉ 60%.
Phần các công ty chứng khoán (CTCK) gặp khó khăn và chịu thua lỗ trong năm
2011: sự sụt giảm cả về điểm số lẫn giá trị giao dịch của TTCK Việt Nam thì, theo
thống kê chưa đầy đủ, trong năm 2011, số lượng công ty chứng khoán chịu thua lỗ
chiếm ưu thế áp đảo. Trong số hiếm hoi những công ty có lợi nhuận thì các khoản này
chủ yếu đến từ mảng kinh doanh khác ngoài dịch vụ môi giới cũng như tự doanh.
37
Các CTCK không kiểm soát chặc chẽ quy trình nội bộ và quản lý rủi ro, dẫn đến
thời điểm thanh toán không chuyển đủ tiền thanh toán vào tài khoản. Với hơn 100
CTCK hoạt động trong thị trường diễn biến ảm đạm, thị phần của từng công ty bị thu
hẹp lại, hoạt động môi giới, tư vấn trở nên khó khăn hơn rất nhiều.
(Biểu đồ 6: Diễn biến TTCK Việt Nam 2011 – Nguồn :
/>Tính đến thời điểm hiện tại có khoảng 105 CTCK đang hoạt động thì hơn 80%
con số này phải đối diện với Báo cáo tài chính lợi nhuận âm khi doanh thu sụt giảm
trong khi chi phí lại đội cao lên. 1.400 tỷ đồng là số tiền mà 18/27 CTCK niêm yết ghi
lỗ trong 09 tháng đầu năm 2011. Để tiếp tục tồn tại, một số công ty đã phải cắt giảm
nhân sự thậm chí là bỏ một số nghiệp vụ, trong đó có môi giới cụ thể như trường hợp
của CTCK SME, chứng khoán Gia Anh, chứng khoán Đông Dương, chứng khoán Hà
Nội…và lấn sân sang lĩnh vực bất động sản như CTCK Kim Long (KLS), CTCK Sài
Gòn (SSI)….hoặc chuyển tiền gửi tiết kiệm ngân hàng.
Việc phải đối mặt với lạm phát cao khiến chi phí đầu vào tăng mạnh thì việc tiếp
cận vốn vay cũng không dễ dàng khi mặt bằng lãi suất liên tục ở mức cao. Sự suy