1
Mở đầu
1. Tính cấp thiết của đề tài
Hải quan Việt Nam đợc thành lập ngày 10/9/1945. Trải qua hơn 60
năm xây dựng trởng thành, Hải quan Việt Nam đã hoàn thành các nhiệm vụ
chính trị đợc Đảng và Nhà nớc giao cho là: thực hiện kiểm tra, giám sát
hàng hóa phơng tiện vận tải; phòng chống buôn lậu, vận chuyển trái phép
hàng hóa qua biên giới; tổ chức thực hiện pháp luật về thuế đối với hàng hóa
xuất khẩu, nhập khẩu; kiến nghị chủ trơng, biện pháp quản lý nhà nớc về
hải quan đối với hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu, xuất cảnh nhập cảnh, quá
cảnh và chính sách thuế đối với hàng hóa xuất nhập khẩu. Kết quả hoàn thành
nhiệm vụ của Hải quan Việt Nam đã góp phần quan trọng trong công cuộc đấu
tranh giải phóng đất nớc cũng nh trong công cuộc xây dựng bảo vệ Tổ quốc.
Từ nay đến năm 2020, sẽ có rất nhiều sự kiện lớn trong đời sống kinh
tế - xã hội của nớc ta. Đây là giai đoạn đất nớc thực hiện Chiến lợc phát
triển kinh tế - xã hội 10 năm đầu của thế kỷ XXI- Chiến lợc đẩy mạnh công
nghiệp hóa, hiện đại hóa theo định hớng xã hội chủ nghĩa, xây dựng nền tảng
để đến 2020 nớc ta cơ bản trở thành một nớc công nghiệp, là mốc thời gian
Việt Nam đã hội nhập tơng đối toàn diện vào kinh tế thế giới và khu vực, khi
đó đã là Khu vực tự do thơng mại ASEAN (AFTA) bao gồm tất cả 10 thành
viên ASEAN, là thành viên của Tổ chức Thơng mại thế giới (WTO), của
Diễn đàn Kinh tế khu vực châu á - Thái Bình Dơng (APEC), của Diễn đàn
hợp tác toàn diện á - Âu (ASEM). Thời kỳ đổi mới, hội nhập quốc tế, đòi hỏi
ngành Hải quan phát triển hơn nữa, hoạt động có tính định hớng với các kế
hoạch dài hạn và ngắn hạn; nhanh chóng hiện đại hóa, tự động hóa các mặt
công tác, nhất là trong thủ tục thông quan hàng hóa, đổi mới hệ thống tổ chức
nhằm thực hiện có hiệu quả nhiệm vụ đợc giao.
3
nhằm thực hiện phơng thức quản lý cũ, thủ công, trớc yêu cầu đổi mới tinh
giảm và nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của các tổ chức bộ máy cũng nh
đáp ứng các yêu cầu quản lý của mô hình hải quan hiện đại trong lộ trình cải
cách và hiện đại hóa cần phải đổi mới tổ chức các cơ quan này cho phù hợp.
Từ những lý do nêu trên cho thấy đổi mới hệ thống tổ chức của Hải
quan Việt Nam nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động và đáp ứng các yêu cầu
hiện đại hóa là một yêu cầu cấp thiết mang tính khách quan. Nhng đổi mới
xuất phát từ cơ sở lý luận và thực tiễn nh thế nào là vấn đề cần nghiên cứu
một cách đầy đủ và nghiêm túc. Vì vậy, tác giả chọn đề tài "Cơ sở lý luận đổi
mới tổ chức hải quan theo mô hình hải quan hiện đại ở Việt Nam hiện nay"
để nghiên cứu viết luận văn thạc sĩ.
2. Tình hình nghiên cứu
Hiện nay hiện đại hóa hải quan, ứng dụng công nghệ tiến tiến trong
các lĩnh vực công tác hải quan là những vấn đề mang tính thời sự. Chỉ tính từ
năm 2003 đến nay đã có rất nhiều đề tài nghiên cứu khoa học, nhiều đề án, kế
hoạch đã đợc nghiên cứu và triển khai ứng dụng trong lĩnh vực hoạt động của
ngành Hải quan, cụ thể:
- Đề tài khoa học cấp Bộ: Xây dựng chiến lợc phát triển ngành hải quan
đến năm 2010 (Mã số 01-N2003, Chủ nhiệm đề tài: ThS. Trơng Chí Trung -
Thứ trởng Bộ Tài chính, kiêm Tổng Cục trởng Tổng cục Hải quan);
- Đề tài khoa học cấp ngành: Nghiên cứu hoàn thiện hệ thống các văn
bản quy phạm pháp luật trong lĩnh vực Hải quan phù hợp với các cam kết
quốc tế mà Hải quan Việt Nam ký kết tham gia (Mã số 02-N2003; Chủ nhiệm
đề tài: TS. Vũ Ngọc Anh - Phó Tổng Cục trởng Tổng cục Hải quan);
- Đề tài khoa học cấp ngành: Chiến lợc phát triển đội ngũ cán bộ,
công chức ngành Hải quan đến năm 2010 (Mã số 04-N2003 Chủ nhiệm đề tài:
Vũ Quang Vinh - Vụ trởng Vụ Tổ chức - Cán bộ);
5
- Một số suy nghĩ về việc sắp xếp lại mạng lới tổ chức Chi cục Hải
quan cửa khẩu, của ThS. Chu Văn Nhân - Cục trởng Cục Hải quan Bình
Định đăng trên Bản tin Nghiên cứu Hải quan, số 12/2005
Tất cả các công trình nghiên cứu, đề án và các bài viết trên tuy cha đề
cập một cách trực tiếp đến đổi mới tổ chức của Hải quan theo mô hình Hải
quan hiện đại, nhng đã gián tiếp đa ra các mục tiêu, phơng hớng, luận cứ
khoa học, các giải pháp nhằm từng bớc cải cách, chuẩn hóa hoạt động Hải
quan mang tính chuyên nghiệp chuyên sâu, hoạt động minh bạch có hiệu quả
theo yêu cầu hội nhập quốc tế.
Đến nay cha có một công trình nào nghiên cứu trực diện nội dung:
Cơ sở lý luận đổi mới tổ chức Hải quan theo mô hình hải quan hiện đại ở Việt
Nam hiện nay. Các công trình đã nghiên cứu trên sẽ tạo thuận lợi cho tác giả
trong việc tiếp cận với mô hình Hải quan hiện đại; có cách nhìn nhận đúng
đắn, đầy đủ về sự cần thiết phải đổi mới tổ chức Hải quan; sẽ cung cấp những
thông tin quan trọng trong đề ra các giải pháp đổi mới tổ chức Hải quan theo
mô hình Hải quan hiện đại ở Việt Nam hiện nay.
3. Đối tợng và phạm vi nghiên cứu
- Luận văn xác định nghiên cứu quá trình hình thành và phát triển của tổ
chức Hải quan Việt Nam từ ngày thành lập ngày 10 tháng 9 năm 1945 đến nay;
- Tổ chức Hải quan đợc nghiên cứu trên phạm vi toàn quốc nơi có tổ
chức hải quan; ở cả ba cấp Hải quan Tổng cục, cấp Cục, cấp Chi cục. Quá
trình nghiên cứu sẽ sử dụng số liệu minh chứng tại một số các Cục Hải quan
tỉnh, thành phố điển hình và các đơn vị Vụ, Cục thuộc Tổng cục Hải quan.
4. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
* Mục đích:
Luận văn nghiên cứu đa ra các quan điểm, giải pháp đổi mới tổ chức
Hải quan theo mô hình hải quan hiện đại ở Việt Nam đáp ứng yêu cầu hội
7
- Đa ra các luận chứng trong việc đổi mới tổ chức Hải quan theo mô
hình hải quan hiện đại ở Việt Nam.
7. ý nghĩa của luận văn
Kết quả nghiên cứu của luận văn là t liệu tham khảo phục vụ cho yêu
cầu thực tiễn của việc đổi mới hệ tổ chức của Hải quan theo mô hình Hải quan
hiện đại đáp ứng yêu cầu hiện đại hóa và hội nhập quốc tế, cụ thể là tổ chức
bộ máy Hải quan Vùng; quy hoạch lại mạng lới cấp Chi cục hải quan cửa
khẩu; tổ chức lại các đơn vị Vụ, Cục giúp việc thuộc Tổng cục Hải quan.
8. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung
của luận văn gồm 3 chơng, 9 tiết.
8
Chơng 1
Cơ sở lý luận về đổi mới tổ chức Hải quan
theo mô hình Hải quan hiện đại ở Việt Nam
1.1. Khái niệm, đặc điểm của tổ chức, tổ chức hành chính
nhà nớc
1.1.1. Khái niệm và đặc điểm của tổ chức
Tổ chức đợc hiểu theo hai nghĩa: một là, xem tổ chức nh một thực
thể, chẳng hạn ngời ta thờng gọi doanh nghiệp, trờng học, bệnh viện hay
cơ quan nhà nớc là tổ chức; hai là, xem đó là một hoạt động, chẳng hạn xem
tổ chức là một chức năng quản lý.
Theo nghĩa thứ nhất, tổ chức là một hệ thống gồm nhiều phân hệ có
những mối liên hệ hữu cơ hợp lý, rõ ràng, hợp tác và phối hợp chặt chẽ, tác
hoạt động cần thiết nhằm đạt mục tiêu đã định nh chỉ huy, phối hợp, kiểm tra.
Định nghĩa nói trên, thờng thiên về tổ chức xã hội - một tập thể đợc
hình thành theo quan hệ qua lại và nguyên tắc hoạt động đã định, để quản lý
một mục tiêu nào đó. Hàm nghĩa của tổ chức xã hội dựa trên nội dung của các
điểm sau:
- Xây dựng tổ chức là một hành vi có mục đích, là để thỏa mãn một
nhu cầu nào đó. Con ngời là động vật cao cấp có t tởng, có ý chí, hành vi
của con ngời luôn có tính mục đích rõ ràng, vì thế nếu không có mục tiêu
chung thì không thể hình thành tập thể.
- Tất cả các tổ chức đều tồn tại trong môi trờng bên ngoài riêng biệt;
môi trờng này ảnh hởng rất lớn đến hình thái, công năng, kết cấu, sự vận
hành của tổ chức, tiến hành trao đổi vật chất, năng lợng và thông tin với tổ
chức. Môi trờng bên ngoài, về cơ bản quyết định địa vị, giá trị và phạm vi
hoạt động của tổ chức. 10
- Về bản chất, tổ chức là một quan hệ đặc thù giữa con ngời; nó hình
thành do một loại hành vi qua lại nào đó của con ngời, nhờ đó con ngời có
thể phân biệt mới quan hệ qua lại nh: quan hệ nghề nghiệp, quan hệ chức vụ
khác nhau... Đơng nhiên, loại quan hệ con ngời này không phải lộn xộn,
lung tung; nó có đặc điểm là: có mục tiêu tổ chức đã định, nó phản ánh công
năng của tổ chức, là linh hồn của tổ chức; có sự phân công đã định nghĩa là
mọi ngời đều đợc phân công theo các góc độ hoạt động khác nhau; có trật
tự đã định và nguyên tắc hoạt động hoặc trạng thái vận hành ổn định, nó phản
ánh quan hệ tổ chức động.
- Tổ chức là một loại tập thể đang phát triển và thay đổi. Mọi tổ chức
đều là hệ con ngời trong hệ thống xã hội, và còn là hệ thống mở, thay đổi tùy
theo sự thay đổi của môi trờng. Vì thế, tổ chức trớc sau phải duy trì sự cân
bằng động để thích ứng với sự thay đổi và biến đổi của môi trờng bên ngoài.
của tổ chức hành chính càng thêm rõ ràng. Tổ chức hành chính của Nhà nớc
xã hội chủ nghĩa là cái nút của mối liên hệ trực tiếp giữa Đảng và Nhà nớc
với quần chúng nhân dân. Vấn đề ăn mặc, đi ở, sinh lão bệnh tử cho đến giáo
dục, văn hóa, vệ sinh và các mặt sản xuất và đời sống nhân dân đều có mối
liên hệ trực tiếp hay gián tiếp với các loại tổ chức hành chính của Nhà nớc;
hiệu suất của tổ chức hành chính tốt hay xấu đều trực tiếp liên quan đến sự
hơn thiệt của quần chúng nhân dân, quan hệ đến sự hng thịnh, suy thoái của
đất nớc và sự ổn định về cục diện chính trị. Tính u việt của chế độ xã hội
chủ nghĩa cần đợc thể hiện ở tính u việt của tổ chức hành chính, cần có một
hệ thống hành chính nhà nớc liêm khiết, có hiệu suất cao.
- Tính xã hội: Tổ chức hành chính của bất cứ một chế độ Nhà nớc nào
đều đảm nhiệm chức năng quản lý công việc công cộng chung của xã hội. Muốn
duy trì sự thống trị chính trị, ổn định trật tự xã hội, giai cấp thống trị phải quản
lý công việc công cộng của xã hội. Đặc biệt trong xã hội hiện đại, đặc điểm
tính xã hội của tổ chức hành chính nhà nớc càng thêm rõ ràng, biểu thị ở sự 12
tăng cờng không ngừng phạm vi và mức độ can thiệp của Chính phủ các nớc
vào các công việc công cộng về kinh tế, kỹ thuật, văn hóa giáo dục, y tế, giao
thông, bu điện, bảo hiểm xã hội, bảo vệ môi trờng... Chức năng có tính
công cộng chung của Nhà nớc xã hội chủ nghĩa, dù xét về lý luận hay từ thực
tiễn đều cần đợc phát triển và tăng cờng, tính xã hội của tổ chức hành chính.
- Tính phục vụ: Tổ chức hành chính nhà nớc với tính cách là một thực
thể của thợng tầng kiến trúc, ban đầu nảy sinh từ nhu cầu phát triển của hoạt
động kinh tế và hoạt động xã hội khác. Chức năng cơ bản của nó là cung cấp
dịch vụ mang tính chất quản lý cho các hoạt động để chúng phát triển một
cách nhịp nhàng và có hiệu quả hơn. Vì thế, tổ chức hành chính là một loại
phơng tiện cho sự vận hành và phát triển của xã hội, nhng không phải
không có mục đích nếu tổ chức hành chính dị hóa thành mục tiêu xã hội thì sẽ
định các văn bản hành chính, áp dụng các biện pháp hành chính đối với xã
hội, thực hiện quản lý hành chính các công việc của xã hội. Điều đó làm cho
việc quản lý có tính ràng buộc phổ biến và tính cỡng chế chung. Các loại tổ
chức các cấp và công dân thuộc phạm vi quản lý của tổ chức hành chính phải
tuân thủ mọi mệnh lệnh của nó, không đợc chống lại. Tính quyền uy của tổ
chức hành chính không phải nảy sinh trực tiếp bởi địa vị của nó là cơ quan
hành chính nhà nớc mà là do nó đợc ủy quyền của cơ quan lập pháp Nhà
nớc và việc pháp chế hóa quản lý hành chính.
Từ khái niệm về tổ chức nói chung, khái niệm về tổ chức hành chính
và các đặc trng cơ bản của tổ chức hành chính có thể rút ra các nội dung
chính về cơ sở hình thành nên tổ chức hành chính nh sau:
- Dới góc độ chính trị: Tổ chức hành chính nhà nớc là bộ phận của
bộ máy Nhà nớc, đại diện cho Nhà nớc, là chủ thể chấp hành quyền lực
quốc gia, thực hiện quản lý các công việc kinh tế xã hội. Tổ chức hành chính
của Nhà nớc xã hội chủ nghĩa là cái nút của mối liên hệ trực tiếp giữa Đảng
và Nhà nớc với quần chúng nhân dân. Tính u việt của chế độ xã hội chủ
nghĩa cần đợc thể hiện ở tính u việt của tổ chức hành chính, cần có một hệ 14
thống hành chính nhà nớc liêm khiết, có hiệu suất cao. Nh vậy, cơ sở để
hình thành nên tổ chức hành chính bắt nguồn sứ mệnh chính trị của giai cấp
cầm quyền là cần phải có một tổ chức để thực hiện sứ mệnh chính trị của mình.
- Dới góc độ xã hội: Bất cứ một chế độ nhà nớc nào đều phải đảm
nhiệm chức năng quản lý công việc công cộng chung của xã hội nh: duy trì
sự thống trị chính trị, ổn định trật tự xã hội; các công việc công cộng về kinh
tế, kỹ thuật, văn hóa giáo dục, y tế, giao thông, bu điện, bảo hiểm xã hội, bảo
vệ môi trờng... những nhiệm vụ có tính công cộng chung của Nhà nớc xã
hội chủ nghĩa, dù xét về lý luận hay từ thực tiễn đều cần đợc phát triển và
tăng cờng. Nh vậy, xét dới góc độ khách quan thì trớc yêu cầu của xã hội
Tổ chức hải quan là một cơ quan hành chính nhà nớc nằm trong hệ
thống bộ máy hành chính của Nhà nớc Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam,
đợc thành lập theo một trình tự, thủ tục pháp luật quy định. Có nhiệm vụ
đợc quy định tại Điều 11 Luật Hải quan sửa đổi bổ sung năm 2001 nh sau:
Hải quan Việt Nam có nhiệm vụ thực hiện kiểm tra, giám sát
hàng hóa, phơng tiện vận tải; phòng chống buôn lậu, vận chuyển
trái phép hàng hóa qua biên giới; tổ chức thực hiện pháp luật về thuế
đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu; thống kê hàng hóa xuất khẩu,
nhập khẩu; kiến nghị chủ trơng, biện pháp quản lý nhà nớc về hải
quan đối với hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu, xuất cảnh, nhập cảnh và
chính sách thuế đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu [26].
Nguyên tắc tổ chức hoạt động của Hải quan Việt Nam đợc quy định tại
Điều 12 Luật Hải quan sửa đổi bổ sung năm 2001 "(1)-Hải quan Việt Nam đợc
tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc tập trung thống nhất; (2)-Tổng cục
trởng Tổng cục Hải quan thống nhất quản lý, điều hành hoạt động của hải quan
các cấp; Hải quan cấp dới chịu sự quản lý, chỉ đạo của Hải quan cấp trên" [26].
Hệ thống tổ chức Hải quan đợc quy định tại Điều 13 Luật Hải quan
sửa đổi bổ sung năm 2001: 16
(1) Hệ thống tổ chức của Hải quan Việt Nam gồm có: Tổng
cục hải quan; Cục Hải quan tỉnh, liên tỉnh, thành phố trực thộc trung
ơng; Chi cục Hải quan cửa khẩu, Đội kiểm soát hải quan và đơn vị
tơng đơng; (2) Chính phủ quy định cụ thể nhiệm vụ, tổ chức, hoạt
động của hải quan các cấp; chế độ phục vụ, chức danh, tiêu chuẩn,
lơng, phụ cấp thâm niên, chế độ đãi ngộ khác đối với công chức hải
quan; hải quan hiệu, cờ hiệu, cấp hiệu, trang phục, giấy chứng minh
hải quan [26].
Từ khái niệm cũng nh nhiệm vụ của tổ chức hải quan đợc pháp luận
nớc đều giống nhau về những nhiệm vụ cơ bản nhất.
ở nớc ta, chỉ một tuần lễ sau khi Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản
Tuyên ngôn độc lập, khai sinh ra nớc Việt Nam dân chủ cộng hòa, ngày
10/9/1945, Chính phủ lâm thời ký Sắc lệnh số 27/SL thành lập Sở thuế quan và
thuế gián thu (Tiền thân của Tổ chức Hải quan ngày nay) chính thức thiết lập
chủ quyền về hải quan của nớc ta, khẳng định ý nghĩa của công tác Hải quan
trong đời sống kinh tế - chính trị của đất nớc.
- Trớc hết, Hải quan là một công cụ quan trọng của mỗi quốc gia
trong việc bảo hộ và thúc đẩy sự phát triển của nền sản xuất trong nớc.
Thông qua việc kiểm soát chặt chẽ hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu, đấu tranh
mạnh mẽ với các hoạt động buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa, tiền tệ
và các phơng tiện thanh toán khác qua biên giới, hoạt động hải quan đã góp
phần đảm bảo cho nền kinh tế phát triển ổn định, kích thích và bảo hộ sản
xuất trong nớc. Cũng chính thông qua việc trực tiếp thực hiện hoạt động thu
thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu, thuế gián thu đối với hàng hóa xuất khẩu,
nhập khẩu hoạt động của hải quan đã trở thành công cụ rất quan trọng trong
việc bảo vệ hàng rào thuế quan nhằm góp phần điều tiết các hoạt động kinh tế
diễn ra ở bên trong mỗi quốc gia. Bên cạnh đó, thông quan việc thu thuế đối
với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu hải quan đã đóng góp không nhỏ vào
nguồn thu cho ngân sách quốc gia. 18
- Hải quan đợc xác định là một trong những công cụ quan trọng góp
phần vào việc bảo vệ an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội của mỗi quốc gia.
Vai trò này của hải quan đợc đặc biệt nhấn mạnh trong việc phát hiện và xử
lý kịp thời các hành vi vi phạm pháp luật về hải quan nói riêng và vi phạm
pháp luật nói chung nhằm đảm bảo an ninh về văn hóa t tởng, an toàn vệ
sinh - dịch tễ, bảo vệ sức khỏe của nhân dân, bảo vệ lợi ích của ngời tiêu
dùng, ngăn chặn kịp thời những hành vi có nguy cơ đe dọa tới lợi ích, chủ
chức quốc tế liên Chính phủ khác trong những vấn đề thuộc thẩm quyền quy
định; về tổ chức bộ máy của hải quan, Tổ chức Hải quan thế giới (WCO)
không đa ra một mô hình chung cụ thể nhng thông qua những vấn đề có
tính lý luận về khoa học tổ chức bằng việc đa ra những khuyến nghị, yêu cầu
về thủ tục hải quan đòi hỏi mỗi nớc là thành viên phải có sự thay đổi về tổ
chức cho phù hợp để thực hiện một cách có hiệu quả quy trình thủ tục hải
quan theo chuẩn mực quốc tế.
Tiểu ban Thủ tục Hải quan của APEC bắt đầu thực hiện việc xây dựng
các cam kết nhằm hài hòa thủ tục hải quan giữa các nền kinh tế dựa trên các
chuẩn mực của WCO với xuất phát điểm là những mục tiêu cụ thể về thời
điểm thực hiện các chơng trình về nghiệp vụ hải quan thể hiện trong Kế
hoạch Hành động Manila đợc nêu tại tuyên bố của các nhà lãnh đạo APEC
năm 1996 (Tuyên bố Subic). Tiếp đó, SCCP đã đề ra Chơng trình hành động
tập thể (CAP) nhằm 14 mục tiêu mà các cơ quan hải quan của các nền kinh tế
thành viên cần đạt tới là:
1. Hài hòa cấu trúc biểu thuế quan với Công ớc HS.
2. Công khai hóa các thông tin về luật pháp, quy định, chỉ dẫn hành
chính và quản lý đối với doanh nghiệp.
3. Đơn giản và hài hòa thủ tục Hải quan trên cơ sở Công ớc KYOTO.
4. áp dụng chuẩn trao đổi dữ liệu điện tử UN/EDIFACT của Liên
Hiệp quốc dùng trong hành chính, thơng mại và vận tải.
5. áp dụng trị giá GATT/WTO. 20
6. áp dụng các nguyên tắc Hiệp định bảo hộ sở hữu trí tuệ (TRIPS)
của WTO.
7. Tạo cho doanh nghiệp có quyền kháng nghị các quyết định không phù
hợp của Hải quan thông qua cơ chế khiếu nại một cách công khai và độc lập.
8. áp dụng Quy tắc phân loại trớc khi hàng đến.
quá trình xây dựng thiết kế các cấu phần kỹ thuật của dự án hỗ trợ kỹ thuật,
căn cứ vào xu thế phát triển cũng nh chuẩn mực của Hải quan thế giới các
chuyên gia đã đa ra khuyến nghị về mô hình quản lý của Hải quan hiện đại
và tơng thích với mô hình quản lý này là mô hình tổ chức nh sau:
Biểu đồ 1.1: Mô hình tổ chức tơng thích với mô hình quản lý
Hải quan hiện đại
Hải quan hiện đại
Tập trung xử lý
thông tin ở cấp
Tổng cục và các
Hải quan Vùng
Công nghệ
quản lý dựa trên
kỹ thuật quản lý
rủi ro
thế giới (WCO), nên mô hình tổ chức của các nớc đều theo hớng đáp ứng
yêu cầu sử dụng hệ thống thống tin dữ liệu tập trung; áp dụng kỹ thuật quản lý
rủi ro trong quản lý; ứng dụng ở trình độ cao công nghệ tin học; sử dụng có
hiệu quả các trang thiết bị kỹ thuật hiện đại. Cũng theo yêu cầu quản lý hiện
đại, mô hình tổ chức của các nớc phát triển trên thế giới và khu vực đều đổi
mới và cơ cấu lại theo mô hình Hải quan Vùng. Mô hình này cơ cấu một hệ
thống tổ chức hải quan từ Trung ơng xuống đến các địa điểm thông quan
hàng hóa một cách thống nhất, cho phép cập nhật thông tin, chia sẻ thông tin,
áp dụng phơng pháp kỹ thuật quản lý mới đáp ứng yêu cầu đơn giản về thủ
tục, văn minh trong giao tiếp, nhng vẫn quản lý chặt chẽ đúng pháp luật.
Khi Việt Nam đã trở thành thành viên các nớc trong khu vực ASEAN,
thành viên của Tổ chức Thơng mại thế giới (WTO), đặt ra các yêu cầu về pháp
luật phải đợc hoàn thiện theo mục tiêu nội luật hóa các cam kết quốc tế mà
Việt Nam đã tham gia và ký kết. Trong đó, việc đơn giản hóa thủ tục hải quan
theo Công ớc KYOTO sửa đổi phù hợp với yêu cầu quan lý hải quan theo
thông lệ quốc tế trong bối cảnh hội nhập và toàn cầu hóa; thực hiện xác định
trị giá hải quan theo Hiệp định trị giá GATT nhằm tạo ra một hệ thống xác
định trị giá hải quan thống nhất... là những nội dung quan trọng mà Hải quan 23
các nớc thành viên trong Tổ chức Hải quan thế giới (WCO) phải thực hiện.
Một điều kiện quan trọng trong thực hiện thủ tục hải quan theo yêu cầu hiện
đại liên quan gắn bó hữu cơ với việc đổi mới và bố trí sắp xếp lại hệ thống tổ
chức Hải quan. Hiện nay, nhiều nớc tổ chức Hải quan đã đợc tổ chức theo
cơ cấu, mô hình hiện đại nhằm thực hiện có hiệu quả công tác quản lý hải
quan. Tính tơng thích về mô hình tổ chức của Hải quan Việt Nam theo thế
giới và khu vực là một nội dung quan trọng trong thực hiện tiến trình hội nhập
sâu vào thế giới và khu vực. Đây là tiêu chí quan trọng trong việc nghiên cứu
để đổi mới, cơ cấu lại tổ chức hải quan các cấp của Hải quan Việt Nam trong
lại, sáp nhập, sắp xếp tổ chức... cho phép xác định mức đầu t, thứ tự u tiên,
chiến lợc đầu t phù hợp. Đối với Hải quan Việt Nam khi tiến hành đổi mới
tổ chức theo mô hình hiện đại tiêu chí này phải đợc xem xét một cách toàn
diện, phù hợp với điều kiện hoàn cảnh kinh tế của Việt Nam
Nh vậy, tiêu chí xác định mô hình hải quan hiện đại phải đợc xem
xét dới yêu cầu đơn giản, hiện đại dới tất cả khía cạnh cụ thể. Thông quan
xém xét tiêu chí này trên từng phơng diện để xác định nội dung, lộ trình, mô
hình của một tổ chức sau khi tiến hành đổi mới. Tiêu chí này rất quan trọng
trong điều kiện Việt Nam khi Đảng, Nhà nớc đang hớng tới mục tiêu xây
dựng bộ máy hành chính nhà nớc gọn nhẹ, hiệu quả, hoạt động minh bạch.
Cũng trong điều kiện kinh tế còn hạn hẹp thì tập trung đầu t và sử dụng có
hiệu quả cơ sở vật chất khi đầu t tránh dàn trải, lãng phí, thất thoát là một
yêu cầu cấp thiết. Đổi mới tổ chức hải quan Việt Nam theo mô hình hải quan
hiện đại phải tuân thủ các yêu cầu đặt ra của tiêu chí này. Căn cứ vào tiêu chí
này cho phép tồn tại hay không tồn tại một tổ chức, sáp nhập hay không sáp
nhập, cơ cấu bên trong của từng tổ chức hải quan... Tuân thủ tiêu chí này sẽ
xây dựng tổ chức hải quan Việt Nam từ Tổng cục đến các cửa trở thành một
hệ thống tổ chức thống nhất, gọn đầu mối, xóa cấp trung gian, ứng dụng kỹ
thuật quản lý mới, tập trung đầu t trọng điểm tránh lãng phí nguồn tài chính,
sử dụng có hiệu quả đầu t đáp ứng yêu cầu hiện đại hóa và hội nhập, góp
phần vào công cuộc phát triển kinh tế của đất nớc. 25
- Thứ ba, đội ngũ cán bộ chuyên nghiệp, chuyên sâu: Hải quan hiện
đại đợc xây dựng trên các trụ cột là xử lý dữ liệu tập trung; áp dụng kỹ thuật
quản lý rủi ro; sử dụng có hiệu quả đầu t, trang thiết bị hiện đại; đội ngũ cán
bộ chuyên nghiệp, chuyên sâu hoạt động minh bạch, liêm chính. Nh vậy, tiêu
chí của tổ chức Hải quan Việt Nam theo mô hình hiện đại cần xác định việc
xây dựng đội ngũ cán bộ chuyên nghiệp, chuyên sâu, hoạt động minh bạch và