PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH VỚI VIỆC NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH
DOANH CỦA CÁC NHTM VIỆT NAM
PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH VỚI VIỆC NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH
DOANH CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM.
TS.Phùng Thị Lan Hương, Tạp chí KTĐN số 67
Khoa Tài chính ngân hàng, Trường Đại học Kinh tế Kỹ thuật - Công nghiệp
Tóm tắt Trước những đòi hỏi cấp thiết về sự phát triển của các ngân
hàng thương mại Việt Nam, đặc biệt trong bối cảnh nền kinh tế
toàn cầu có nhiều biến động phức tạp như hiện nay cần thiết
phải có phân tích tài chính các ngân hàng thương mại Việt Nam
nhằm đánh giá một cách chi tiết hoạt động tài chính ngân hàng,
để nhận biết, phán đoán, dự báo, đưa ra quyết định tài chính,
quyết định tài trợ và đầu tư đồng thời có sự điều chỉnh nhất định
nhằm nâng cao hiệu quả họat động của ngân hàng.
Từ khóa Phân tích tài chính, ngân hàng thương mại, hiệu quả hoạt động.
Abstract In the sequence of strict requirement for developing Vietnamese
commercial bank, especially in complicated fluctuation of global
economy, it is necessary to analyse Vietnamese commercial
bank’s finance in order to evaluate and forecast particular
finance, giving financial investment decisions, also getting
adjustment on time to improve the banking efficient.
Keywords Financial analysis, commercial bank, efficiency
1. ĐẶT VẤN ĐỀ
Hệ thống tài chính quốc gia có vị trí quan trọng trong nền kinh tế với chức
năng huy động và phân bổ nguồn lực. Hệ thống tài chính Việt Nam tính đến
nay bao gồm thị trường tài chính, các tổ chức tài chính, các công cụ tài chính
và cơ sở hạ tầng tài chính. Các ngân hàng thương mại Việt Nam là một bộ
phận quan trọng của hệ thống Tài chính quốc gia, mặc dù đã được đổi mới và
đa dạng hoá cả về loại hình sở hữu, gia tăng về quy mô hoạt động, song chất
lượng của sự phát triển vẫn còn hạn chế. Trước những đòi hỏi cấp thiết về sự
phát triển của các ngân hàng thương mại Việt Nam, sự biến động phức tạp
4. HSBC Việt Nam Triệu VND 6.623.643
5. Mizuho Nhật Bản Triệu JPY 84.905
(Nguồn Báo cáo tài chính các ngân hàng năm 2013)
Việc đảm bảo an toàn và phát triển vốn là nguyên tắc cơ bản và xuyên suốt
trong hoạt động kinh doanh của NHTM. Để đảm bảo an toàn cho phần tài sản
có chứa đựng rủi ro, ngân hàng cần duy trì một mức vốn tự có cần thiết được
đo bằng tỷ lệ vốn an toàn tối thiểu. Theo quy định của hiệp ước BASEL và
theo quy định tại thông tư 13/2010/TT-NHNN, hệ số an toàn vốn (viết tắt là
CAR: Capital Adequacy Ratio) của các NHTM Việt Nam tối thiểu là 8%. Đến
cuối năm 2013, các NHTM Việt Nam thuộc nhóm nghiên cứu có hệ số CAR đều
trên 9%.
Bảng 1.2 Hệ số an toàn vốn của các NHTM Việt Nam
Đơn vị tính: %
TT Ngân hàng 2009 2010 2011 2012 2013
1 Agribank 6.21 6.4 8.0 9.49 9.11
2 BIDV 7.55 9.32 10.1 9.04 11.28
3 VCB 8.11 9.0 11.14 14.83 13.37
4 Vietinbank 9.0 8.02 9.0 10.33 13.17
5 ACB 9.97 8.9 9.25 9.3 14.66
6 Techcombank 9.6 12.3 11.43 11.6 14.03
(Nguồn Báo cáo thường niên các NHTM Việt Nam)
2.2 Nhóm chỉ tiêu về quy mô và chất lượng tài sản
Quy mô, cơ cấu và chất lượng tài sản có sẽ quyết định đến sự tồn tại và phát
triển của NHTM. Chất lượng tài sản là một chỉ tiêu tổng hợp nói lên khả năng
bền vững về tài chính, năng lực quản lý của một NHTM. Đánh giá qui mô,
chất lượng tài sản được thể hiện qua các chỉ tiêu: tăng trưởng tổng tài sản,
tỷ lệ cho vay
Tăng trưởng tổng tài sản của các NHTM Việt Nam bình quân trong thời kỳ
2009-2013 là 16,7%. Trong đó nhóm NHTM nhà nước có mức tăng trưởng
tài sản cao hơn nhóm NHTM cổ phần. Cụ thể Vietinbank có mức tăng trưởng
tín dụng như nợ quá hạn, nợ khó đòi, mất vốn và NHTM phải thực hiện xóa
nợ. Quy định và tiêu chuẩn để đánh giá chất lượng tín dụng của một NHTM là
tốt và NHTM có thể phát triển bền vững khi tỷ lệ nợ xấu dưới mức 5% tổng
dư nợ.
Chất lượng tín dụng của các NHTM Việt Nam được cải thiện nhờ áp dụng
đồng loạt các giải pháp tăng cường năng lực tự kiểm soát chất lượng tín
dụng của các tổ chức tín dụng; thanh tra giám sát xử lý các khoản nợ xấu. Tỷ
lệ nợ xấu của các NHTM đã giảm dần từ 3.5% năm 2008 xuống 2,5% năm
2010. Một số NHTMNN có tỷ lệ nợ xấu giảm đáng kể trong giai đoạn 2006-
2010, ví dụ như BIDV năm 2010 giảm 6.8% so với năm 2006, Vietinbank giảm
3.7%. Đối với nhóm NHTMCP, tỷ lệ nợ xấu ở mức thấp hơn nhóm NHTM nhà
nước như ACB có mức nợ xấu 0.34%, Techcombank có tỷ lệ 2.29%. Trong
năm 2011, tỷ lệ nợ xấu của toàn bộ hệ thống NHTM là 3.29% cao hơn so với
năm 2010. Sang năm 2012, nợ xấu toàn ngành ngân hàng tăng vọt với mức
8.8%. Tuy nhiên tỷ lệ này đã giảm chỉ còn 3.79% vào năm 2013 và Agribank
vẫn là ngân hàng có tỷ lệ nợ xấu cao nhất toàn hệ thống, chiếm 25% tổng số
nợ xấu của toàn hệ thống.
Nguyên nhân của sự gia tăng tỷ lệ nợ xấu là do các NHTM đã không chủ động
giới hạn cho vay vào các lĩnh vực có mức độ rủi ro cao như cho vay kinh
doanh bất động sản, đầu tư chứng khoán, trong khi vẫn phải tiếp tục phải
thực hiện mục tiêu tăng vốn với tốc độ cao.
Muốn tăng trưởng tổng tài sản bền vững đòi hỏi phải nghiên cứu mối tương
quan giữa cơ cấu tài sản và nguồn vốn. Qua mối tương quan này sẽ đánh giá
được tính tối ưu trong cơ cấu tài sản - nguồn vốn, khả năng phản ứng của
ngân hàng trước những hiện tượng bất thường của môi trường kinh doanh
và đáp ứng yêu cầu rút tiền của công chúng. Sự phối hợp hiệu quả sẽ giúp
ngân hàng tối đa hoá thu nhập đồng thời kiểm soát chặt chẽ các rủi ro.
Bảng 1.4 Tỷ lệ nợ xấu của các NHTM Việt Nam
Đơn vị tính :%
TT Ngân hàng 2009 2010 2011 2012 2013
STT Ngân hàng 2009 2010 2011 2012 2013
1 Agribank 182,968
1,300,237
3,633,593
2,565,000
2,303,000
2 Vietcombank
3,944,753
4,235,792
4,217,332
4,427,206
4,371,270
3 BIDV
2,817,501
3,760,715
3,199,608
3,318,863
(Nguồn Báo cáo tài chính các NHTM VIệt Nam)
Phân tích ROE trung bình của các NHTM Việt Nam có thể thấy: Năm 2009
ROE ở mức khá cao, khoảng 18,64%; năm 2010 18,04 và năm 2011 tăng vọt
20,32% nhưng sang năm 2012 và 2013 giảm xuống chỉ còn là 10,3 và 8,35.
Việc giảm sút này do nhiều nguyên nhân như hiệu quả hoạt động yếu (dù
chênh lệch giữa lãi suất đầu vào đầu ra có xu hướng giãn ra, có lợi cho các
NHTM); tỷ lệ nợ xấu đang có xu hướng tăng đã khiến tỷ lệ trích lập dự phòng
rủi ro của các NHTM thấp so với yêu cầu của NHNN. Bên cạnh đó các NHTM
Việt Nam mở rộng quá mức mạng lưới chi nhánh với hy vọng tốc độ tăng tài
sản sẽ nhanh như những năm trước. Nhưng năm nay do hạn chế tăng trưởng
tín dụng và cạnh tranh huy động vốn gay gắt, đã khiến hoạt động một số chi
nhánh ngân hàng không có hiệu quả.
Biểu đồ 1.3: Hệ số ROA của các NHTM Việt Nam
Tỷ lệ lãi ròng cận biên (NIM) là tổng giá trị thu được từ tiền lãi cho vay, chi
phí trả lãi tiền gửi và tổng tài sản của ngân hàng. Đây là chỉ tiêu đánh giá
hiệu quả kinh doanh của các NHTM VIệt Nam.
Bảng 1.6 Tỷ lệ lãi ròng cận biên (NIM) của các NHTM Việt Nam
STT Ngân hàng 2009 2010 2011 2012 2013
1 Agribank 2.54 3.35 5.02 - -
2 Vietcombank 4.87 3.07 3.88 2.94 2.55
3 BIDV 2.74 2.95 3.46 3.18 2.88
4 Vietinbank 3.83 4.18 5.11 4.06 3.61
5 ACB 2.55 2.74 3.43 3.74 2.9
6 Techcombank 3.54 2.39 3.34 3.4 3.16
(Nguồn Báo cáo thường niên các NHTM Việt Nam)
Tỷ lệ lãi ròng cận biên của các NHTM Việt Nam có xu hướng giảm dần qua
2011-2013, đặc biệt năm 2013 hầu hết các NHTM Việt Nam có tỷ lệ lãi ròng
cận biên giảm. Nguyên nhân của sự giảm sút này là do tỷ lệ huy động của các
NHTM Việt Nam tăng cao trong khi cho vay thấp khiến cho nguồn vốn ứ
đọng.
để đạt mục tiêu vào nhóm những định chế tài chính ngân hàng lớn của Châu
Á thì các NHTM Việt Nam cần nâng cao hơn nữa năng lực tài chính của ngân
hàng. Trước tiên, các NHTM Việt Nam cần phải mở rộng quy mô vốn chủ sở
hữu bởi vì vốn chủ sở hữu thấp sẽ hạn chế khả năng cạnh tranh của Ngân
hàng. Ngoài ra, các NHTM Việt Nam cần tăng cường tiềm lực tài chính bằng
cách chủ động thu hút vốn đầu tư từ các tổ chức quốc tế, các ngân hàng nước
ngoài, mời họ tham gia để tăng vốn hoạt động, thực hiện chuyển giao công
nghệ theo hướng ngân hàng thương mại hiện đại, có khả năng cạnh tranh
toàn diện trên thị trường quốc tế.
3.2 Nâng cao chất lượng hoạt động tín dụng:
Chất lượng tín dụng của các NHTM Việt Nam trong thời gian qua giảm sút là
do danh mục tín dụng của ngân hàng chưa tốt. Tỷ lệ nợ xấu của các NHTM
Việt Nam có giảm sút nhưng còn ở mức cao. Vì vậy, các NHTM Việt Nam cần
tiến hành nâng cao chất lượng phân tích tín dụng, đảm bảo đủ phân tích
đúng quy trình tín dụng theo yêu cầu, cơ cấu lại danh mục cho vay cũng là
những khâu quan trọng nhằm nâng cao chất lượng tín dụng của các NHTM
Việt Nam.
3.3 Tiếp tục chuyển đổi mô hình hướng tới khách hàng
Trong bối cảnh nền kinh tế ngày càng mở cửa, sự cạnh tranh giữa các ngân
hàng tại Việt Nam ngày càng trở nên gay gắt, các NHTM Việt Nam cần
chuyển đổi sang mô hình hiện đại - hướng tới khách hàng. Khác với trước
đây, khách hàng hiện nay được tiếp cận với nhiều loại hình dịch vụ từ đó giúp
khách hàng có nhận thức rõ ràng hơn về chất lượng dịch vụ và có sự lựa
chọn đúng đắn. Do đó các NHTM Việt Nam cần đẩy mạnh ứng dụng công
nghệ hiện đại. Việc áp dụng công nghệ hiện đại trong ngân hàng sẽ tạo được
nhiều tiện ích cho khách hàng, từ đó thu hút khách đến với ngân hàng. Phong
cách phục vụ hướng tới khách hàng. Ngân hàng cũng là một ngành dịch vụ
do đó cũng cần phải quan tâm đến chất lượng phục vụ. Tạo lập cho các giao
dịch viên cũng như các cán bộ ngân hàng một tác phong phục vụ hướng tới
khách hàng sẽ giúp các NHTM Việt Nam tạo được thương hiệu đối với khách
năm 2015 và tầm nhìn 2020, Bộ Công thương.
[3] Nguyễn Đăng Dờn (2010), Quản trị ngân hàng thương mại hiện đại, Nhà
xuất bản Phương Đông.
[4] MartinFridson,FernandoAlvarez(2013), Phân Tích Báo Cáo Tài Chính –
Hướng Dẫn Thực Hành, NXB Kinh tế TP.Hồ Chính Minh.