báo cáo Các biện pháp quản lý nợ công ở Việt nam - Pdf 28


M C L CỤ Ụ
L I M UỜ Ở ĐẦ
C S LÝ LU N C A V N N CÔNGƠ Ở Ậ Ủ Ấ ĐỀ Ợ 1
1.1. Khái ni m n côngệ ợ 1
1.2. B n ch t kinh t c a n côngả ấ ế ủ ợ 1
1.3. Các đ c tr ng c b n c a n côngặ ư ơ ả ủ ợ 3
1.4. Phân lo i n côngạ ợ 3
1.5 Tác đ ng c a n côngộ ủ ợ 4
1.6 Gi i h n an toàn c a n côngớ ạ ủ ợ 5
2. TÌNH HÌNH N CÔNG VI T NAM HI N NAYỢ Ở Ệ Ệ 8
2.1 Tình hình s d ng n công Vi t Namử ụ ợ ở ệ 8
2.1.1 Quy mô n côngợ 8
2.1.2 C c u n côngơ ấ ợ 9
2.1.3 Tình hình s d ng n côngử ụ ợ 10
2.1.4 Tình hình tr n côngả ợ 11
2.2 Tình hình qu n lý n công Vi t Namả ợ ở ệ 12
2.2.1 Qu n lý theo khía c nh k thu tả ạ ỹ ậ 12
2.2.1.1 Nhu c u vay m nầ ượ 12
2.2.1.2 Kh n ng tr nả ă ả ợ 14
2.2.1.3 Ngu n v n tài trồ ố ợ 15
2.2.1.4 Danh m c nụ ợ 15
2.2.1.5 Ho t ng giám sát và duy trì thông tin nạ độ ợ 15
2.2.2 Qu n lý theo khía c nh th chả ạ ể ế 16
2.2.2.1 Khung pháp lý c a qu n lý nủ ả ợ 16
2.2.2.2 Th ch qu n lý nể ế ả ợ 16
2.2.2.3 Vi c th c thi ch c n ng nhi m v c a các c quan qu n lý nệ ự ứ ă ệ ụ ủ ơ ả ợ 16
NHÓM 4 – LỚP ĐÊM 4 K 22 1

2.3. Nh ng thành t u và h n ch trong công tác qu n lý n công Vi t Namữ ự ạ ế ả ợ ở ệ 16
2.3.1. Thành t uự 16

thành mối quan tâm lo ngại to lớn đối với nhiều quốc gia, trong đó có Việt Nam. Chính vì lẽ đó, việc
nghiên cứu về khủng hoảng nợ công và rút ra bài học kinh nghiệm trong quản lý nợ công ở Việt Nam
là việc làm hết sức cần thiết và cấp bách đối với nước ta trong thời điểm hiện tại.
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
NHÓM 4 – LỚP ĐÊM 4 K 22 3

Đề tài nhằm phân tích tình hình nợ công ở Việt Nam hiện này bao gồm tình hình sử dụng nợ công
và tình hình quản lý nợ công. Từ đó nêu ra một số giải pháp và một số hướng đi khả thi nhằm góp phần
quản lý hiệu quả nợ công.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài là tình hình sử dụng và quản lý nợ công ở Việt Nam
giai đoạn từ năm 2006 đến năm 2010.
Kết cấu của tiểu luận
Đề tài được chia thành 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận của vấn đề nợ công
Chương 2: Tình hình nợ công ở Việt Nam hiện nay
Chương 3: Các biện pháp quản lý nợ công ở Việt Nam
Ý nghĩa thực tiễn của đề tài:
Đưa ra một số khái niệm cơ bản về nợ công, về bản chất của nợ công và tác động của nợ công đối
với một nền kinh tế.
Là đề tài đánh giá tổng quan về tình hình sử dụng và quản lý nợ công ở Việt Nam trong giai đoạn
hiện nay, là tài liệu tham khảo cho các nghiên cứu tiếp theo về tình hình nợ công Việt Nam giai
đoạn sau khi vừa gia nhập WTO.
Đề tài đưa ra một số biện pháp nhằm quản lý nợ công một cách chặt chẽ nhất nhằm không để xảy
ra tình trạng khủng hoảng nợ công.
NHÓM 4 – LỚP ĐÊM 4 K 22 4

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NỢ CÔNG
1.1 Khái niệm nợ công .
Khái niệm nợ công là một khái niệm tương đối phức tạp. Tuy nhiên, hầu hết những cách tiếp

Nghiên cứu làm rõ bản chất kinh tế của nợ công và quan điểm của kinh tế học về nợ công sẽ
giúp các nhà làm luật xây dựng các quy định pháp luật phù hợp với tình hình kinh tế - xã hội
nhằm đạt được hiệu quả trong sử dụng nợ công ở Việt Nam.
Xét về bản chất kinh tế, khi Nhà nước mong muốn hoặc bắt buộc phải chi tiêu vượt quá
khả năng thu của mình (khoản thuế, phí, lệ phí và các khoản thu khác) thì phải vay vốn và điều
đó làm phát sinh nợ công. Như vậy, nợ công là hệ quả của việc Nhà nước tiến hành vay vốn và
Nhà nước phải có trách nhiệm hoàn trả. Do đó, nghiên cứu về nợ công phải bắt nguồn từ quan
niệm về việc Nhà nước đi vay là như thế nào.
Trong lĩnh vực tài chính công, một nguyên tắc quan trọng của ngân sách nhà nước được
các nhà kinh tế học cổ điển hết sức coi trọng và hiện nay vẫn được ghi nhận trong pháp luật ở
hầu hết các quốc gia, đó là nguyên tắc ngân sách thăng bằng. Theo nghĩa cổ điển, ngân sách
thăng bằng được hiểu là một ngân sách mà ở đó, số chi bằng với số thu. Về ý nghĩa kinh tế,
điều này giúp Nhà nước tiết kiệm chi tiêu hoang phí, còn về ý nghĩa chính trị, nguyên tắc này
sẽ giúp hạn chế tình trạng Chính phủ lạm thu thông qua việc quyết định các khoản thuế.
Các nhà kinh tế học cổ điển như A.Smith, D.Ricardo, J.B.Say là những người khởi xướng và
ủng hộ triệt để nguyên tắc này trong quản lý tài chính công. Và chính vì thế, các nhà kinh tế học
cổ điển không đồng tình với việc Nhà nước có thể vay nợ để chi tiêu.
Ngược lại với các nhà kinh tế học cổ điển, một nhà kinh tế học được đánh giá là có ảnh
hưởng mạnh mẽ nhất ở nửa đầu thế kỷ XX là John M.Keynes (1883-1946) và những người ủng
hộ mình (gọi là trường phái Keynes) lại cho rằng, trong nhiều trường hợp, đặc biệt là khi nền
kinh tế suy thoái dẫn đến việc đầu tư của tư nhân giảm thấp, thì Nhà nước cần ổn định đầu tư
bằng cách vay tiền (tức là cố ý tạo ra thâm hụt ngân sách) và tham gia vào các dự án đầu tư công
cộng như đường xá, cầu cống và trường học, cho đến khi nền kinh tế có mức đầu tư tốt trở lại.
Học thuyết của Keynes (cùng với sự chỉnh sửa nhất định từ những đóng góp cũng như phản đối
của một số nhà kinh tế học sau này là Milton Friedman và Paul Samuelson) được hầu hết các
Chính phủ áp dụng để vượt qua khủng hoảng và tình trạng trì trệ của nền kinh tế.
Ngược lại với Keynes, Milton Friedman cho rằng, việc sử dụng chính sách tài khóa nhằm
tăng chi tiêu và việc làm sẽ không có hiệu quả và dễ dẫn đến lạm phát trong thời suy thoái vì
người dân thường chi tiêu dựa trên kỳ vọng về thu nhập thường xuyên chứ không phải thu nhập
NHÓM 4 – LỚP ĐÊM 4 K 22 6

trong trường hợp bên vay không trả được nợ thì trách nhiệm trả nợ sẽ thuộc về cơ quan đứng ra
bảo lãnh (ví dụ: Chính phủ bảo lãnh để Ngân hàng Phát triển Việt Nam vay vốn nước ngoài).
- Nợ công được quản lý theo quy trình chặt chẽ với sự tham gia của cơ quan nhà nước có
thẩm quyền
Việc quản lý nợ công đòi hỏi quy trình chặt chẽ nhằm đảm bảo hai mục đích: một là, đảm
bảo khả năng trả nợ của đơn vị sử dụng vốn vay và cao hơn nữa là đảm bảo cán cân thanh toán vĩ
mô và an ninh tài chính quốc gia; hai là, để đạt được những mục tiêu của quá trình sử dụng vốn.
Bên cạnh đó, việc quản lý nợ công một cách chặt chẽ còn có ý nghĩa quan trọng về mặt chính trị
và xã hội. Theo quy định của pháp luật Việt Nam, nguyên tắc quản lý nợ công là Nhà nước quản
lý thống nhất, toàn diện nợ công từ việc huy động, phân bổ, sử dụng vốn vay đến việc trả nợ để
đảm bảo hai mục tiêu cơ bản như đã nêu trên.
NHÓM 4 – LỚP ĐÊM 4 K 22 7

- Mục tiêu cao nhất trong việc huy động và sử dụng nợ công là phát triển kinh tế - xã hội vì
lợi ích chung
Nợ công được huy động và sử dụng không phải để thỏa mãn những lợi ích riêng của bất kỳ
cá nhân, tổ chức nào, mà vì lợi ích chung của đất nước. Xuất phát từ bản chất của Nhà nước là
thiết chế để phục vụ lợi ích chung của xã hội, Nhà nước là của dân, do dân và vì dân nên đương
nhiên các khoản nợ công được quyết định phải dựa trên lợi ích của nhân dân, mà cụ thể là để
phát triển kinh tế - xã hội của đất nước và phải coi đó là điều kiện quan trọng nhất.
1.4 Phân loại nợ công.
Có nhiều tiêu chí để phân loại nợ công, mỗi tiêu chí có một ý nghĩa khác nhau trong việc
quản lý và sử dụng nợ công.
Theo tiêu chí nguồn gốc địa lý của vốn vay thì nợ công gồm có hai loại: nợ trong nước và nợ
nước ngoài. Nợ trong nước là nợ công mà bên cho vay là cá nhân, tổ chức Việt Nam. Nợ nước
ngoài là nợ công mà bên cho vay là Chính phủ nước ngoài, vùng lãnh thổ, tổ chức tài chính quốc
tế, tổ chức và cá nhân nước ngoài18. Như vậy, theo pháp luật Việt Nam, nợ nước ngoài không
được hiểu là nợ mà bên cho vay là nước ngoài, mà là toàn bộ các khoản nợ công không phải là
nợ trong nước.
Việc phân loại nợ trong nước và nợ nước ngoài có ý nghĩa quan trọng trong quản lý nợ. Việc

động tiêu cực. Nhận biết những tác động tích cực và tiêu cực nhằm phát huy mặt tích cực, hạn
chế mặt tiêu cực là điều hết sức cần thiết trong xây dựng và thực hiện pháp luật về quản lý nợ
công.
Những tác động tích cực chủ yếu của nợ công bao gồm:
- Nợ công làm gia tăng nguồn lực cho Nhà nước, từ đó tăng cường nguồn vốn để phát triển
cơ sở hạ tầng và tăng khả năng đầu tư đồng bộ của Nhà nước. Việt Nam đang trong giai
đoạn tăng tốc phát triển nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, trong đó
cơ sở hạ tầng là yếu tố có tính chất quyết định. Muốn phát triển cơ sở hạ tầng nhanh
chóng và đồng bộ, vốn là yếu tố quan trọng nhất. Với chính sách huy động nợ công hợp
lý, nhu cầu về vốn sẽ từng bước được giải quyết để đầu tư cơ sở hạ tầng, từ đó gia tăng
năng lực sản xuất cho nền kinh tế.
- Huy động nợ công góp phần tận dụng được nguồn tài chính nhàn rỗi trong dân cư. Một bộ
phận dân cư trong xã hội có các khoản tiết kiệm, thông qua việc Nhà nước vay nợ mà
những khoản tiền nhàn rỗi này được đưa vào sử dụng, đem lại hiệu quả kinh tế cho cả khu
vực công lẫn khu vực tư.
- Nợ công sẽ tận dụng được sự hỗ trợ từ nước ngoài và các tổ chức tài chính quốc tế. Tài
trợ quốc tế là một trong những hoạt động kinh tế - ngoại giao quan trọng của các nước
phát triển muốn gây ảnh hưởng đến các quốc gia nghèo, cũng như muốn hợp tác kinh tế
song phương. Nếu Việt Nam biết tận dụng tốt những cơ hội này, thì sẽ có thêm nhiều
nguồn vốn ưu đãi để đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng, trên cơ sở tôn trọng lợi ích nước bạn,
đồng thời giữ vững độc lập, chủ quyền và chính sách nhất quán của Đảng và Nhà nước.
Bên cạnh những tác động tích cực nêu trên, nợ công cũng gây ra những tác động tiêu cực
nhất định. Nợ công sẽ gây áp lực lên chính sách tiền tệ, đặc biệt là từ các khoản tài trợ ngoài
nước. Nếu kỷ luật tài chính của Nhà nước lỏng lẻo, nợ công sẽ tỏ ra kém hiệu quả và tình trạng
tham nhũng, lãng phí sẽ tràn lan nếu thiếu cơ chế giám sát chặt chẽ việc sử dụng và quản lý nợ
công.
1.6 Giới hạn an toàn của nợ công.
 Tổng quan về nợ công trên thế giới
Giới hạn nợ được cho là an toàn ở mỗi nước cũng khác nhau, không có công thức hay tỷ lệ
chung cho nợ chính phủ, nợ nước ngoài của quốc gia, cũng như nợ công của mọi nền kinh tế mà

Thứ ba, trong thời điểm hiện nay, khi nền kinh tế toàn cầu mới thoát khỏi khủng hoảng, bắt
đầu có dấu hiệu phục hồi do kết quả của các gói kích thích kinh tế mà chính phủ các nước đã chi
ra trong những năm trước đây, thì việc cắt giảm chi tiêu, tăng thuế sẽ làm giảm đầu tư, kìm hãm
sự phục hồi của nền kinh tế, làm chậm tốc độ tăng trưởng, thậm chí có thể đẩy nền kinh tế vào
"khủng hoảng kép". Nghiêm trọng hơn, việc tung ra các gói kích thích kinh tế chính là một trong
những nguyên nhân làm tăng nợ công của các chính phủ, vậy nếu như khủng hoảng “tái xuất” thì
liệu các chính phủ có còn đủ khả năng xoay xở, cứu vãn nền kinh tế của mình? Vấn đề đặt ra cho
các chính phủ là phải chèo lái để giải quyết được thâm hụt ngân sách nhưng không đẩy nền kinh
tế trở lại tình trạng suy thoái, trong khi các biện pháp để giải quyết hai vấn đề này lại có tác động
không thuận chiều.
Thứ tư, khi nợ công liên tục tăng cao, nền kinh tế bị hạ bậc tín nhiệm theo báo cáo của các tổ
chức chuyên đi đánh giá tín nhiệm các công ty và quốc gia khác, niềm tin của người dân và giới
đầu tư bị lung lay, khi đó nền kinh tế dễ trở thành mục tiêu tấn công của các thế lực đầu cơ quốc
tế.
Ví dụ: đối với Hy Lạp, khi tổ chức xếp hạng tín dụng Standard & Poor’s hạ bậc tín nhiệm đối
với trái phiếu chính phủ của A-ten, các quỹ đầu tư lớn lập tức bán ra loại trái phiếu này, đồng
thời từ chối mua vào trong các đợt phát hành tiếp theo. Nếu chính phủ muốn huy động tiền từ thị
trường tài chính sẽ phải chấp nhận chi phí vốn cao hơn và sau đó, rơi vào vòng xoáy: tiếp tục bị
NHÓM 4 – LỚP ĐÊM 4 K 22 10

tụt bậc tín nhiệm. Việc đưa ra xếp hạng tín nhiệm trong thời điểm nhạy cảm, dễ tổn thương của
nền kinh tế có nguy cơ làm cho cuộc khủng hoảng thêm trầm trọng, có tác dụng như một "cú
huých", đẩy nền kinh tế lún sâu thêm vào khó khăn, bế tắc.
Thứ năm, việc căn cứ vào mức nợ công trên GDP để xác định tình trạng nợ công là hết sức
quan trọng, tuy nhiên, điều quan trọng không kém là phân tích "thực chất" nợ công. Đó là: nợ
chính phủ là vay nợ trong nước hay vay nợ nước ngoài; tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế, hay
tình trạng "sức khỏe" nói chung của nền kinh tế; lượng dự trữ quốc gia…
Ví dụ: hiện nay, dư luận đang lo ngại liệu Nhật Bản có thể trở thành “một Hy Lạp thứ hai”,
thế nhưng, một số nhà phân tích, khi phân tích nợ công của Nhật Bản đã cho thấy có sự khác biệt
khá lớn giữa nợ công của nước này với nợ công của Hy Lạp, thể hiện ở chỗ, 95% trái phiếu chính

Việt Nam vẫn nằm trong ngưỡng an toàn. Nhưng do dư nợ hiện nay đã ở mức cao, xu thế được
NHÓM 4 – LỚP ĐÊM 4 K 22 11

vay nợ trung và dài hạn với lãi suất ưu đãi sẽ giảm dần, cùng với hiệu quả đầu tư hiện nay chưa
cao, nên cần thay đổi cơ cấu nguồn vốn, bảo đảm trả nợ đến hạn, giảm dần vay nợ và điều mấu
chốt nhất là phải tăng cường hiệu quả đầu tư, đảm bảo duy trì các chỉ số nợ ở trong giới hạn an
toàn, phù hợp với tiềm lực của đất nước.
CHƯƠNG 2: TÌNH HÌNH NỢ CÔNG Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
2.1 Tình hình sử dụng nợ công ở Việt Nam
Việt Nam mở cửa kinh tế được 25 năm và đã đạt được những bước phát triển vượt bậc. Chỉ
trong vòng 10 năm, GDP của Việt Nam đã tăng lên gấp 3 lần, từ 32,7 tỷ USD năm 2001 lên 102
tỷ USD năm 2010 (bảng 1). Tuy nhiên, Việt Nam vẫn thuộc nhóm các nước đang phát triển, quy
mô nền kinh tế của Việt Nam vẫn là nhỏ so với mặt bằng chung của thế giới; nền kinh tế phụ
thuộc nhiều vào xuất khẩu sản phẩm nông nghiệp thô và công nghiệp nhẹ là chủ yếu. Do đó,
hiện tại và trong tương lai gần, việc tăng vay nợ chính phủ nói riêng và nợ công nói chung là
một nhu cầu tất yếu vì Việt Nam vẫn rất cần sự hỗ trợ về mặt tài chính (tức là vay nợ và viện trợ
phát triển chính thức) từ các tổ chức đơn phương, đa phương trên thế giới để phát triển nền kinh
tế hơn nữa.
2.1.1 Quy mô nợ công
Theo The Economist Intelligence Unit, nợ công của Việt Nam năm 2001 mới là 11,5 tỷ
USD, tương đương 36% GDP, bình quân mỗi người gánh số nợ công xấp xỉ 144 USD. Nhưng
tính đến hết năm 2010, nợ công đã tăng lên 55,2 tỷ USD, tương đương 54,3% GDP và hiện tại,
Việt Nam được xếp vào nhóm nước có mức nợ công trên trung bình. Như vậy, trong vòng 10
năm từ 2001 đến nay, quy mô nợ công đã tăng gấp gần 5 lần với tốc độ tăng trưởng nợ trên 15%
mỗi năm (Biểu đồ 1). Nếu tiếp tục với tốc độ này thì chỉ trong vòng 5 năm nữa, đến năm 2016,
NHÓM 4 – LỚP ĐÊM 4 K 22 12

nợ công của Việt Nam sẽ vượt quá 100% GDP như hai nước thành viên EU mới lâm vào khủng
hoảng nợ công gần đây là Hy Lạp (133,6%), Ailen (129,2%). Nợ công đạt trên 100% GDP là
một con số không nhỏ đối với một nền kinh tế đang phát triển và quy mô nhỏ, phụ thuộc nhiều

Nợ công 100% 100% 100% 100% 100%
Nợ chính phủ 84.9% 68.1% 76.3% 79.2% 82.1%
Nợ được chính phủ bảo lãnh 3.7% 5.6% 7.1% 8.4% 8.4%
Nợ chính quyền địa phương 11.4% 26.3% 16.6% 12.4% 9.5%
Nguồn: Bộ tài chính
Năm 2010, trong nợ chính phủ, nợ nước ngoài là 27,8 tỷ USD, tương đương 61,4%; nợ
trong nước là 17,5 tỷ USD, tương đương 38,6%. Trong nợ nước ngoài, ODA chiếm tỷ trọng lớn,
thường khoảng chiếm trên 80% tổng dư nợ nước ngoài.
Bảng 5: Cơ cấu nợ công Việt Nam từ năm 2006 - 2010 (theo số liệu)
ĐVT: tỷ USD
Năm 2006 2007 2008 2009 2010
Nợ chính phủ 23.7 24.1 31.2 37.8 45.3
Dư nợ nước ngoài của chính phủ 14.6 17.3 18.9 23.9 27.8
Dư nợ trong nước của chính phủ 9.1 6.8 12.3 13.9 17.5
Nguồn: Bộ tài chính
Bảng 6: Cơ cấu nợ công Việt Nam từ năm 2006 - 2010 (tỷ lệ phần trăm)
Năm 2006 2007 2008 2009 2010
Nợ chính phủ 100% 100% 100% 100% 100%
Dư nợ nước ngoài 61.6% 71.8% 60.6% 63.2% 61.4%
Dư nợ trong nước 38.4% 28.2% 39.4% 36.8% 38.6%
2.1.3 Tình hình sử dụng nợ công
Thông qua các chương trình đầu tư công, nợ công của Việt Nam được chuyển tải vào các dự
án đầu tư nhằm cải thiện cơ sở hạ tầng, tạo nền tảng cho sự phát triển kinh tế bền vững. Tuy
nhiên, tình hình sử dụng nợ công ở Việt Nam không đạt hiệu quả cao, thể hiện ở hai khía cạnh
sau:
Thứ nhất, tình trạng dự án, công trình thi công dở dang, chuyển tiếp, kéo dài, chậm tiến độ
vẫn chậm được khắc phục. Điều này cùng với sự thiếu kỷ luật tài chính trong đầu tư công và
trong hoạt động của các doanh nghiệp Nhà nước cũng như các tập đoàn lớn, dẫn đến đầu tư dàn
trải, lãng phí, thất thoát vốn đầu tư ở tất cả các khâu của quá trình quản lý dự án đầu tư.
NHÓM 4 – LỚP ĐÊM 4 K 22 14

2.2 Tình hình quản lý nợ công của Việt Nam
Hiệu quả quản lý nợ công được đánh giá trên hai khía cạnh: khía cạnh kỹ thuật và khía cạnh
thể chế. Khía cạnh kỹ thuật tập trung vào định mức nợ cần thiết và đảm bảo các điều khoản và
điểu kiện vay mượn sao cho phù hợp với khả năng trả nợ trong tương lai. Khía cạnh kỹ thuật
gồm hai phần chính: quản lý quy mô, cơ cấu nợ và giám sát, duy trì thông tin nợ. Khía cạnh thể
chế liên quan đến khía cạnh luật pháp, sắp xếp thể chế, chức năng nhiệm vụ mà các cơ quan quản
lý nợ phải đảm nhiệm.
2.2.1 Theo khía cạnh kỹ thuật
2.2.1.1 Nhu cầu vay mượn
Nhu cầu vay mượn của nước ta chủ yếu là để bù đắp ba cân đối lớn của nền kinh tế: cân đối
giữa tiết kiệm và đầu tư, cân đối giữa thu và chi ngân sách, cân đối giữa xuất khẩu và nhập khẩu,
rộng hơn là cân đối trong cán cân thanh toán.
Cân đối giữa tiết kiệm và đầu tư
Tiết kiệm ròng của Việt Nam đang ở mức âm rất lớn. Thực ra Việt Nam không phải là nước
có tỷ lệ tiết kiệm thấp, theo Viện Khoa học Xã hội Việt Nam – VASS (2011), tỷ lệ tiết kiệm của
Việt Nam còn cao hơn mức trung bình chung của các nước có thu nhập thấp (khoảng 21%), các
nước có thu nhập trung bình thấp (khoảng 23%) và bình quân chung của thế giới (khoảng 25%).
Thủ phạm chính là đầu tư nội địa ở mức quá cao.
Việt Nam đang duy trì tăng trưởng bằng cách dựa vào vốn đầu tư nhưng hiệu quả đầu tư
thiếu hiệu quả. Vì vậy, tổng đầu tư toàn xã hội liên tục tăng và duy trì ở mức cao để đạt mục tiêu
về tăng trưởng.
NHÓM 4 – LỚP ĐÊM 4 K 22 16

Tiết kiệm ròng nội địa bao gồm tiết kiệm ròng khu vực Chính phủ và tiết kiệm ròng khu vực
tư nhân (các hộ gia đình và doanh nghiệp - bao gồm cả DNNN). Thâm hụt ngân sách (tiết kiệm
ròng của Chính phủ mang dấu âm) ở mức cao và dai dẳng trong thời gian dài để phục vụ cho mô
hình tăng trưởng đã đóng góp lớn vào tỉ lệ tiết kiệm nội địa thấp.
Tuy nhiên, đóng vai trò quan trọng không kém, và được “hỗ trợ” từ chính sách vĩ mô và
những vấn đề nội tại của khu vực tài chính ngân hàng (cũng là hệ quả của mô hình tăng trưởng
và cấu trúc kinh tế), là chênh lệch đầu tư - tiết kiệm (tiết kiệm ròng âm) của khu vực tư nhân gia

Cụ thể là nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) thực hiện năm 2011 ước cao hơn mức
11 tỷ USD của năm 2010. Nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) giải ngân ước đạt 3,65
tỷ USD trong năm nay, cao hơn năm 2010 (2,94 tỷ USD).
NHÓM 4 – LỚP ĐÊM 4 K 22 17

Nguồn ngoại tệ thu được từ khách quốc tế có thể đạt khoảng 5,2 tỷ USD, cao hơn kỷ lục
4,45 tỷ USD của năm 2010. Lượng kiều hối ước đạt khoảng 9 tỷ USD, vượt kỷ lục 8,26 tỷ USD
của năm 2010. Bên cạnh đó, hồi giữa năm, lượng ngoại tệ mua được ở trong nước cũng đạt khá.
Thông qua thu chi ngân sách nhà nước
Tính theo nguồn thu, thu ngân sách chưa đa dạng và không vững chắc do hiệu quả kinh tế
chưa cao, tình trạng nợ đọng thuế còn lớn, chủ yếu thu từ dầu thô. Thu từ khối doanh nghiệp
quốc doanh không cao, số địa phương tự cân đối tài chính và đóng góp vào cho ngân sách trung
ương ít. Các sắc thuế như thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế giá trị gia tăng, thuế nhập khẩu
không còn thu nhiều như trước nên Việt Nam phải tìm kiếm nguồn thu khác để bảo đảm cân đối
ngân sách.
Chi đầu tư phát triển đang nổi lên thành vấn đề nhức nhối vì đầu tư thiếu tập trung, hiệu quả
đầu tư thấp. Chi đầu tư xây dựng cơ bản lãng phí ngay từ khâu thiết kế, lựa chọn dự án đẩu tư,
còn chú trọng đến số lượng mà chưa chú ý đến chất lượng nên hiệu quả đầu tư không cao. Ngoài
ra ngân sách còn chi cấp vốn lưu động, gia hạn nợ, đảo nợ… cho các doanh nghiệp nhà nước.
Chi trả lãi vay và nợ vay trong nước và ngoài nước mỗi năm một tăng là xu hướng đáng lo
ngại và làm thâm hụt ngân sách ngày càng trầm trọng. Khoản chi trả lãi tính trực tiếp trong chi
ngân sách, các khoản chi trả nợ gốc trong nước, chi trả nợ gốc vay ngoài nước thì lại được tài trợ
bằng khoản vay mới, điều này có thể gây nợ nần chồng chất trong tương lai.
Hiệu quả hoạt động của các khoản chi ngân sách còn hạn chế, chưa có một cơ chế cụ thể để
giám sát kết quả chi tiêu công cũng như thu nhập thông tin phản hồi, yếu kém về tính minh bạch
và tính chịu trách nhiệm, gây tham nhũng và lãng phí.
2.2.1.2 Khả năng trả nợ
Tại bản thảo nghiên cứu Nợ công Việt Nam - Quá khứ và Tương lai do Ủy ban Kinh tế Quốc
hội và Chương trình Phát triển Liên hợp quốc (UNDP) thực hiện có ghi nhận, số liệu ước tính
đến hết năm 2011, tổng nợ công của Việt Nam vào khoảng 58,7% GDP. Trong đó, nợ công nước

vực chính phủ là thấp nhất. Nợ thương mại nước ngoài của khu vực tư nhân chưa được khuyến
khích, chưa tương xứng với năng lực vay nợ của khu vực này trong giai đoạn hiện nay cũng như
trong tiến trình đổi mới kinh tế thời gian tới.
Điều đáng lo ngại là hiện nay Ngân hàng nhà nước vẫn chưa kiểm soát được khối lượng nợ
tư nhân trên thực tế do đó chưa đánh giá được tình hình sử dụng vốn vay nước ngoài của các
doanh nghiệp. Thực tế này chứa đựng những nguy cơ tiềm ẩn đến an toàn tài chính quốc gia Việt
Nam.
2.2.1.5 Hoạt động giám sát và duy trì thông tin nợ
Việt Nam chưa có hệ thống giám sát hoàn trả hiệu quả với đầy đủ các chi tiết giám sát và
chưa thực hiện đúng quy trình giám sát, vẫn chưa xây dựng một cơ sở dữ liệu nợ đầy đủ. Nếu
tình trạng yếu kém của hệ thống thông tin đặc biệt là thông tin nợ còn kéo dài chẳng những sẽ
gây khó khăn cho việc phân tích hiện trạng nợ và hoạch định chính sách mà còn làm giảm niềm
tin của nhà đầu tư do họ e ngại một chính sách tài chính thiếu minh bạch sẽ chứa đựng trong đó
nhiều rủi ro. Chính vì vậy, việc cải thiện hệ thống thông tin nợ là việc khá cấp bách.
2.2.2 Theo khía cạnh thể chế
2.2.2.1 Khung pháp lý của quản lý nợ
NHÓM 4 – LỚP ĐÊM 4 K 22 19

Những nghị định của chính phủ về quản lý vay và trả nợ nước ngoài như nghị định 58/CP
ngày 30/08/1993, nghị định 87/CP ngày 05/08/1997, nghị định 90/1998/NĐ-CP ngày
07/11/1998, nghị định 17/2001/NĐ-CP ngày 04/05/2001…nhưng khung pháp lý quản lý nợ vẫn
còn nhiều tồn tại.
Chưa có văn bản pháp quy quy định việc công bố thông tin về mục tiêu, chính sách quản lý
nợ, các văn bản thiếu tính nhất quán, khái niệm chưa phù hợp với thông lệ quốc tế, các giai đoạn
của chu kỳ vay mượn thì chưa có cơ sở pháp lý để điều chỉnh.
2.2.2.2 Thể chế quản lý nợ
Việt Nam chưa có một cơ quan chịu trách nhiệm tổng hợp, tiếp cận với hệ thống quản lý nợ
để thu thập những thông tin cần thiết từ các cơ quan khác nhau để báo cáo kịp thời và chính xác
tình hình nợ quốc gia. Sự phân công phối hợp và cung cấp thông tin giữa các bộ ngành chưa chặt
chẽ và rõ ràng. Hoạt động còn chồng chéo, chức năng quản lý nợ thì dàn trải cho nhiều cơ quan

- Thị trường trái phiếu trong nước còn phát triển hạn chế. Thực tế cho thấy tỷ lệ huy động
vốn thông qua trái phiếu còn thấp, chưa đáp ứng được nhu cầu phát triển kinh tế và tiềm
năng trong xã hội.
- Công tác huy động vốn ODA còn thụ động, nhiều khoản vay ODA còn gắn với những
ràng buộc làm tăng chi phí đầu vào. Nhiều dự án phải cùng lúc thực hiện hai hệ thống thủ
tục: một thủ tục giải quyết vấn đề nội bộ trong nước, một thủ tục với nhà tài trợ, gia tăng
chi phí chuẩn bị dự án, chi phí đầu tư do lạm phát trong thời gian bị kéo dài.
- Phân bổ vốn vay còn dàn trải, chủ trương huy động và sử dụng vốn cần gắn kết hơn với
ngưỡng an toàn nợ.
- Hiệu quả sử dụng vốn vay chưa cao, chưa được quản lý giám sát chặt chẽ.
- Các chỉ tiêu nợ trong tầm kiểm soát nhưng một số rủi ro thị trường cần được tính toán đo
lường chính xác hơn, rủi ro tín dụng chưa được phản ánh trong phí cho vay lại và phí bảo
lãnh của Chính phủ.
- Cơ chế cảnh báo sớm còn hạn chế.
- Quyền hạn quản lý của các cơ quan còn chồng chéo, năng lực cán bộ cần được cải thiện.
- Chính phủ chưa có chính sách đối với nợ công, có sự nhầm lẫn giữa chính sách và nguyên
tắc quản lý nợ. Chính sách nợ công là một trong những kim chỉ nam quan trọng để tăng
cường hiệu quả của quản lý nợ công, do đó cần được quy định cụ thể, nhất quán hơn.
- Chưa có quy định về chiến lược nợ dẫn đến chưa minh bạch được chủ trương và quan
điểm của Nhà nước đối với các nhà tài trợ và đối với hoạt động quản lý, sử dụng hiểu quả
nợ công.
- Nhầm lẫn giữa chức năng quản lý nhà nước và chức năng giám sát. Chức năng quản lý
nhà nước thể hiện bởi khả năng cho phép, cấm đoán, xử phạt. Chức năng giám sát là việc
đánh giá, phân tích và đưa ra khuyến nghị nên nó không cần mang yếu tố quản lý nhà
nước.
- Hoạt động quản lý nợ công ở địa phương không minh bạch, ngân sách địa phương được
phép ghi các khoản huy động vốn như là nguồn thu ngân sách chứ không phải là để bù
đắp bội chi ngân sách.
CHƯƠNG 3: CÁC BIỆN PHÁP QUẢN LÝ NỢ CÔNG Ở VIỆT NAM
3.1 Hoàn thiện pháp chế quản lý nợ công

năng giám sát số liệu và phân tích nợ, quản lý hành chính, nâng cao hiểu biết về pháp
luật, ứng dụng công nghệ tin học, sử dụng ngoại ngữ thành thạo , từ đó nâng cao lòng
yêu nghề, tạo động lực quản lý nợ nước ngoài hiệu quả, tránh được hiện tượng bòn rút,
hối lộ. Ngoài ra, Chính phủ nên tạo điều kiện cho cán bộ đi khảo sát, thực tập nghiệp vụ
để tiếp thu kinh nghiệm tại các nước có nhiều thành công trong công tác quản lý nợ nước
ngoài.
- Nâng cao tinh thần trách nhiệm của các cán bộ quản lý. Cần có một chế tài nghiêm khắc
với những cán bộ quản lý nợ công khi họ mắc những sai phạm. Tổ chức kiểm điểm và xử
lý nghiêm túc các sai phạm của tập thể và cá nhân có liên quan.
- Trang bị các công cụ, thiết bị hiện đại phục vụ công tác ghi chép nợ; tính toán chi phí và
rủi ro; đánh giá bền vững nợ; các công cụ theo dõi cập nhật thị trường. Hiện đại hóa quy
trình thu thập, tổng hợp, phân tích cơ cấu nợ để đáp ứng yêu cầu quản lý nợ tiên tiến. Xây
dựng những cơ chế phối hợp trong việc quản lý thông tin nợ quốc gia, tăng cường đầu tư
cung cấp đầy đủ những phương tiện, thiết bị nhằm phục vụ cho đội ngũ cán bộ hoàn
NHÓM 4 – LỚP ĐÊM 4 K 22 22

thành tốt nhiệm vụ, thường xuyên cập nhật các phương pháp thu thập, tổng hợp, phân tích
cơ cấu nợ một cách tiên tiến mang tính chính xác cao cũng như phù hợp với điều kiện đất
nước để có thể đưa ra những con số phản ánh đúng thực trạng của nợ nước ngoài cho các
cấp lãnh đạo có thể có những quyết định đúng đắn.
3.2 Đổi mới đầu tư công hướng tới mục tiêu bền vững tài khóa
Nâng cao hiệu quả huy động và sử dụng vốn vay
- Kiểm soát chặt chẽ tốc độ tăng và hiệu quả sử dụng nợ công, trên cơ sở kiểm soát thâm
hụt ngân sách hợp lý và có chiến lược cụ thể về huy động và sử dụng hiệu quả. Tiếp tục
nâng cao hiệu quả sử dụng vốn vay. Huy động, sử dụng vốn vay đáp ứng các mục tiêu và
nguyên tắc quản lý nợ; Vay cho ngân sách phải kiểm soát chặt chẽ đảm bảo bù đắp bội
chi ngân sách Nhà nước không quá 5% GDP; Rà soát danh mục dự án sử dụng vốn trái
phiếu Chính phủ, vay lại vốn vay nước ngoài và bảo lãnh; Nâng cao chất lượng công tác
thẩm định, đấu thầu; Tăng cường theo dõi, giám sát và dự báo thị trường. Tránh việc vay
nợ quá nhiều, đầu tư công quá lớn và quá dàn trải. Do vậy, đối với các dự án đầu tư dài

chí đánh giá hiệu quả chi NSNN cho các dự án đầu tư. Trên cơ sở đó thực hiện phân loại
các nhiệm vụ chi theo thứ tự ưu tiên gắn với các định hướng phát triển trong từng lĩnh
vực, từng vùng, miền. Xây dựng kế hoạch tài chính trung hạn và kế hoạch chi tiêu trung
hạn, bảo đảm việc phân bổ nguồn lực hàng năm định hướng vào các mục tiêu kinh tế - xã
hội trong trung và dài hạn, tăng cường tính tiên đoán, chủ động, tính hệ thống trong phân
bổ nguồn lực.
- Sửa đổi các quy chế về phân cấp đầu tư, quy định rõ về quyền quyết định đầu tư của từng
cấp gắn với quyền phân bổ nguồn lực và cân đối vốn. Thực hiện bảo đảm nguyên tắc chỉ
quyết định đầu tư khi dự án có đủ thủ tục theo quy định, xác định rõ nguồn vốn và khả
năng cân đối nguồn vốn ở từng cấp ngân sách. Nghiên cứu hình thành cơ chế mở cho tất
cả các địa phương trong thu hút các nguồn lực cho phát triển phù hợp với quy hoạch,
năng lực cũng như đặc điểm của từng địa phương cùng với việc hoàn thiện các các cơ chế
giám sát, bảo đảm sự phù hợp trong định hướng phát triển của địa phương với định hướng
phát triển của từng vùng, miền.
- Thực hiện tái cấu trúc doanh nghiệp nhà nước. Thực hiện tái cấu trúc các tập đoàn, tổng
công ty nhà nước, định vị lại vai trò của khu vực này trong nền kinh tế, xác định rõ vai trò
chủ sở hữu của nhà nước, lành mạnh hóa năng lực tài chính của các DNNN, qua đó góp
phần lành mạnh hóa năng lực tài chính của nhà nước. Thực hiện đẩy nhanh quá trình cổ
phần hóa, giảm bớt số lượng doanh nghiệp mà Nhà nước cần nắm giữ cổ phần chi phối
trên cơ sở thực hiện rà soát lại ngành, nghề kinh doanh. Kiên quyết khắc phục tình trạng
các DNNN đầu tư ra các ngành mà không phải ngành nghề chính.
3.3 Nâng cao hiệu quả công tác quản lý nợ công, bảo đảm an toàn nợ công
Thiết lập ngưỡng an toàn nợ công, duy trì giới hạn nợ ở mức an toàn, đảm bảo an ninh
tài chính quốc gia
- Đảm bảo tính bền vững về quy mô và tốc độ tăng trưởng của nợ công, có khả năng thanh
toán trong nhiều tình huống khác nhau và hạn chế rủi ro, chi phí. Muốn vậy, cần thiết lập
ngưỡng an toàn nợ công; đồng thời thường xuyên đánh giá các rủi ro phát sinh từ các
khoản vay nợ Chính phủ trong mối liên hệ với GDP, thu ngân sách nhà nước, tổng kim
ngạch xuất khẩu, cán cân thương mại, dự trữ ngoại hối, dự trữ tài chính, quỹ tích lũy để
trả nợ…

có điều kiện thu hồi vốn , chú trọng biện pháp giảm chi phí vốn vay. Đảm bảo cân đối
giữa vốn vay và trả nợ, giữa huy động vốn vay nước ngoài với vốn vay trong nước (vốn
vay trong nước dưới hình thức phát hành trái phiếu chính phủ, công trái quốc gia, tín
phiếu kho bạc và vay nợ nước ngoài dưới hình thức ODA, vay thương mại, phát hành trái
phiếu chính phủ trên thị trường quốc tế). Về lâu dài, điều chỉnh cơ cấu dư nợ của Chính
phủ theo hướng giảm dần sự phụ thuộc vào vay nợ nước ngoài, tăng tỷ lệ nợ trong nước,
khuyến khích tiết kiệm và đầu tư nhiều hơn.
- Nâng cao hiệu quả công tác quản lý nợ công, duy trì các chỉ số nợ công trong giới hạn an
toàn. Cụ thể là xây dựng và thực hiện Chiến lược quản lý nợ, trong đó nêu rõ mục đích,
công cụ và phạm vi hoạt động cũng như các quan điểm dài hạn trong quản lý nợ. Đồng
thời, kiểm tra, giám sát chặt chẽ việc thực hiện Chiến lược, chấp hành các chính sách
quản lý nợ, bao gồm cả việc xây dựng các hạn mức về nợ và giám sát việc tuân thủ các
hạn mức đã đặt ra. Chú trọng công tác quản lý rủi ro đối với danh mục nợ, bao gồm rủi ro
về đồng tiền vay, lãi suất, tỷ giá, khả năng thanh toán và hoạt động. Tiến hành phân tích
bền vững nợ để hình thành các đối sách phù hợp. Đa dạng hóa các công cụ quản lý nợ
trong nước thông qua việc tiếp tục phát triển thị trường thứ cấp nhằm, tăng cường khả
năng tự quản lý rủi ro thông qua các nghiệp vụ phái sinh. Xác định phạm vi quản lý và
cách thức ứng xử rõ ràng đối với các khoản nghĩa vụ nợ công dự phòng cũng như giám
sát được các khoản nợ tự vay tự trả của khu vực tư nhân và các khoản nợ ngắn hạn. Đổi
mới tổ chức quản lý nợ theo hướng hiện đại và từng bước củng cố và phát huy vai trò cơ
NHÓM 4 – LỚP ĐÊM 4 K 22 25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status