ẢNH HƯỞNG CỦA PHẬT GIÁO ĐẾN ĐỜI SỐNG
VĂN HÓA VÙNG QUẢNG NAM
Thích Nữ Chúc Kim
DẪN NHẬP
Dân tộc Việt Nam, một dân tộc luôn đề cao tinh thần đoàn kết bền chặt, luôn tạo
nên một sức mạnh có thể vượt qua tất cả những thử thách chông gai, những nỗi áp bức
nặng nề. Lịch sử đất nước ta đã trải qua biết bao thăng trầm, khi cam chịu nô lệ, lúc độc
lập tự chủ, khi thống nhất một dải, lúc phân đôi sơn hà. Qua đó, lịch sử cũng đã để lại
những trang sử oanh liệt, hào hùng cũng như những đêm dài đen tối nô lệ hàng thế kỷ. Do
đó, con người Việt Nam vừa có tinh thần độc lập, tự cường rất cao, với tinh thần đoàn kết
gắn bó keo sơn nên đã giành lại đất nước, đánh tan quân xâm lược ra khỏi bờ cõi.
Như chúng ta được biết, nước ta nằm trong khu vực thuở xa xưa đã có một nền văn
minh cổ đại vững chắc, đỉnh cao là văn hóa Đông Sơn đã đủ sức tạo nên một cốt lõi có sức
hấp thụ, thích nghi, chuyển hóa du nhập về sau một cách nhuần nhuyễn. Đành rằng hai ba
ngàn năm phải nằm ở một miền ngoại vi của nhiều nền văn minh, đành rằng chưa tự tạo
nên một hệ thống triết học, một ý thức hệ tôn giáo, dân tộc Việt Nam đã có thể kết hợp
những yếu tố tôn giáo nội sinh với những yếu tố kế thừa của văn minh Trung Quốc, Ấn Độ
và gần đây của Châu Âu để tạo nên một bộ mặt tôn giáo tín ngưỡng Việt Nam thống nhất
và đa dạng.
Như vậy, Việt Nam một quốc gia đa dân tộc, đa văn hóa, trong đó Phật giáo là một
tôn giáo lớn đã du nhập vào Việt Nam từ rất lâu. Rất nhiều nhà nghiên cứu, nhà khoa học
hiện nay cho rằng Phật giáo du nhập vào Việt Nam từ trước công nguyên. Mặc khác, Phật
giáo đã thấm sâu vào nền văn minh Việt Nam (văn hóa vật chất, văn hóa tinh thần tâm linh
và văn hóa xã hội) và nền văn minh Việt Nam đã dung hóa (bản địa hóa) trở thành một bản
chất và bản sắc dân tộc, phù hợp với đời sống và tâm hồn người Việt Nam.
Phật giáo truyền vào Việt Nam, đã hội nhập vào cuộc sống của con người, đã xóa
tan mọi khoảng cách giữa người và thần thánh. Con người Việt Nam thường sợ thần, sợ
thánh, sợ ma, sợ quỷ. Nhưng với Bụt thì không hề có một ý niệm sợ hãi, bởi vì Bụt hiền
lành, bởi ông Bụt tuy có quyền năng vô hạn như có thể thấy trong truyện Tấm Cám luôn
giúp cho người hiền lành, không hề có ý niệm trừng phạt ai. Và trong công cuộc xây dựng
Vấn đề nghiên cứu Phật giáo trên thế giới cũng như ở Việt Nam đã có nhiều nhà
khoa học nghiên cứu và những tác phẩm liên hệ đến Phật giáo đáng chú ý của các tác
giả:Hòa thượng Thích Minh Châu, Hòa thượng Thích Thiện Siêu, Hòa thượng Thích
Thanh Kiểm, Hòa thượng Thích Mật Thể, Hòa thượng Thích Thanh Từ, Hòa thượng Thích
Trí Quảng, các nhà nghiên cứu Lê Đình Thám, Trần Trọng Kim, Nguyễn Đăng Thục, Lê
Mạnh Thát, Hà Văn Tấn, TS Trần Hồng Liên, TS Phan Lạc Tuyên, GS Minh Chi, GS Trần
Tuấn Mẫn cùng một số nhà nghiên cứu nước ngoài và các công trình của viện nghiên cứu
Phật học.
3. Phương pháp và phương pháp luận:
Dùng để viết luận văn này là phương pháp luận khoa học lịch sử, những quan điểm
của Ban Tôn Giáo chính phủ cũng như những chính sách đường lối của Đảng và Nhà nước
đã ghi trong bản pháp chế luật về Tôn giáo của quốc hội ban hành năm 2004. Người viết sử
dụng phương pháp so sánh, đối chiếu, đi điền dã và khai thác những tư liệu của các sách
nghiên cứu.
4.Vấn đề thực hiện:
Việc thực hiện luận văn đúng theo quy định của Học viện Phật giáo Việt nam tại
Thành phố Hồ Chí Minh, dưới sự hướng dẫn của GSTS Phan Lạc Tuyên, Giáo viên thỉnh
giảng bộ môn Văn Minh Việt Nam tại Học viện mà người viết đã được học. Khi cần thiết,
người viết sẽ thỉnh giáo quý Thượng Tọa tại Học Viện.
NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: SƠ LƯỢC VỀ QUẢNG NAM ĐÀ NẴNG
1.1.Khái quát về địa lí nhân văn và sinh thái vùng Quảng Nam Đà Nẵng:
Sinh thái là sự tổng hợp của thiên nhiên, vũ trụ, thời tiết, gió mùa. Cái rộng lớn của
biển cả, của núi rừng đã che chở cho vùng đất Quảng Nam một địa thế hùng vĩ. Sách Đại
Nam Nhất Thống Chí có ghi: “địa hạt tỉnh, phía đông có biển bao vòng, phía tây có núi
che chở phía Nam liền tỉnh Quảng Ngãi, rừng Trí Bình giới hạn cõi bờ, phía Bắc hướng về
Kinh Đô, cửa Hải Vân chen chỗ xung yếu. Núi cao thì có núi Tào, Núi Ấn, Núi Chủ, Núi
Ngũ Hành Sơn. Sông lớn thì có Sông Chợ Củi (sài thị), Sông Cẩm Lệ và Sông Bến Ván
(Bản Tân), ải sông hiểm trở, lao đảo xây quanh, đồng nội rộng bằng, dân cư đông đúc.
Đông thì biển rộng thênh thang
Đất đai trăm dặm rành rành như ghi” [4,15]
Ngày nay, với sự chuyển mình theo sự phát triển của cả nước, vùng đất Quảng
Nam Đà Nẵng đã tách ra hai tỉnh thành là Thành phố Đà Nẵng và tỉnh Quảng Nam riêng
biệt. Tuy thế hai tỉnh này cũng vẫn gắn bó với nhau bởi những điều kiện thiên nhiên, bởi
những bờ biển chạy dài đến vô tận.
Tóm lại, vùng sinh thái Quảng Nam Đà Nẵng ảnh hưởng rất lớn đến đời sống con
người. Với những khắc nghiệt của khí hậu, những trận bảo lụt, những tai họa của thiên
nhiên đã làm cho con người của vùng đất này có một sức chịu đựng, một sự đoàn kết để
chống chọi lại với những thiên tai hạn hán. Vì thế trong cuộc sống, con người phải nỗ lực
làm việc, chịu đựng mọi hoàn cảnh bất trắc có thể xảy đến bất cứ lúc nào nên họ ít khi
ngừng nghỉ. Sách Đại Nam Nhất Thống Chí có ghi: “đàn ông thì lo cày ruộng, đàn bà
chăm lo nuôi tằm, dệt lụa. Núi sông hùng vĩ, nên con người tư chất thông minh, kẻ sĩ có
lòng trung trực, lời nói ngay thẳng. Tuy thế đất thì xấu, sông núi thì chảy xiết nên tính
người hay nóng nảy, ít trầm tĩnh, chỉ những người học vấn uyên thâm mới không bị phong
khí ràng buộc, việc qua lại thường xuyên, tình giao kết như ngày xưa và đều đặn, liên lạc,
cúng tế bằng xướng ca. Đất thì xấu phong tục tiết kiệm, nhưng thật thà chất phác, phong
thổ tất cả đều là như thế”.
1.2. Bối cảnh lịch sử và địa lí nhân văn:
Xét về lịch sử, tỉnh Quảng Nam được các lưu dân miền Bắc (Thanh, Nghệ, Tĩnh)
vào khai phá lập nghiệp tạo thành. So với các tỉnh Nam Trung Bộ trở vào, thì Quảng Nam
là đất nước Vua Lê chúa Nguyễn chú ý nhiều trong việc mở mang bờ cõi, cũng như phòng
thủ kinh đô.
Ngược dòng thời gian thì Quảng Nam là quận Nhật Nam đời Hán, bị nước Lâm Ấp
(chiêm thành) nhà Nhuận Hồ đánh lấy được động Chiêm, động Cổ Lũy, chia đặt thành
bốn châu Thăng, Hoa, Tư, Nghĩa. Đặt các chức Thăng, Hoa, An Lộ Phủ Sứ để cai trị, lại
di dân đến ở. Như vậy, phần đất này tương đối mới của nước Đại Việt, vừa mới khai
khẩn, dân cư mới đến lập nghiệp.
Quảng Nam, một quê hương từng là bãi chiến trường của các lực lượng giao tranh
trong nhiều tháng năm, và cũng là nơi nghĩ chân của những lưu dân về miền Nam trong
từ năm 1602-1613, sau khi kế nghiệp chúa Tiên rồi chúa Nguyễn Phước Nguyên trao dinh
Quảng Nam lại cho thái tử Phước Kỳ, tiếp theo là Phước Lan… cho đến thế kỷ thứ XVIII
khi vương quyền chúa Nguyễn tan rã mới chấm dứt.
Năm Tân Dậu (1801) cũng gọi là Quảng Nam Dinh đến năm 1806 Vua Gia Long
đổi là Trực Lệ Quảng Nam dinh thuộc kinh sư, và đến năm 1832 đời Vua Minh Mạng thứ
13 đổi thành tỉnh Quảng Nam.
Mặc dầu trải qua bao lớp sống phế hưng, hai xứ Thuận Quảng nhân dân vẫn sung
túc thanh bình.Với đất nước đó, chẳng bao lâu sau Nguyễn Hoàng (1558-1613) vào trấn
thủ Thuận Hóa kiêm lãnh trấn Quảng Nam. Kể từ đó, tiền nhân ta đã lật sang một trang sử
mới cho bức dư đồ Đại Việt và Quảng Nam trở thành một đơn vị hành chánh lớn của tổ
quốc.
“Lịch sử mở đất phương nam của dân tộc là một quá trình dựng nước và giữ nước
khởi đi từ buổi bình minh mở cõi của dân ta. Quá trình đó đã phát triển trong trường kỳ
lịch sư ũdân tộc qua đời Lê – Trịnh – Nguyễn và cuối cùng là triều đại nhà Nguyễn (1802
– 1945). Trong chiều dài lịch sử dựng nước và mở nước, nhân dân ta đã đỗ biết bao mồ
hôi, nước mắt và không ít máu đào mới có một biên cương rộng lớn như ngày hôm nay.
Biên cương ấy duỗi dài vào Nam, ra biển đông, khởi nguyên từ đời nhà Hồ (1400 – 1407),
qua Vua Lê chúa Nguyễn (1558 – 1788), triều Nguyễn (1809 – 1945) tiền nhân ta đã vạch
lau lách, rừng bụi, núi non, bùn lầy để vươn dài lãnh thổ vào Nam, vượt trùng dương sống
lớn đến quần đảo Hoàng Sa, Cù Lao Chàm … làm thành trì bảo vệ đất nước”. [28,31]
Sách Lịch Sử Việt Nam của Đào Duy Anh có ghi: “muốn gây cơ sở kinh tế cho
công cuộc cát cứ, vì đất Thuận Quảng hẹp quá, chúa Nguyễn cần phải mở mang thêm bờ
cõi. Bởi vậy chúa Nguyễn lại tiếp tục công cuộc Nam tiến của các triều Lý – Trần – Lê và
ngay buổi đầu Nguyễn Hoàng đã lấn đất của Chiêm Thành đến Đại lãnh.
Chúa Nguyễn Hoàng vào trấn thủ Thuận Hóa, sau kiêm lãnh xứ Quảng Nam, mà
đất cực nam của Quảng Nam là huyện Tuy Viễn, thuộc phủ Hoài Nhơn tức là phủ Tuy
Phước, tỉnh Bình Định ngày nay. Bên kia đèo Cù Mông là nước Chiêm Thành.
Năm Tân Hợi (1611) chúa Nguyễn sai chủ sự là Văn Phong đem quân vào đánh
Chiêm Thành, lấy đất bên kia đèo Cù Mông đến núi Thạch Bi đặt làm Phú Yên gồm hai
huyện Đồng Xuân và Tuy Hòa cho Văn Phong làm lưu thủ. Đó là bước Nam Tiến đầu tiên
buôn nước ngoài đều đến buôn bán, trao đổi phải giá. Quân lệnh nghiêm cẩn, mọi người
đều ra sức… từ đó, nhà Mạc không dám dòm ngó, trong cõi được yên ổn làm ăn”.
Qua những sự kiện đã nêu trên, chúng ta thấy được rằng vùng đất Quảng Nam đã
được các vua chúa triều Nguyễn mở mang thêm rộng lớn. Đồng thời có một sự kiện quan
trọng khác đó là Vua Trần Anh Tông gả em gái là Công Chúa Huyền Trân cho vua Chế
Mân, vua Chế Mân dâng hai châu là Châu Ô và Châu Lý làm sính lễ, vì vậy vùng đất
Quảng Nam được mở rộng. Theo Khâm Định Việt Sử thì Châu Lý là các huyện Phú
Vang, Phú Lộc (tỉnh thừa thiên) và các huyện Diên Phước, Hòa Vang (tỉnh Quảng Nam).
Như vậy vùng đất Quảng Nam này có sự đóng góp của công chúa Huyền Trân. Ngày nay
vùng đất này theo sự chuyển biến của xã hội đã thay da đổi thịt, trở thành một thành phố
lớn thứ ba của đất nước.
Khi nói đến nhân văn là đề cập đến con người. Vùng đất này là vùng đất đầu
Nam Tiến của Việt Nam, tập trung tất cả những sự kiên cường, là vùng địa lý nhân kiệt.
Lịch sử Việt Nam mấy thế kỷ qua đã chứng minh đất QuảngNam đã hun đúc và sản sinh
ra nhiều nhà yêu nước, những chiến sĩ cách mạng. Ngay từ khi đặt chân đến nước ta,
Quảng Nam trở thành một căn cứ vững chải để tụ họp các phong trào chống Pháp và cũng
là nơi cung cấp những người con ưu tú nhất để hiến dâng đời mình cho đất nước như:
Hoàng Diệu: Liệt sĩ danh tướng tự là Quang Viễn hiệu Tĩnh Trai, quê làng Xuân
Đài, huyện Diên Phước, tỉnh Quảng Nam.
Phan Chu Trinh (1872 – 1926): Chí sĩ, là danh sĩ sinh ngày 9 – 9 – 1872 tự là Tử
Cáo, hiệu Tây Hồ, biệt hiệu là Hi Mã, quê làng Tây Lộc, huyện Tiên Phước, phủ Tam Kỳ,
tỉnh Quảng Nam.
Trần Cao Vân (1866 -1916): Liệt sĩ, nhà yêu nước, lãnh tụ cuộc khởi nghĩa Duy
Tân, quê làng Tư Phú, tông Đa Hòa, phủ Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam.
Huỳnh Thúc Kháng (1876 – 1947): Chí sĩ, danh sĩ, sinh vào khoảng tháng 11 năm
1876. Ông họ Huỳnh, tiểu danh là Thước, trước gọi là Hanh sau đổi là Thúc Kháng tự là
Giới sanh, hiệu là Minh Viên. Quê làng Thạch Bình, tổng Tiên Giang thượng, huyện
Tiên Phước, phủ Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam.
Lê Đình Thám (1877 -1969): Bác sĩ, cư sĩ Phật giáo, nhà hoạt động hòa bình, pháp
danh Tâm Minh, quê làng Đông Mĩ, tổng Phú Khương, phủ Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam.
1.3. Phật giáo trong quá trình lịch sử ở Quảng Nam Đà Nẵng hiện nay:
Các chúa Nguyễn ngoài việc bảo vệ và mở mang Đàng Trong thì hầu hết đều là
những người phật tử mộ đạo, hộ trì cho Phật giáo phát triển ở Đàng Trong, chăm lo xây
dựng, trùng tu Chùa chiền luôn tạo điều kiện thuận lợi cho chư tăng tu học yên ổn. Từ đó
những di tích thắng cảnh của Phật giáo được phát triển và những di sản văn hóa, những
khu du lịch sinh thái từ đó mà được khai thác và phát triển cho đến ngày nay.
1.3.1. Phố Cổ Hội An: Phố cổ Hội An trước đây đã từng là thị xã và tỉnh lị của tỉnh
Quảng Nam dưới thời Pháp thuộc (1898) và cũng là thị xã và tỉnh lị của tỉnh Quảng Nam –
Đà Nẵng trong thời kỳ độc lập (1945) và sau đó là thị xã tương đương cấp huyện của tỉnh
Quảng Nam – Đà Nẵng sau khi miền nam được giải phóng (1975) và của tỉnh Quảng Nam
sau khi chia tách tỉnh (1996).
Vào đầu thế kỷ thứ XIV, vùng đất thị xã Hội An ngày nay còn thuộc đất Lâm Ấp
phố, một thương cảng nằm bên bờ sông chợ cũi (về sau được gọi là sông Thu Bồn), gần
với biển hải khẩu Đại Chiêm (cửa đại ngày nay).
Sau khi vua ChămPa Chế mân dâng tiến hai Châu Ô, Châu Lý cho nhà Trần làm lễ
vật nạp trưng để xin cưới công chúa Huyền Trân con gái thái thượng hoàng Trần Nhân
Tông vào giữa năm 1306, vùng Đại Chiêm Lâm Ấp Phố đã nằm trong lãnh thổ Đại Việt.
Năm 1037 Vua Trần Anh Tông đã đặt tên cho hai châu mới đó là Thuận châu và
Hóa châu. Hóa châu có huyện cực Nam là Điện Bàn thuộc phủ Triệu Phong mà ở đó có
Lâm Ấp Phố, về sau địa danh Hội An mà người phương tây gọi là Faifoo đã thay thế cho
Lâm Ấp Phố. Sau khi thuộc lãnh thổ Đại Việt, Hội An đã trở thành một đô thị thương cảng
nổi tiếng ở Đàng Trong, quan hệ với đường hàng hải quốc tế từ phương tây sang phương
đông, một trung tâm trung chuyển của con đương tơ lụa và gốm sứ xuyên đại dương trong
những thế kỷ XVI – XVIII.
“Theo các nhà nghiên cứu, Hội An có nhiều tên gọi khác nhau trong lịch sử như :
Hoài Phố, Hai Bô, Hổ Bi, Hai Phố, Cổ Trai, Cổ Tam”. [34,7]
Sách Kể Chuyện Đất Việt của Nguyễn Khắc Viện cũng đề cập đến những tên gọi
khác nhau như : Hội Phố, Hoài Phố, Hải Phố, Hoa Phố.
Theo Sách “Ô Châu Cận Lục” do Nguyễn Văn An nhuận sắc và được in dưới thời
Nam Bắc triều (1527 – 1592) vào năm 1553 đã cho thấy vào thời kỳ đó, huyện Điện Bàn
qua việc quan hệ ngoại giao và buôn bán với người nước ngoài để mua sắm những vũ khí,
đạn dược v.v… nhằm chuẩn bị cho việc chiến đấu lâu dài.
Ở phía Nam, các chúa Nguyễn đã tỏ ra cởi mở hơn trong việc quan hệ chính trị và
thương mại đối với người nước ngoài nhằm tăng cường tiềm lực kinh tế và xã hội, tạo
nên được một sức mạnh quân sự đương đầu với chúa Trịnh ở phía Bắc. Vì vậy các tàu
thuyền buôn bán của các nước Đông Nam Châu Á đã đến buôn bán ở Hội An.
Những gười đến buôn bán đầu tiên tại Hội An là người Nhật Bản. Có thể từ năm
1598, một số thương gia Nhật Bản đã đến Hội An và xin phép chúa Nguyễn lập phố và
dựng Chùa. Họ cũng là người lưu trú đầu tiên sống ở Hội An và đã xây dựng ở phía Đông
cảng thị này. Ở cuối phố của họ ở phía Tây, người Nhật đã xây dựng một chiếc cầu Nhật
Bản hay Viễn Lai Kiều, nhưng đối với người dân địa phương thì họ vẫn gọi bằng cái tên
thân mật, dân dã “Chùa Cầu”. Thật khó có thể tưởng tượng nếu Hội An không còn Chùa
Cầu. Nó nằm trong tiềm thức của mọi người như vị trí Hồ Gươm của Hà Nội, cầu Tràng
Tiền của Huế … ca dao địa phương có câu:
Ai xa Phố Nội, Chùa Cầu
Để thương, để nhớ, để sầu cho ai
Để sầu cho khách vãng lai
Để thương, để nhớ cho ai chịu sầu. [24,103]
“Vị trí cây cầu này nối con đường cầu Nhật Bản (sau đổi tên Cường Để và nay là
Trần Phú) và Duy Tân nay đổi Nguyễn thị Minh Khai) được xây dựng vào khoảng thế kỷ
XVII và được trùng tu vào khoảng năm 1763, 1817, 1875, và 1917. Ta hãy đọc lại văn
bia ghi việc trùng tu cầu do “Đinh Tường Phủ, Bá Tước Đình Khê, Đốc hộc Trực Lê,
dinh Quảng Nam” soạn dưới đời Gia Long, năm 1817”. [24,104]
Người Nhật Bản bán ở Hội An những mặt hàng dùng để chế tạo vũ khí và đạn
dược như Đồng, Sắt, Diêm Tiêu, Lưu Huỳnh, các mặt hàng Mỹ phẩm như Nhung, Gấm
các mặt hàng tạp hóa chế tạo theo kiểu Nhật.
Bên cạnh đó, người Hoa là người thứ hai đến buôn bán tại Hội An, họ đến sau
người Nhật khoảng hai mươi năm. Có thể trước năm 1618, họ được phép của chúa
Nguyễn xây dựng phố khách ở bên kia cầu Nhật Bản. Tuy nhiên, trước khi phố Nhật thiết
lập ở Hội An cũng đã có những thương nhân người Hoa đến buôn bán. Họ bán những
Khoảng năm năm sau, cảng thị Hội An dần dần hồi sinh, hoạt động thương mại
được phục hồi nhưng không đạt được như mức độ trước đây. Người Việt, người Minh
Hương và người Hoa đã xây dựng lại Hội An từ những đổ nát của khu phố cũ, họ xây dựng
những nhà cửa mới theo kiểu kiến trúc của họ và điều đó vô tình lại xóa đi mãi mãi các dấu
vết của phố Nhật trên cảng thị Hội An.
Một số nhà nghiên cứu cho rằng sau khi thống nhất nước Việt Nam, hoàng đế Gia
Long đã cảm thấy ý đồ bành trướng và xâm lược của các nước phương tây đối với các
nước Đông Nam Châu Á. Ấn Độ đã bị Anh chinh phục năm 1819, Philippin bị Tây Ban
Nha cai trị từ năm 1565, người Anh xâm chiếm Mianma năm 1826, người Hà Lan đã tiến
hành công cuộc thực dân ở Inđônêxia vào năm 1799, người Pháp đã có âm mưu toan xâm
chiếm Việt Nam. Vì vậy mà Vua Gia Long và những Vua kế vị Minh Mạng, Thiệu Trị, và
Tự Đức của Việt Nam đã thực hiện một chính sách đóng cửa không quan hệ với các nước
ngoài, nhất là các nước phương tây trừ Trung Hoa. Do đó, các thương thuyền nước ngoài
không đến hội An nữa, đó là lý do tiên quyết của sự suy thoái của cảng thị Hội An mà nó
đã bắt đầu từ cuối thế kỷũ XVIII trước khi các con đường giao thông, đường thủy dẫn tới
Hội An bị trở ngại. [34,33]
Về nghệ thuật kiến trúc của các di tích lịch sử ở đô thị cổ Hội An là sự hòa điệu của
các nghệ thuật Việt Nam, Trung Hoa và Nhật Bản. Đây là kết quả của một sự hỗn dung
văn hóa của các nước Đông Nam Châu Á và Viễn Đông.
“Kiến trúc hệ mái truyền thống Việt Nam của các di tích lịch sử ở đô thị Hội An
đều có độ dốc mái khá thống nhất với tỷ lệ 5/10 tức là 50%. Trong khi đó Chùa Cầu hay
Lai Viễn Kiều do người Nhật thiết kế trước đây và được các nghệ nhân Việt Nam thi công
lại có hệ mái với độ dốc khá nhỏ, gần như nằm ngang. Đó là một đặc điểm kiến trúc ít gặp
thấy ở các nước Đông Nam Châu Á nhưng phổ biến ở vùng Viễn Đông, điều đó làm cho di
tích cổ mang sắc thái kiến trúc Nhật Bản. Điều này đã làm cho không một ai có thể phủ
nhận được sự có mặt của nền văn hóa Nhật Bản đã cấy trồng ở Hội An trong quá khứ.
Song mái cầu Hội An đã kết hợp một cách hài hòa với những bộ phận khác còn lại của
công trình làm cho chiếc cầu mang một vẻ đẹp riêng nhưng gần gũi. Cấu trúc của bộ khung
và độ cong thoải mái của nền cầu bằng gỗ là điểm gặp gỡ giao duyên của hai nền nghệ
thuật, kiến trúc Việt Nam, Nhật Bản”. [34,41]
thể kiến trúc cổ kính tuyệt vời của nền văn hóa với phong cách một không hai và đô thị cổ
Hội An vẫn sống, vẫn duy trì sự tồn tại hiếm thấy của mình như một bảo tàng sống, vẫn
giữ gìn được bản sắc văn hóa độc đáo của mình, vẫn bảo tồn được các phong tục, tập quán
riêng biệt của mình qua bao thế hệ. Những ngôi nhà cổ sẽ giảm đi giá trị nếu như vắng
bóng các chủ nhân đang sống hằng ngày ở đó để giữ gìn chúng. Cuộc sống ở đây thiêng về
nội tâm, phảng phất nét trầm lắng. Sự ngưng đọng trong các đình chùa, các nhà thờ tộc, các
hội quán, các nhà hình ống, các đường phố nhỏ hẹp như gợi nhớ những quá khứ vàng son,
như lắng nghe tiếng nói của tiền nhân thầm thì trong các di tích, như ôm ấp bước chân
thăng trầm qua các thời đại. Đô thị của họ vẫn giữ được tính cách riêng biệt, lối sinh hoạt
lịch lãm, cách ứng xử ân tình của mình. Môi trường ở đây không bị chèn ép bởi các hoạt
động công nghiệp náo nhiệt, bởi các phương tiện giao thông ồn ào, bụi bặm mà được trả
về cái yên tĩnh, vỗ về cái êm đềm ấp ủ, cái lắng động trong chiều sâu tâm hồn để mà hoài
niệm, để mà suy ngẫm, để mà chiêm ngưỡng, để mà nhớ thương.
Hội An Phố Cổ êm đềm
Xa người ta nhớ ngày đêm hỡi người
Phố xưa ai nhớ nụ cười
Cho lòng rạo rực bóng người không nguôi
(thơ Nguyễn Phước Tương)
Ngay từ ngày xưa, giáo sĩ Cristoforo Borri đã từng đến Hội An nhiều lần từ 1618
cũng đã nhận thấy được bản chất tốt đẹp của người dân Hội An, người dân Đàng Trong
của Đại Việt, ông đã viết trong nhật ký của mình: “Bản năng tự nhiên của họ là tử tế, ưa
làm việc thiện, nhất là đối với người nghèo khi kêu gọi giúp đỡ, nếu từ chối họ sẽ bị coi là
thiếu bổn phận như pháp lệnh buộc họ phải làm như vậy. Người Hội An có sự hòa hợp
hoàn hảo, họ cư xử thân tình như anh em một nhà cả trước khi họ quen biết nhau” [34,50]
Một thương gia khó tính người Pháp Pierre Poivre đã từng đến Hội An và Huế từ
cuối năm 1794 đầu năm 1750 cũng đã từng nhận xét tương tự về người Hội An: “Người
Hội An dũng cảm, cần cù, bản tính giản dị, thẳng thắn, tôn trọng sự thật, họ nghèo, ít học
nhưng lịch thiệp, đặc biệt đối với người nước ngoài”. [34,50]
Ngày nay, khu phố cổ Hội An từng ngày đón một lượng khách du lịch đáng kể bởi
do giá trị văn hóa nghệ thuật của các di tích lịch sử, kết hợp với các hoạt động văn hóa độc
vào sông Thu Bồn. Nhưng sau này do quá đông đúc, nhiều tàu lớn tìm đường đi vòng vào
vịnh Đà Nẵng và từ đây Đà Nẵng đã trở thành một tiền cảng vào những thời kỳ sầm uất
nhất của Hội An.
Những năm cuối thế kỷ XVIII, khi nhà Tây Sơn đã toàn thắng và bình định đất
nước thì Đà Nẵng đã nổi lên như một đô thị quan trọng và náo nhiệt. Những người Anh khi
đến đây đã thấy trong các công quán có nhiều vải lụa, hàng hóa Châu Âu. Một nhân viên
trong sứ đoàn Anh Quốc trên đường đi Trung Hoa có ghé Đà Nẵng năm 1793 đã mô tả
vịnh Đà Nẵng là nơi mà người ta có thể cho thuyền chạy khắp bờ biển mà không gặp tai
nạn, đáy biển sâu từ 17-20 sải, vịnh Đà Nẵng xứng đáng mang danh là cảng lớn mà vững
chắc nhất được thấy (trong khu vực mà xứ đoàn đi qua). Nó rất sâu cho nên khi cần thiết
phải di chuyển các tàu bè vẫn yên ổn dù gió to bão lớn. Đáy biển đầy bùn nên neo rất bám.
[15,23]
Theo đà phát triển của xã hội, dưới sự chỉ đạo của Đảng và Nhà Nước, cùng với sự
lãnh đạo của các cấp Chính Quyền, với sự nhiệt tâm và đồng lòng của người dân Đà Nẵng
mà hôm nay Thành Phố Đà Nẵng đã thay da đổi thịt, đã vươn lên để bắt kịp với những
thành phố khác. Những con đường được mở rộng và khang trang, với hệ thống thắp sáng
thuận tiện, với sự mở rộng của thành phố đã làm thêm những chiếc cầu để thuận tiện cho
việc sinh hoạt của dân. Cầu Sông Hàn, một chiếc cầu đẹp nổi tiếng, có hệ thống trục quay,
đây là hệ thống trục quay đầu tiên tại Việt Nam. Chiếc cầu được bắt từ đường Trần Phú
qua đến đường Ngô Quyền, nối hai quận Hải Châu và Sơn Trà rất thuận lợi cho việc đi lại
buôn bán, sinh hoạt của người dân. Cầu Tuyên Sơn mới được thành lập nối quận Ngũ
Hành Sơn với quận Hải Châu làm cho sự đi lại và sinh hoạt của hai quận này càng gần
nhau hơn. Thêm nữa, một dự án đang được thi công đó là cầu Thuận Phước, được bắt từ
Quận Hải Châu qua đến cảng Tiên Sa, chiếc cầu này rất dài, quy mô lớn, hiện nay đang
được tiến hành đã được mấy trụ.
Nhà ở của dân được nhà nước di dời và đưa về thành những khu phố văn hóa rất
khang trang, ngay ngắn làm cho thành phố thêm đẹp hơn. Hiện nay thành phố Đà Nẵng
đang được công nhận là đô thị loại một. Nói chung người dân thành phố Đà Nẵng đang
trên đà hoàn thiện và thực hiện một nếp sống văn minh hơn.
Đà Nẵnghôm nay được sáng lên với những khu du lịch sinh thái, những bãi tắm
Tháng 4 -1997 sở du lịch Đà Nẵng trình dự án khác với số vốn đầu tư dự kiến gần
60 triệu USD .
Tháng 10 – 1997 Chủ Tịch Ủy Ban Nhân Dân Thành Phố chính thức ký quyết định
số 3754 phê duyệt dự án đầu tư tuyến đường lên khu nghỉ mát Bà Nà. Như vậy sau gần
100 năm được phát hiện, Bà Nà mới chính thức có chủ trương hoàn thiện từng bước cơ sở
hạ tầng tiến đến khai thái tiềm năng du lịch trọn vẹn nhất.
Tháng 9 -1998 chính thức khai trương khu du lịch này. Từ đây, đỉnh núi Bà Nà trở
thành khu du lịch thu hút một số lượng du khách khổng lồ từ mọi miền đất nước. Với một
địa hình bằng phẳng như một cao nguyên nhỏ, Bà Nà có những cánh rừng nguyên sinh đại
ngàn, hệ động thực vật phong phú đa dạng, là nơi nghỉ mát lý tưởng. Vào những lúc trời
quang mây tạnh, từ trên đỉnh núi du khách có thể phóng tầm nhìn bao quát cả một vùng
không gian rộng lớn. Thành phố Đà Nẵng, thấy từ chân đèo Hải Vân đến Bán Đảo Sơn
Trà, sông Thu Bồn uốn quanh ôm lấy những cánh đồng trù phú, những bãi biển Mỹ Khê,
Bắc MỹAn, Non Nước Ngũ Hành, tất cả cảnh thiên nhiên như một bức tranh sống động
hiếm nơi nào có được.
Trên đỉnh núi, được sự cho phép của Chủ Tịch Thành Phố, được sự ủng hộ của các
cấp chính quyền mà Thượng Toạ Thích Thiện Nguyện đã khai sơn một ngôi chùa tại khu
du lịch này, với tên gọi là Chùa Linh Ứng Bà Nà, thu hút rất nhiều khách thập phương vào
lễ Phật, viếng chùa, tạo điều kiện cho tôn giáo được truyền bá rộng rãi, ấy là nhờ sự quan
tâm giúp đỡ của nhà nước.
Ngũ Hành Sơn Non Nước:
Cách thành phố Đà Nẵng khoảng 8km về phía Đông Nam, bên bờ biển Đông và
dòng sông Trường Giang. Năm ngọn núi cao ngạo nghễ đứng giữa trời mây, mỗi ngọn
một dáng vẻ rất ấn tượng. Núi gần biển và sông nên người dân thường gọi là Hòn Non
Nước (sẽ được trình bày ở phần sau)
Bán đảo Sơn Trà:
Tại Thành phố Đà Nẵng có một miền đất vừa rất gần và vừa rất xa, vừa thân quen
và vừa cách trở, đó là Bán Đảo Sơn Trà, một vùng đất thấp phủ kín vùng nguyên sinh nhô
hẳn ra ngoài biển. Đây là tấm lá chắn khổng lồ, là luồng phổi xanh của khu đô thị trung
tâm, đối diện bên kia là Hải Vân, hai vùng núi này quay vùng cửa Sông Hàn thành một
kiện cho Thượng tọa Thích Thiện Nguyện được khai sơn và đang thi công ngôi chùa mang
tên Linh Ứng Bãi Bụt tại khu du lịch này. Ngôi chùa Linh Ứng này là tên gọi thứ ba trong
thành phố Đà Nẵng đó là: Linh Ứng Non Nước, Linh Ứng Bà Nà và đây là Linh Ứng Bãi
Bụt. Như vậy Phật giáo tại thành phố Đà Nẵng cũng đang trên đà đi lên theo nhịp bước của
thành phố.
Đèo Hải Vân:
Cho đến ngày nay, tất cả các thành phố trên đất Việt Nam, chưa đâu có Khải Hoàn
Môn. Thế nhưng thành phố Đà Nẵng non trẻ từ mấy thế kỷ nay đã có cho mình một Khải
Hoàn Môn hùng vĩ trấn ngự ngay cửa ngõ đầu tiên bước vào thành phố Khải Hoàn Môn
bằng đá gạch cổ kính uy nghi này chính là Hải Vân Quan trên đỉnh đèo Hải Vân, nơi đã
được Vua Lê Thánh Tông đặt cho tuyệt danh là “ Thiên hạ đệ nhất hùng quan”. [15,61]
Đèo nằm sát cạnh thành phố Đà Nẵng, giúp cho thành phố biển giữa hai miền đất
nước này thêm vẽ kỳ quan ngoạn mục, đỉnh đèo xưa kia là một quan ải có đồn canh gác
giữ ranh giới hai nước Việt Nam và Chiêm Thành, nay còn di tích Hải Vân Quan và là ranh
giới giữa tỉnh Thừa Thiên Huế và Thành Phố Đà Nẵng.
Đèo Hải Vân có chiều dài khoảng 20 km, kéo dài từ địa phận Thừa Thiên Huế đến
Thành Phố Đà Nẵng. Đây là một bức tường thành thiên nhiên quan trọng ngăn các đợt gió
mạnh từ phương bắc tràn về. Vì vậy, các tỉnh từ Đà Nẵng, Quảng Nam trở vào hầu như
quanh năm ấm áp và không có mùa đông như các miền ở phía Bắc. Dãy núi này không chỉ
là ranh giới phân chia hành chánh mà nó còn là ranh giới phân chia hai vùng khí hậu khác
hẳn nhau ở Việt Nam. Vì vậy Tản Đà có viết:
“Hải Vân đèo lớn vừa qua
Mưa xuân ai bỗng đổi ra nắng hè”
Như vậy, Hải Vân là một bức bình phong thiên nhiên khổng lồ che chở cho Tthành
phố Đà Nẵng nằm ngay dưới chân mình. Ngăn che những luồng gió mùa đông bắc mang
cái rét thổi vào đồng ruộng và những đợt gió lào thổi sang. Vì vậy, đèo Hải Vân đã giữ
cho Đà Nẵng được yên lành, một cuộc sống êm đềm ít bị bão lụt.
Trong thời kháng chiến chống pháp của nhân dân ta, quân Pháp rất lo ngại đường
đèo này vì thường bị tấn công bất ngờ mà lần nào cũng bị tiêu hao lớn, thiệt hại nặng nề.
Người dân Quảng Đà có câu:
Đổng Chi thì đây là năm ngón tay của Đức Phật đè lên mình Tề thiên đại thánh tương tự
như trong truyện Tây Du Ký của nhà văn Ngô Thừa Ân. Năm ngón tay ấy là năm ngọn là:
Kim Sơn, Mộc Sơn, Thủy Sơn, Hỏa Sơn, Thổ Sơn. Còn tại Quảng Nam thì người ta lại cho
rằng: ngày xưa Thần Kim Quy rẽ sóng biển đông vào đây đẻ một quả trứng rồng. Về sau,
có năm mảnh trứng rồng nứt ra, lớn mãi thành năm ngọn như ta đã biết”. [24,70]
Quần thể này còn có nhiều tên khác là: Ngũ Uẩn Sơn, Ngũ Chỉ Sơn. Khoảng đầu
thế kỷ XIX là Ngũ Hành Sơn và tồn tại cho đến ngày nay. Năm 1837 lần thứ ba vua Minh
Mạng ngự du và nhận ra thế đứng của năm ngọn núi ở đây theo phương vị Ngũ Hành của
học thuyết Kinh Dịch Đông Phương nên đã đặt tên năm ngọn núi là: Kim, Mộc, Thủy,
Hỏa, Thổ Sơn và cho khắc tên vào núi. Trong số đó ngọn Thủy Sơn là đẹp nhất. Nhà vua
rất thích cảnh non nước hữu tình của Ngũ Hành Sơn nên đã cho xây hành cung tại núi
Thủy Sơn.
Khi nói đến núi non thì đâu đâu cũng có non núi cả, nhưng Ngũ Hành Sơn có một
đặc tính cho lịch sử đất nước Việt Nam nói chung và Quảng Nam Đà Nẵng nói riêng, là
lịch sử hùng vĩ của đất Việt và người Việt. Tạo hóa đã giảng bày đâu đâu cũng có núi đá,
các hiện tượng khắp trong trời đất, núi non muôn hình vạn trạng, nhưng Ngũ Hành Sơn là
nơi có nhiều hiện tượng kỳ quan tự nhiên, nó tiêu biểu cho sự huy hoàng của xứ sở và nhân
vật lỗi lạc oai hùng.
Vị trí của năm ngọn núi này được hình thành như sau:
Mộc Sơn: Nằm ở phía đông trên đường từ Đà Nẵng đi Hội An, sườn núi dựng
đứng, trong núi có hang động nhỏ, xưa kia là nơi trụ trì của bà sư ni, tục danh “Bà Trung”;
ngoài ra còn có một tảng cẩm thạch trắng tượng hình ấy có người gọi Phật Quan Thế Âm
tọa sơn, có người gọi là Cô Mụ. [24,73]
Kim Sơn: Nằm hướng tây bắc, nằm giữa Thổ Sơn và Hỏa Sơn, gần Sông Trường
Giang. Tại đây thời nhà Nguyễn có bến đò gọi là “Bến Ngự” vì trước đây nhà Vua Minh
Mạng thường neo thuyền tại đây lúc viếng Ngũ Hành Sơn. Vào khoảng năm 1950, dân địa
phương đã phát hiện ra một hang động dưới chân núi, đặt tên là động Quan Âm. Năm 1956
nhà sư Thích Pháp Nhãn đã mở rộng lối vào hang động và cho xây chùa Quan Âm bên
trong.
Thổ Sơn: Là ngọn núi thấp hơn so với những ngọn núi khác, cây cối thưa thớt có
có dạng hình tròn, trong động không có các cột thạch nhũ, vách động tạo nên những hình
tượng kỳ lạ thú vị, nơi thì trông giống như con hạc, con voi, nơi giống con kim quy, hình
người thượng cổ hoặc hình con công bay, hay hình chim đại bàng, màu sắc và hình ảnh
trong rất khó nhận định thật là huyền ảo giống như cái tên gọi của nó là “Huyền Không”.
Trong động này có một nơi kỳ dị là động thạch nhũ, người ta tương truyền ở đây có hai
mỏm đá thòng xuống tròn vo, từ khi có núi Ngũ Hành thì hai thạch nhũ này đã thường nhỏ
nuớc, khi khai thiên lập địa có non nước là có thạch nhũ. Thạch nhũ này mùa nắng cũng
như mùa mưa, nước thường xuyên nhỏ xuống, tương truyền trước đây ai đến cầu tự đều
lấy nước đó để uống thì sẽ được như mong muốn. Nhưng từ khi Vua Thành Thái sờ tay
vào thì một trong hai thạch nhũ không nhỏ nước nữa. Tóm lại, đây là hang động đẹp nhất
mà thiên nhiên đã tạo ra. Ngài Thích Đại Sán (Ngài Thạch Liêm) người Trung Hoa đến
đây năm ất hợi (1695) viếng thăm và ca ngợi rằng: Đây là động đẹp và sạch sẽ nhất trong
tất cả các động, giữa động có hai pho tượng người ta thường gọi là ông Thiện và ông Ác
đứng chóng kiếm uy nghi như để nhắc nhở con người về cái thiện cái ác, như để khuyên
con người sống một đời sống hoàn thiện, đem lại cho đời cuộc sống an lành hạnh phúc
hơn.
Động Tàng Chơn: Nằm sau chùa Linh Ứng, một cửa đá trên thềm lởm chởm
khoảng hai bước, mở ra một hành lang ngắn, những cây cối nho nhỏ mọc tựỉ do trong đất
được các tượng đá lồi lõm giữ lại đó là cửa bên phải; trong khi trên tường đá bên trái thấy
ghi tích từ xa xưa thời Minh Mạng “Tàng Chơn Động” (động của sự tỉnh tâm đích thực).
Nghe tên Tàng Chơn Động, người ta cũng nghĩ ngay ý nghĩa mà người xưa đã đặt cho nó
cái tên ngụ ý chứa đựng tất cả thiên nhiên chơn thật của vũ trụ, con nguời như là chứa tàng
trữ kho tàng chơn lý, chơn thật nên gọi là Tàng Chơn. Động này khó diễn tả vì tình thế
không phải là một, vào đến động người ta thấy một thung lũng chiều dài 10 thước, chiều
ngang bảy thước hình chữ nhật, hoàn toàn có ánh sáng mặt trời đầy đủ, thoáng đãng nhờ
thông lên trời qua cửa hang “Thiên Long Cốc”, giữa động có thờ Thái Thượng Lão Quân,
bên trái thờ Bát Bộ Kim Cang, bên phải thờ Thần Chiêm Thành. Ánh sáng trời xuyên qua
động càng làm tăng vẽ đẹp trong động. Khi nói Tàng Chơn Động là tên của một đông
chính, ngoài ra còn có năm động nhỏ là: Động Tam Thanh, Động Hang Gió, Động Chiêm
Thành (Hời), Động Bàn Cờ và Động Hang Ráy. Trong Động Tam Thanh trước đây người
khánh thành động có đặt bàn thờ. Từ đó mới có danh từ là động Di Đà hay Huyền Vi
Động. Ngoài ra tại Ngũ Hành Sơn còn có rất nhiều động như Động Hoa Nghiêm, Động
Quan Âm Động Âm Phủ, Động Vân Thông…
Tại Ngũ Hành Sơn, ngoài những thắng cảnh thiên nhiên hữu tình, những chùa
chiền, hang động thì chúng ta không thể không nói đến làng nghề chạm khắc đá. Tại đây,
đa số người dân sống quanh vùng này đều làm nghề khắc đá. Khi đến Ngũ Hành Sơn, hai
bên đường các cửa hàng nằm sát nhau. Với vô vàn các bức tượng khác nhau, các đồ vật,
phù điêu, mỹ nghệ bằng đá muôn màu muôn vẻ. Lùi sâu vào trong một chút là các khu nhà
xưởng ngổn ngang đá, ngổn ngang tượng đang làm dở với những người thợ đang lúi húi
đục khắc xung quanh. Rẽ lên một chút, bám vào chân núi là những khu vườn tượng khổng
lồ, tượng đứng, tượng nằm, tượng cổ, tượng hiện đại, điêu khắc Châu Âu, mang nét điêu
khắc mỹ thuật Ấn Độ và Trung Hoa muôn màu muôn vẽ chen vai thích cách, tượng la liệt
trên mặt đất, trên các hang động nhỏ ẩn vào vách đá với đủ loại đá trắng, đá đen, đá vân
đá hồng khiến cho người xem phải bối rối không biết nên bắt đầu ngắm nhìn từ đâu và sẽ
nhìn những gì. Đây là một làng nghề, là cả một dãy phố nghề luôn tưng bừng đón khách
tham quan du lịch và mua sắm quà lưu niệm.
Mặt hàng này không những thịnh hành khắp cả nước và mỗi ngày có hàng chục
container chở những kiệt tác này vượt đại dương đi đến khắp nơi trên thế giới. Không chịu
thỏa mãn với việc chỉ làm tượng theo mẫu, nhiều nghệ nhân trẻ đã say sưa sáng tác ra
những tác phẩm hiện đại thi thố với bạn bè năm châu. Đã và đang có những ý tưởng táo
bạo về các vườn tượng sáng tác có quy mô hoành tráng, đã có những dự định làm thay đổi
bộ mặt làng nghề nơi chân núi chờ đón du khách và các nhà điêu khắc Quốc Tế.
Những người dân sống dưới chân núi đã được hưởng nhiều phúc lộc của Ngũ
Hành Sơn. Thuở xưa núi cho cho đá để làm nghề, rồisau núi gọi du khách bốn phương đến
cho họ sống, cho họ phát triển. Bây giờ làng nghề có thể trả ơn Ngũ Hành Sơn khi họ làm
cho núi đẹp hơn, họ gọi khách du lịch đến với núi nhiều hơn. Tất cả là nhờ vào đất nước
ổn định hòa bình, nhờ vào du lịch quảng giao. Nói văn hoa ra thì ở Ngũ Hành Sơn lúc này
có cả thiên trời, địa lợi, nhân hòa. Bây giờ làng nghề tượng đá Ngũ Hành Sơn đã là một
phần tất yếu không thể thiếu được của Đà Nằng cả về kinh tế du lịch, cả về nghệ thuật và
văn hóa. Tương lai của làng còn rộng mở và đầy hứa hẹn, tên tuổi của làng này đã nghiểm
(43), tên Vua được ghi bằng chữ phạn đã chứng tỏ những ảnh hưởng của văn hóa Ấn Độ
đã để lại dấu ấn sâu đậm ở nước Chămpa vào thế kỷ thứ IV. Tôn giáo chính thống của vua
chúa Chămpa chủ yếu là thờ thần Siva và các thần Ấn Độ khác. Bhadravarman đã dựng
đền thờ Bhadresvara ở Mỹ Sơn và dâng cúng vùng đất này trở thành thánh địa của cả
vương quốc Chămpa cho vị thần tối thượng này.
“Dưới thời vua IndravarmanII (854 -893), đức Vua lập kinh đô lấy tên là Indrapura
(tỉnh Quảng Nam) khôi phục quan hệ tốt với Trung Quốc và trong triều đại này các nhà
sử học Trung Quốc bắt đầu gọi nó bằng cái tên thứ ba là Chang Cheng, có nghĩa là
thành phố của Chan, theo tiếng phạn là Champapuro. Đây là một triều đại thanh bình
nổi tiếng về cơ sở Phật giáo to lớn, một tu viện mà những dấu ấn đã được xác định ở Đông
Dương Đông Nam của Mỹ Sơn. Đây là bằng chứng đầu tiên về sự tồn tại của Phật giáo
đại thừa ở Chămpa”. [16-294]
Năm 972 Chămpa xuất hiện một vị Vua mới, theo các nhà khoa học vị Vua này có
tên là Paramesvaravarman, còn các sử liệu Việt Nam gọi là Phi Mê Thuế. Vị Vua này một
mặt thì duy trì quan hệ với triều đình Trung Quốc, mặt khác thì luôn có ý đồ lấn chiếm
Việt Nam. Khi vua Lê Đại Hành lên ngôi (982) sai sứ sang giao hiếu với Chiêm Thành và
đã bị người Chiêm Thành bắt giữ và chính Paramesvaravarman là vua Chămpa đầu tiên
gây sự bất hòa với Việt Nam.
Năm 988 một vị vua khác là Harivarman II lên ngôi (sử Việt Nam gọi là Cu Thi Lị
Ha Thân Bài – Ma – La) luôn giữ mối quan hệ tốt với nhà tiền Lê. Từ sau Harivarman II
tình hình triều chính Chămpa không yên nên không có tài liệu nào đề cập đến các vị vua
nối tiếp nhau. Cho đến năm 1050, chỉ có tài liệu Việt Nam cho biết ít nhiều về cuộc đụng
độ giữa hai nước vào thời nhà Lý. Để trừng phạt cho những lần vào cướp phá Đại Việt,
năm 1044 vua Lý Thái Tôn cầm quân chinh phạt Chiêm Thành và cứ như thế, trải qua
nhiều cuộc chiến tranh, trải qua nhiều thế kỷ, Mỹ Sơn cũng bị chi phối theo những bước
thăng trầm và hầu như đã bị bỏ quên suốt nhiều thế kỷ và chỉ biết trở lại vào cuối thế kỷ
thứ XIX .
Các di tích tại Mỹ Sơn lần đầu tiên được phát hiện cuối năm 1897 đầu năm 1898
do một nhà khoa học người Pháp tên là M.C Paris. Trước năm 1898 ông đã phát hiện và
công bố những phế tích Chămpa ở Trà Kiệu (tỉnh Quảng Nam). Trong khi nghiên cứu