tạp chí kinh tế đối ngoại đề tài NGHIÊN CỨU ỨNG DỤNG MẠNG XÃ HỘI FACEBOOK TRONG VIỆC HỖ TRỢ ĐỔI MỚI GIẢNG DẠY TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC - Pdf 28

NGHIÊN CỨU ỨNG DỤNG MẠNG XÃ HỘI FACEBOOK TRONG VIỆC HỖ TRỢ
ĐỔI MỚI GIẢNG DẠY TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC
ThS. Nguyễn Thị Tuyết Mai
[1]
TS. Nhâm Phong Tuân
[2]
TCKTĐN số 68
TÓM TẮT
Các trang web mạng xã hội trực tuyến phát triển mạnh và ảnh hưởng đến
cuộc sống của người sử dụng, đặc biệt là Facebook. Nó đã thâm nhập sâu sắc
vào các trường đại học và cũng đã có nhiều tác dụng trên nhiều khía cạnh
của cuộc sống sinh viên. Sinh viên Việt Nam đang sử dụng Facebook như một
phương tiện để giao tiếp và tương tác với những người khác vì những thuận
lợi và phổ biến của nó. Mặt khác, hầu hết sinh viên đang theo học tại trường
Đại học Thương mại có tài khoản Facebook và sử dụng nó trong cuộc sống
hàng ngày. Do đó, nghiên cứu này điều tra ảnh hưởng của việc tham gia
mạng xã hội trực tuyến cá nhân (trên Facebook) từ quan điểm sinh viên
trường Đại học Thương mại Hà Nội. Dựa trên lý thuyết học tập xã hội, nghiên
cứu này cho rằng việc tham gia Facebook của sinh viên Trường Đại học
Thương mại có tác động tích cực trên kết quả học tập của họ. Ngoài ra, hai
quá trình xã hội hóa được xã hội chấp nhận và tiếp biến văn hóa có thể nối
các trang web mạng xã hội tham gia với ba lĩnh vực kết quả học tập xã hội.
Kết quả phân tích từ cuộc khảo sát cho thấy những tác động trực tiếp của
việc tham gia Facebook của sinh viên Trường Đại học Thương mại đến quá
trình học tập xã hội và kết quả của họ. Do đó, các trang web mạng xã hội trực
tuyến (Facebook) không chỉ ảnh hưởng mạnh mẽ kết quả học tập sinh viên
Trường Đại học Thương mại, mà còn giúp họ thích nghi với văn hóa đại học
và đạt được mối quan hệ chặt chẽ với bạn bè đại học của họ, cả hai đều đóng
vai trò quan trọng trong việc cải thiện kết quả học tập của mình tại trường
Đại học Thương mại. Bên cạnh đó, nghiên cứu này cho thấy một số hoạt động
có thể giúp cả giảng viên Trường Đại học Thương mại và sinh viên sử dụng

thông tin và tích hợp ứng dụng. Trang web thông thường cũng giống như
truyền hình, cung cấp càng nhiều thông tin, thông tin càng hấp dẫn càng tốt
còn mạng xã hội tạo ra các ứng dụng mở, các công cụ tương tác để mọi
người tự tương tác và tạo ra dòng tin rồi cùng lan truyền dòng tin đó.
Hiện nay trên thế giới có rất nhiều mạng xã hội ảo. Các mạng xã hổi ảo lớn
tiêu biểu được tổng hợp trong Bảng 1 sau:
Bảng 1: Những mạng xã hội ảo lớn trên thế giới
Tên Miêu tả Số thành viên
Windows
Live Spaces
Blog 120 000 000
Facebook
Tỉ lệ truy cập cao nhất ở Canada và ở Anh, nhiều nhân
vật nổi tiếng
750 000 000 (tài
khoản hoạt
động)
Friendster
Rất phổ biến
ở Philippines, Malaysia, Indonesia vàSingapore
115 000 000
hi5
Audience variée (Amérique centrale, Mongolie,
Roumanie, )
80 000 000
Tagged Tagged.com 70 000 000
Flixster Thiết kế dành cho những người yêu phim ảnh 69 000 000
Classmates Giúp mọi người tìm lại được những người bạn học cũ 40 000 000
Bebo Bebo Được sử dụng rộng rãi nhất ở Ireland 40 000 000
Tên Miêu tả Số thành viên

chuyên trang rao vặt, mua bán sang mạng xã hội đang xảy ra mạnh mẽ.
- Một số quốc gia sử dụng mạng xã hội như công cụ chính trị, kinh tế: Đây
cũng là lý do đa số các quốc gia có sự cân nhắc và thận trọng trong việc mở
cửa hoàn toàn với các mạng xã hội có nguồn gốc nước ngoài. Một phần do
các mạng xã hội đa quốc gia thường có trụ sở ở nước ngoài nên việc quản lý
có nhiều khó khăn. Tiếp nữa, do đặc thù lĩnh vực mạng xã hội là công cụ
truyền thông rất mạnh đối với công chúng nên nếu ai đó sử dụng nó với mục
đích không đúng sẽ có thể đem lại hậu quả khó lường.Trong tương lai gần
nhiều nhà chuyên môn đánh giá vai trò của internet sẽ ngang bằng với truyền
hình TV.
- Công cụ quảng bá văn hóa (của quốc gia, tổ chức, doanh nghiệp): Hầu hết
những quốc gia đang phát triển đều cố gắng xây dựng cho mình một mạng xã
hội với đặc thù riêng của quốc gia mình. Một phần nguyên nhân là lý do kể
trên. Một phần là dùng nó để làm công cụ giao lưu văn hóa, quảng bá văn
hóa.Sẽ có thể dễ dàng thấy Mạng Cyworld Hàn quốc bước chân vào
Việt Nam với mục đích giúp sức cho các doanh nghiệp Hàn Quốc. Văn hóa
nhiều quốc gia trở nên gần gũi nhờ mạng xã hội, điều này cũng mang lại
nhiều cơ hội nhưng cũng nhiều thách thức.
FACEBOOK
Facebook mở đầu là một phiên bản Hot or Not của Đại học Harvard với tên
gọi Facemash.Mark Zuckerberg, khi đang học năm thứ hai tại Harvard, đã
dựng nên Facemash vào ngày 28 tháng 10 năm 2003. Zuckerberg đang viết
blog về một cô gái và cố gắng nghĩ ra một thứ gì đó để bớt nghĩ về cô ấy.
Theo tờ Harvard Crimson, Facemash "đã dùng những bức ảnh lấy từ cuốn
lưu bút trực tuyến của chín Nhà, đặt hai cái kế bên nhau và yêu cầu người
dùng chọn ai là người là "hot" nhất".Trang này nhanh chóng được chuyển
đến vài máy chủ danh sách của nhóm campus nhưng bị những người quản lý
Harvard tắt vài ngày sau đó. Zuckerberg bị ban quản lý phạt vì vi phạm an
ninh, xâm phạm bản quyền và xâm phạm quyền tự do cá nhân và phải đối
mặt với việc đuổi học, nhưng sau đó đã được hủy bỏ các cáo buộc. Học kỳ tiếp

ty hoặc tổ chức lập ra. Các nhóm thường do một hoặc nhiều cá nhân hoặc
công ty bảo trợ để thu hút cá thành viên có cùng mối quan tâm. Các nhóm
được phếp lập bàn thảo luận, chia sẽ ảnh, đăng tải video và cả quảnh lý danh
sách email. Trong mọi trường hợp, mục đích chính vẫn là gặp gỡ và giữ liên
lạc với bạn bè trên khắp thế giới bằng các công cụ trên Facebook.
Các đặc điểm chính của Facebook bao gồm một trang cá nhân giống
MySpace, LinkedIn và hầu hết các mạng xã hội khác.Điểm khác biệt lớn nhất
của Facebook là người khác không thể xem thông tin chi tiết trên trang cá
nhân của người dùng cho đến khi người dùng chấp nhận họ làm bạn và đồng
ý chia sẻ thông tin. Điều này giúp hạn chế việc phải liên kết bạn bè với những
người có ít quan hệ, ngược lại với MySpace có xu hướng thu thập càng nhiều
bạn bè càng tốt, bất kể đó là ai.
Các hoạt động trên Facebook bao gồm cập nhật tiểu sử, chia sẻ cập nhật về
hoạt động thường nhật thông qua “trạng thái” (status) mà bạn bè của người
dùng có thể nhìn thấy, ghé thăm trang cá nhân của bạn bè để viết thông điệp
trên “tường” (wall) cũng như tham gia các bàn thỏa luận do các nhóm hoặc
các mạng lưới khác lập ra.
Một thành công tiên phong khác mà Facebook đạt được là cho phép kỹ sư
phát triển phần mềm có thể tạo ra các ứng dụng nhỏ (“apps”) để tạo ra các
ứng dụng hỗ trợ hoặc giúp người dùng có thể chơi game, gửi quà tặng hoặc
tham gia các hoạt động giải trí nhỏ khác trên mạng lưới.
Facebook đã thay đổi cuộc sống con người, ít nhất là trong cách mọi người
giao tiếp. Cùng với sự lây lan của các mạng xã hội, các mối quan hệ đã trở
nên gần gũi hơn và rộng hơn so với trong quá khứ, và các trang web xã hội
đã trở thành một phần không thể tách rời của cuộc sống với tác động tích
cực và tiêu cực của nó. Một số chuyên gia tin rằng với sự giúp đỡ của các
trang web, các mối quan hệ đã bước vào một giai đoạn mới và mọi người có
thể nhận biết nhau tốt hơn và nhanh hơn.Mặt khác, Facebook đã tạo ra nhiều
vấn đề, đặc biệt là đối với học sinh. Do đó, nếu chúng ta có thể biết Facebook
ảnh hưởng đến học tập của học sinh như thế nào, sau đó chúng ta có thể tận

quan hệ giữa môi trường học tập, quá trình hòa nhập và kết quả học tập như
Hình2 bên dưới.
Nguồn: Angela Yan Yu (2010)
Hình 2: Quá trình học tập
Theo lý thuyết học tập xã hội của Bandura (1977), tự định hướng chức năng
tham gia tích cực của các cá nhân như một động lực ban đầu để đạt được kết
quả học tập mong muốn. Trong các trang web mạng xã hội trực tuyến, cá
nhân được trang bị để thể hiện bản thân, thiết lập các mối quan hệ khác
nhauvà tương tác với người khác ở bất kỳ khoảng cách thời gian và không
gian, tự biểu cảm của họ và nhu cầu thông tin. Để kích hoạt học tập như vậy
và thực hiện những nhu cầu, tham gia mạng xã hội trực tuyến là cần thiết.Cá
nhân cần phải dành thời gian của họ và năng lượng tâm lý của họ vào các
trang web.Ví dụ, cá nhân có thể thể hiện mình trong một hồ sơ có thể xem
trực tuyến.Ngoài ra, họ có thể thiết lập và duy trì mối quan hệ rộng rãi với
các đồng nghiệp và lựa chọn phát triển tương tác hơn nữa. Hơn nữa, họ có
thể tìm hiểu thêm về môi trường đại học bằng cách tham gia một mạng lưới
các trường đại học và do đó việc tìm kiếm các thông tin mà tiết lộ cuộc sống
thực trong các trường đại học. Tất cả những hoạt động cần sự tham gia của
các cá nhân. Do đó, tham gia mạng xã hội trực tuyến có thể đại diện cho môi
trường học tập. .
Thứ hai, để đạt được kết quả học tập, cá nhân cần tham gia vào quá trình
hòa nhập đó giúp các cá nhân chuyển đổi môi trường học tập đến kết quả học
tập. Theo Bandura (1977), các cá nhân tương tác với bạn bè và môi trường
và các hoạt động đó được xem là cam kết học tập ban đầu của họ để đạt kết
quả học tập mong muốn. Những tương tác này đã được mô tả như là sự chấp
nhận xã hội và tiếp biến văn hóa trong các tài liệu xã hội (Bauer, Bodner,
Erdogan, Truxillo, & Tucker, 2007; Morrison, 1997, 2002). Do đó, để đưa ra
các đề xuất tác động trực tiếp của việc tham gia mạng xã hội trực tuyến trên
kết quả học tập thì nhân tố chấp nhận xã hội và tiếp biến văn hóa được xem
như là quá trình xã hội hóa quan trọng có thể chuyển đổi hành vi mạng xã hội

hội
Giả thuyết 1a Mạng lưới xã hội trực tuyến (Facebook) của sinh
viên Trường Đại học Thương mại tác động tích
cực đến sự phát triển sự tự trọng của sinh viên
Giả thuyết 1b Mạng lưới xã hội trực tuyến (Facebook) của sinh
viên Trường Đại học Thương mại tác động tích
cực đến sự thỏa mãn đối với cuộc sống sinh viên
Giả thuyết 1c Mạng lưới xã hội trực tuyến (Facebook) của sinh
viên Trường Đại học Thương mại tác động tích
cực đến kết quả học tập của sinh viên
Môi trường
mạng lưới xã
hội trực tuyến
và sự chấp
nhận xã hội
Giả thuyết 2 Mạng lưới xã hội trực tuyến (Facebook) của sinh
viên Trường Đại học Thương mại tác động tích
cực đếnsự chấp nhận xã hội của sinh viên
Môi trường
mạng lưới xã
hội trực tuyến
và tiếp biến
văn hóa
Giả thuyết 3 Mạng lưới xã hội trực tuyến (Facebook) của sinh
viên Trường Đại học Thương mại tác động tích
cực đếnsự tiếp biến văn hóa của sinh viên
Sự chấp nhận Giả thuyết 4a Sự chấp nhận xã hội của sinh viên Trường Đại
Mối quan hệ Giả thuyết Nội dung
xã hội và học
tập xã hội

FBE2
Tôi tự hào khi nói với mọi người rằng mình tham gia
Facebook
FBE3 Facebook đã trở thành thói quen hàng ngày của tôi
FBE4 Tôi cảm thấy như bị mất liên lạc nếu tôi không đăng
Nhân tố Biến số Nội dung
nhập vào Facebook trong một thời gian
FBE5
Tôi cảm thấy mình là một phần của cồng đồng
Facebook
Sự chấp nhận
xã hội
SOAC1
Tình bạn sinh viên mà tôi đã phát triển ở Trường Đại
học Thương mại là niềm tự hào cá nhân
SOAC2
Tôi cảm thấy thoải mái với những bạn bè xung quanh
tại Trường Đại học Thương mại
SOAC3
Các sinh viên trong cùng một tập thể có vẻ chấp nhận
tôi như là một trong số họ
SOAC4
Mối quan hệ cá nhân với những sinh viên Thương mại
khác đã có ảnh hưởng tích cực đến sự phát triển nhân
cách và hứng thú với những ý tưởng của tôi
SOAC5
Mối quan hệ cá nhân với những sinh viên Thương mại
khác đã có một ảnh hưởng tích cực đối với sự phát
triển cá nhân, giá trị và thái đô của tôi
Tiếp biến văn

Cho đến nay tôi đã nhận được những điều quan trọng
mà tôi muốn tại Trường Đại học Thương mại
SATI4
Tôi hài lòng với cuộc sống của tôi ở đại học Thương
mại
Hiệu quả học
tập
PERF1
Tôi tự tin về các kỹ năng học tập của mình và khả
năng làm việc
PERF2
Tôi cảm thấy đủ sức tiến hành các bài tập trong
chương trình học của mình
PERF3
Tôi đã học được cách làm thế nào để thực hiện khóa
học một cách hiệu quả
PERF4 Tôi đạt được kết quả học tập đúng như tôi mong đợi
Bên cạnh đó, nghiên cứu này xem xét năm học của sinh viên (từ năm 1 đến
năm 4) và giới tính (nam và nữ) như là các biến kiểm soát bởi vì các nhân vật
cá nhân có thể ảnh hưởng đến kết quả học tập của học sinh.Ví dụ, mức độ
kiến thức về cuộc sống và văn hóa của trường đại học là khác nhau từ sinh
viên mới và sinh viên năm cuối.Cách họ tham gia vào các hoạt động trường
đại học cũng khác nhau.Đặc biệt, có sự khác biệt giữa nam và nữ trong nhận
thức của họ, đáp ứng cho từng hoạt động hoặc sự kiện. Tất cả các dữ liệu
nhận được trong cuộc khảo sát sẽ được phân tích trong một quá trình 2 giai
đoạn như được mô tả trong hình sau:
• Giai đoạn 1: Đánh giá mô hình đo lường
- Phân tích mô tả để kiểm tra tính hợp lệ của dữ liệu
- Phân tích nhân tố để khám phá nhân tố
• Giai đoạn 2: Đo mô hình

6-10 lần/ngày 85 8,8%
Rất nhiều không thể đếm 126 13,0%
Luôn luôn online 52 5,4%
Thời lượng truy cập
Dưới 30 phút/ngày 164 16,9%
Từ 0,5 giờ đến 3 giờ/ngày 524 54,1%
Từ 3 giờ đến 6 giờ/ngày 205 21,2%
Nhiều hơn 6 giờ/ngày 75 7,7%
Nguồn: Tác giả
Kết quả khảo sát cũng cho thấy sinh viên Trường Đại học Thương mại sử
dụng Facebook không chỉ để duy trì mối quan hệ và giải trí mà còn cho mục
đích học tập. Họ chủ yếu là giao tiếp với bạn bè của họ thông qua trò chuyện
(bao gồm bình luận và tin nhắn) hoặc thông qua chơi trò chơi tương tác trên
Facebook. Cùng với nó, hơn 283 người trả lời nói rằng họ thường xuyên sử
dụng Facebook để thảo luận với bạn bè về bài học, bài tập, công việc hay mục
đích học tập khác. Do đó, các bằng chứng tiềm năng minh họa nghiên cứu
sinh viên Trường Đại học Thương mại có thể bị ảnh hưởng nhiều từ các bạn
học như các học thuyết xã hội của Bandura (1977).
Phân tích nhân tố khám phá - EFA
Trong giai đoạn đầu tiên - "Đánh giá mô hình đo lường", tất cả dữ liệu là hợp
lệ và đầy đủ để phân tích nhân tố khám phá (EFA), kể từ khi chỉ số của
Cronbach alpha độ tin cậy thống kê là tất cả trên 0,7 trong khi giá trị KMO đo
tính đầy đủ lấy mẫu cũng lớn hơn 0.7 với Sig. là 0,000 (p <0,01) (Nunnally &
Burnstein, 1994). Những con số này khẳng định độ tinh cậy của dữ liệu
chomô hình nghiên cứu.
Kết quả EFA cho các nhân tố ‘tham gia Facebook’, ‘chấp nhận xã hội’ và ‘tiếp
biến văn hóa’. Tất cả các phân tích nhân tố sử dụng phương pháp “Principal
components method” với Eigenvalue lớn hơn 1 và phương pháp“Varimax
rotation method” và sau đó chỉ lấy các giá trị tuyệt đối lớn hơn hoặc bằng
0.50.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status