BÁO CÁO MÔN DỰ BÁO NHU CẦU ĐIỆN NĂNG
LỜI NÓI ĐẦU
Điện năng nguồn năng lượng đầu vào của mọi quá trình sản xuất. “Điện, đường,
trường, trạm”; Điện luôn được coi là yếu tố đầu tiên, yếu tố tiên phong cho một sự phát
triển mới. Trong quá trình đổi mới của đất nước, công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại
hóa đang được đẩy mạnh kéo theo nhu cầu về điện năng cũng tăng cao.
Nhằm đánh giá và nhận định tiêu thụ điện năng của Việt Nam trong những năm
gần đây, nhóm 2 – lớp D6QLNL đã tiến hành thực hiện Đề tài “Phân tích hiện trạng tiêu
thụ điện năng của VN giai đoạn 1995 – 2014 qua” các nội dung:
- Tiêu thụ điện năng các ngành.
- Cường độ điện năng của Việt Nam, của các khu vực.
- Các chỉ tiêu biểu diễn mỗi quan hệ giữa điện năng và phát triển kinh tế.
Sau một thời gian nghiên cứu, tìm kiếm và phân tích với sự hướng dẫn của cô giáo
Nguyễn Thị Lê và nỗ lực của các bạn thành viên trong nhóm 2, nhóm chúng em đã hoàn
thành bản báo cáo đề tài trên. Với kiến thức có hạn, trong quá trình làm báo cáo không
thể tránh khỏi những sai sót mong Cô giáo cho nhận xét để chúng em có thể làm tốt hơn
cho những báo cáo về sau.
Nhóm 2 chân thành cảm ơn Cô!
Hà nội, ngày 01/03/2015
Thực hiện
Nhóm 2 – Lớp D6QLNL
1
Nhóm 2 – Lớp D6QLNL
BÁO CÁO MÔN DỰ BÁO NHU CẦU ĐIỆN NĂNG
Chương 1: TỔNG QUAN NGÀNH ĐIỆN VIỆT NAM
1.1. LỊCH SỬ HÌNH THÀNH.
Ngày 21/7/1995, Cục Điện lực được thành lập trực thuộc Bộ Công Thương. Sự
kiện này đặt dấu mốc pháp lý về hoạt động chỉ đạo, quản lý của cơ quan quản lý nhà
nước chuyên trách về lĩnh vực điện lực. Sau nhiều lần thay đổi tên, cơ quan chủ quản thì
năm 1981, Bộ Điện lực ra đời.
Ngày 19/5/1962, nhà máy nhiệt điện Uông Bí được khởi công xây dựng, là nhà
1465 và số 1472/TTg-QHQT, Chính Phủ có đưa ra những phương án hỗ trợ phát triển
ngành điện, thiết thực nhất, có thể nói đến là việc hỗ trợ vay vốn với lãi suất thấp từ Ngân
hàng Quốc tế về Tái thiết và Phát triển (IBRD) của WB để đầu tư các dự án điện. Các
nguồn sản xuất điện nước ta hiện nay chủ yếu là từ nhiệt điện và thủy điện. Các nguồn
năng lượng tái tạo hiện đang được ứng dụng thử nghiệm tại 1 số dự án. Trong quy hoạch
nguồn cung ứng điện trong tương lai, các nguồn năng lượng tái tạo này được cân nhắc
phát triển, tạo ra nguồn cung ứng mới, tiên tiến.
Theo số liệu báo cáo của Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN), tổng điện thương
phẩm cả nước năm 2014 đạt 127,55 tỷ kWh, tăng 12,478% so với năm 2013, trong đó
điện cho công nghiệp và xây dựng tăng 14,82%, nông nghiệp và thuỷ sản tăng 29,56%,
quản lý và tiêu dùng dân cư tăng 10,31%.
Hiện nay ở nước ta có 2 nguồn sản xuất điện năng chủ yếu đó là thủy điện và nhiệt
điện. Nhiệt điện hiện nay chủ yếu là 3 nguồn: nhiệt điện than, nhiệt điện khí và nhiệt điện
dầu. Thời gian gần đây một số dự án sử dụng các nguồn năng lượng tái tạo như gió và
mặt trời được ứng dụng nhiều hơn, góp phần tạo thêm nguồn cung cấp điện năng. Tổng
công suất lắp đặt nguồn điện tính đến ngày 31/12/2010 là 21.250MW, trong đó thuỷ điện
chiếm tỷ trọng là 38%, nhiệt điện là 56%, diesel và nguồn điện nhỏ khác là 2% và điện
nhập khẩu là 4%.
3
Nhóm 2 – Lớp D6QLNL
BÁO CÁO MÔN DỰ BÁO NHU CẦU ĐIỆN NĂNG
Trong các nguồn cung cấp điện chính thì thủy điện vẫn chiếm tỷ trọng cao, đóng
vai trò quan trọng trong cơ cấu. Năm 2010 tỷ trọng các nguồn điện từ thủy điện vẫn
chiếm mức cao nhất trong các nguồn sản xuất. Tuy nhiên trong kế hoạch phát triển nguồn
điện theo Quy hoạch điện VI của chính phủ thì tỷ trọng thủy điện sẽ giảm dần trong cơ
cấu tổng nguồn điện sản xuất. Điều đó được thể hiện khi từ 2006 đến 2010 tỷ trọng các
nguồn thủy điện giảm từ 46.63% xuống còn 38%, thay vào đó là sự gia tăng của các
nguồn nhiệt điện bao gồm nhiệt điện than và nhiệt điện khí.
1.3. KẾT LUẬN.
- Tốc độ tăng trưởng trung bình hàng năm trong giai đoạn (t
0
, t
1
)
Ag
tn/to
=( )
(1/(tn-to))
– 1
Trong đó:
• Ag
tn/to
: là tốc độ tăng trưởng trung bình hàng năm.
• E
tn
và E
to
: Tiêu thụ năng lượng năm tn và to.
• t: Chỉ số thời gian.
b. Cường độ năng lượng:
Cường độ năng lượng là tỷ số giữa tổng năng lượng tiêu thụ của một quốc gia và
tổng sản phẩm quốc nội (GDP). Cường độ năng lượng của một ngành cụ thể nào đó là tỷ
số giữa năng lượng tiêu thụ của ngành đó và giá trị tăng của ngành (VA):
EI =
Trong đó:
• EI: cường độ năng lượng
• E: năng lượng tiêu thụ
5
Nhóm 2 – Lớp D6QLNL
Tiêu thụ điện liên tục tăng từ năm
1995 đến 2014, tuy nhiên lượng tiêu thụ
điện năng tăng không đồng đều theo các
năm. Điều này được thể hiện qua biểu đổ
2.2
Từ năm 1995 - 1999: Điện năng tiêu
thụ còn ở mức thấp. Chênh lệch tiêu thụ
điện năng với các năm với nhau không
lớn như 11,2 tỷ kWh (1995), 13,4% tỷ
kWh (1996), tăng 2,2 tỷ kWh, tốc độ
tăng trung bình 1,67 tỷ kWh/năm. Do
năm 1995, Mỹ bắt đầu dỡ bỏ cấm vận tại
Việt Nam làm tăng trưởng kinh tế GDP
tăng 8,5%. Tuy nhiên công nghiệp vẫn
còn lạc hậu, vẫn dựa vào nông nghiệp là
chủ yếu nên tiêu thụ điện năng vẫn chưa
cao.Bên cạnh đó năm 1997-1998 tốc độ
tiêu thụ điện giảm do ảnh hưởng của
khủng hoảng kinh tế châu Á.
Từ năm 2000-2014: tiêu thụ điện
năng tăng nhanh, tốc độ tăng trung bình
là 7,51 tỷ kWh/năm, gấp 7 lần giai đoạn
1995-1999. Thời gian này, Việt Nam tiến
hành công nghiệp hóa đất nước, các
ngành công nghiệp nặng như luyện gang,
thép…rất phát triển tiêu thụ nhiều năng
lượng, cùng với đó là phát triển dịch vụ.
Tuy vậy tốc độ tiêu thụ thay đổi không
đáng kể do nước ta đã biết ứng dụng các
công nghệ hiên đại hơn, tiết kiệm điện
dấu hiệu tăng trở lại.
Để thấy rõ mỗi quan hệ giữa tiêu thụ điện và GDP ta sử dụng phần mềm SPSS.
Model Summary and Parameter Estimates
Dependent Variable: Tiêu_thụ_điện
Equation
Model Summary Parameter Estimates
R Square F df1 df2 Sig. Constant b1 b2 b3
Cubic
,997 1997,025 3 16 ,000 -15,411 1,385 -,007 1,912E-5
The independent variable is GDP.
Từ kết quả phân tích thu được hàm:
E = -15,411 + 1,385.GDP – 0,07.GDP
2
+ 1,912.10
-5
.GDP
3
Trong đó: E là tiêu thụ điện
Qua hàm trên ta thấy
2.3 CƯỜNG ĐỘ ĐIỆN NĂNG VÀ TIÊU THỤ ĐIỆN NĂNG CỦA CÁC NGÀNH
2.3.1 Công nghiệp
Biểu đồ 4: Tiêu thụ điện và cường độ điện năng của công nghiệp
Lượng điện tiêu thụ của ngành công nghiệp tăng qua các năm từ 4,618 tỷ KWh
năm 1995 đến 68,75 tỷ KWh năm 2014. Sự tăng lên của lượng tiêu thụ điện thể hiện sự
tăng trưởng của ngành công nghiệp trong giai đoạn 1995 - 2014. Sự gia tăng một cách
nhanh chóng của năng lượng trong ngành công nghiệp là do sự xuất hiện của hàng loạt
các khu công nghiệp và nhà máy có nhu cầu công suất lớn. Cụ thể:
- Miền Bắc:
Các khu công nghi p C u Di n, à i T Hà N i; nhà máy cán thép Hòa
Phát, thép Sông à , Khu công nghi p Nam Sách, Chí Linh H ng Yên, Khu công
Đối với nông nghiệp, tiêu thụ điện năng tương đối ổn định vào giai đoạn 1995
-2007, tốc độ tăng trung bình hằng năm là 0,21 tỷ kWh. Trong giai đoạn này đang thực
hiện chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp sang công nghiệp hóa, xong vẫn không có sự
chuyển dịch đáng kể. Cụ thể năm 1995 nông nghiệp chiếm 35%GDP, năm 2000 chiếm
21% nên điện năng sử dụng cho nông nghiệp vẫn ổn định. Cường độ điện năng tiêu thụ
nhìn chung là cao do máy móc còn lạc hậu, tiêu hao nhiều điện. Năm 1999 - 2000, nhà
nước thực hiện thu thuế sử dụng đất bằng tiền thay lúa cho vụ mùa 1998 - 1999 và thu nợ
thuế sử dụng đất nông nghiệp từ vụ hè năm 1998 trở về trước, vì vậy nông nghiệp sụt
giảm kéo theo cường độ điện năng giảm. Từ năm 2003 - 2007, theo số liệu kiểm kê đất
của Bộ Tài nguyên và Môi trường diện tích đất lúa giảm 30 vạn hecta chủ yếu do đô thị
hóa, kết cấu hạ tầng giao thông, xây dựng các khu công nghiệp. Vì vậy cường độ điện
năng sẽ giảm.
Trong giai đoạn 2008-2014, tiêu thụ điện cho nông nghiệp tăng trung bình 1,24 tỷ
kWh/ năm gấp gần 6 lần giai đoạn 1995-2007. Với tiềm năng gần biển, sông suối ao hồ
nhiều nên nuôi trồng thủy sản ngày một phát triển. Cụ thể năm 2000 sản lượng nuôi trồng
thủy sản chiếm 26,2% nhưng đến năm 2010, sản lượng này chiếm 47,2%. Hầu hết nông
nghiệp đã được cơ giới hóa, máy móc thay con người. Nông phẩm không còn cần dùng
thiên nhiên để chế biến nông sản. Nông nghiệp đã sử dụng trồng cây trong nhà kính để
đem lại số lượng và chất lượng nông sản tốt nhất. Năm 2009, Việt Nam xuất khẩu 6 triệu
tấn gạo, điều này cho thấy việc chế biến gạo đã được cải thiện rõ rệt do sử dụng máy móc
sấy khô gạo. Hiện nay ngành điện cung cấp điện cho 5500 trạm bơm cấp nước tưới tiêu
trên toàn quốc. Cường độ tiêu thụ điện năng tăng dần, cường độ tăng trung bình 0,026
kWh/USD nguyên nhân là do năng suất nông sản tăng để phục vụ nhu cầu lương thực
trong nước và xuất khẩu.
2.3.3 Thương mại và dịch vụ:
Biểu đồ 6: Tiêu thụ điện và cường độ điện năng của thương mại và du lịch
Từ số liệu thu thập được dễ dàng nhận thấy tiêu thụ điện cho thương mại và dịch
vụ trong giai đoạn 1995- 2000 không có sự thay đổi nhiều dao động quanh mức 1,0 tỷ
Kwh. Bắt đầu từ năm 2000 đên 2014 thương mại và dịch tiêu thụ điện năng liên tục, tăng
từ 1,087 lên đến 6,1224 tăng 6 lần. Nguyên nhân của sự thay đổi này là chịu ảnh hưởng
Điều này đã được thể hiện rõ ở biểu đồ trên. Cụ thể là năm 1995 tiêu thụ 4,68 tỷ KWh
nhưng đến năm 2014 con số này lên đến 45,41 tỷ KWh, tăng gần 10 lần. Có được sự tăng
trưởng đó là do rất nhiều nguyên nhân nhưng chủ yếu là các nguyên nhân sau:
- Đầu tiên là ảnh hưởng của dân số.
Dân số Việt Nam năm 2011 là 87,84 triệu người, năm 2012 là 88,78 triệu người,
ước năm 2013 là 89,57 và dự kiến dân số năm 2015 là 91,3 triệu người. Tỷ lệ gia tăng
dân số của Việt Nam giảm từ 1,17% (2002) xuống còn 1,06% (2012). Tỷ lệ sinh con thứ
3 trở lên đã giảm mạnh từ 21,7% (2002) xuống còn 14,2% (2012). Năm 2002, số con
trung bình/phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ ở nước ta là 2,28 nhưng đến năm 2012 chỉ còn
2,05 con.
Trong giai đoạn 1979-2009, tỷ lệ dân số trong tuổi lao động tăng 15,2% (từ 51,3%
năm 1979 lên 66,5% năm 2009), lực lượng lao động tăng thêm này đã đóng góp cho tăng
trưởng kinh tế khoảng 42%. Giai đoạn 2000 – 2010, lực lượng lao động của nước ta đã
tăng từ 39,3 triệu người lên 50,5 triệu người, tốc độ tăng bình quân là 2,6%/năm, bằng 2
lần tốc độ tăng dân số. Dự báo thời kỳ 2011-2020 lực lượng lao động Việt Nam tăng sẽ
tăng khoảng 1,43%/năm và đạt mức 58,2 triệu lao động vào năm 2020.
Ngoài ra, theo kết quả thống kê , dân số thành thị là 25.374.262 người (chiếm
29,6%), dân số nông thôn là 60.415.311 người (chiếm 70,4%). Vào năm 1999, tỷ lệ dân
số thành thị chiếm 23,5%. Trong số 9,4 triệu người tăng thêm từ năm 1999 đến 2009, có
đến 7,3 triệu người (chiếm 77%) tăng lên ở khu vực thành thị. Tỷ lệ tăng dân số thành thị
- nông thôn ngày một chênh lệch. Năm 1999-2009, dân số thành thị đã tăng lên với tỷ lệ
bình quân là 3,4%. Trong khi đó, ở khu vực nông thôn, tỷ lệ tăng dân số chỉ có 0,4%.
Do nước ta đông dân, tỷ lệ người lao động cao cộng với việc dân số thành thị
chiếm một tỷ trọng đáng kể đã làm cho việc tiêu thụ điện năng tăng lên đáng kể theo các
năm.
- Tiếp đến là ảnh hưởng của quá trình đô thị hóa.
Dưới tác động của chính sách đổi mới, quá trình đô thị hóa ở nước ta diễn ra với
tốc độ nhanh hơn trước. Trong hơn 10 năm, tỷ lệ dân cư đô thị tăng từ dưới 20% năm
1990 lên gần 30% dân số cả nước vào năm 2009. Giai đoạn 1999 - 2009, dân số đô thị
tăng trưởng trung bình 3,4%/năm, cao hơn tỷ lệ tăng dân số ở nông thôn (0,4%/năm).
các ngành khác chiếm khoảng 10% tổng sản lượng tiêu thụ điện năng.
Từ năm 1990 đến nay, cùng với sự đổi mới cơ chế quản lý của Nhà nước và cơ
chế quản lý trong sản xuất kinh doanh, ngành công nghiệp đã thực sự trở thành động lực
thúc đẩy nền kinh tế phát triển. Giá trị sản xuất công nghiệp năm 2000 của cả nước đạt
195,3 ngàn tỷ đồng (theo giá cố định năm 1994), tăng hai lần so với năm 1995. Tốc độ
tăng trưởng giá trị sản xuất công nghiệp là 13,67% (1995 - 2000). Nhóm các ngành công
nghiệp cơ bản có tốc độ tăng trưởng nhanh nhất, bao gồm: ngành điện tử và công nghệ
thông tin, ngành cơ khí, ngành hóa chất. Tiếp sau đó là các ngành dệt may, da giầy, khai
thác khoáng sản, điện, nước, chế biến nông lâm, thủy sản. Từ những con số trên đã cho
thấy bước phát triển mạnh mẽ của ngành công nghiệp kéo theo việc tăng lượng tiêu thụ
điện năgn của ngành này một cách đáng kể.
Việc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đang ngày càng phát triển dẫn tới việc mở
rộng quy mô sản xuất của các ngành công nghiệp, từ đó diện tích đất nông nghiệp dùng
để xây dụng các khu công nghiệp cũng tăng lên.
Theo báo cáo của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tại Hội thảo “Nông dân
bị thu hồi đất - Thực trạng và giải pháp”, cho thấy: trong 5 năm, từ năm 2001-2005, tổng
diện tích đất nông nghiệp đã thu hồi là 366,44 nghìn ha (chiếm 3,89% đất nông nghiệp
đang sử dụng). Trong đó, diện tích đất nông nghiệp đã thu hồi để xây dựng các khu công
nghiệp và cụm công nghiệp là 39,56 nghìn ha, xây dựng đô thị là 70,32 nghìn ha và xây
dựng kết cấu hạ tầng là 136,17 nghìn ha.
Theo số liệu của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, trung bình mỗi hộ nông
dân có khoảng 1,5 lao động và mỗi hecta đất thu hồi sẽ ảnh hưởng đến việc làm của trên
10 lao động nông nghiệp. Như vậy, việc thu hồi đất nông nghiệp trong những năm qua đã
ảnh hưởng tới đời sống của 627.495 hộ gia đình, khoảng 950.000 lao động và 2,5 triệu
nông dân” ( Bộ NN và PTNT, 2007).
Nghiên cứu ở một số tỉnh cũng đã và đang có các khu công nghiệp được xây dựng
trên cơ sở thu hồi đất nông nghiệp của người dân cho thấy “Việc làm và thu nhập của các
hộ sống chủ yếu dựa vào sản xuất nông nghiệp (chiếm tới 60%) là đối tượng bị tác động
lớn nhất sau khi thu hồi đất và gặp nhiều khó khăn trong tìm kiếm việc làm mới. 53% số
hộ có thu nhập giảm so với trước khi bị thu hồi đất, chỉ có 13% số hộ có thu nhập tăng
nhiều vào giá bán điện bình quân và kinh tế của Việt Nam vẫn phát triển qua các năm.
2.4 TIÊU THỤ ĐIỆN NĂNG THEO ĐẦU NGƯỜI:
Biểu đồ 11: Tiêu thụ điện trên đầu người
Dân số ngày càng tăng, kéo theo là sự tăng lên của nhu cầu sử dụng điện năng,
hơn nữa xã hội phát triển làm mức sống người dân tăng lên, vì vậy lượng điện năng tiêu
thụ trên đầu người ngày càng tăng lên. Nó được thể hiện rõ trong biểu đồ trên: lượng điện
tiêu thụ đầu người có xu hướng tăng đều từ 1995 ( là 155,55 KWh/ người ) đến 2014 (là
1409,39 KWh/ người), tức là gấp khoảng 7 lần.
Bảng 1: Số con trung bình của một phụ nữ (TFR) thời kỳ 1992 - 2012
Giai đoạn TFR Giai đoạn TFR
1/4/1992-31/3/1993 3,5 1/4/2004-31/3/2005 2,11
1/4/1993-31/3/1994 3,1 1/4/2005-31/3/2006 2.09
1/4/1998-31/3/1999 2,33 1/4/2006-31/3/2007 2,07
1/4/1999-31/6/2000 2,28 1/4/2007-31/3/2008 2,08
1/7/2000-31/3/2001 2,25 1/4/2008-31/3/2009 2,03
1/4/2001-31/3/2002 2,28 1/4/2009-31/3/2010 2,00
1/4/2002-31/3/2003 2,12 1/4/2010-31/3/2011 1,99
1/4/2003-31/3/2004 2,23 1/4/2011-31/3/2012 2,05
Tuy dân số vẫn tăng nhưng giai đoạn này có xu hướng giảm sinh, theo số liệu
thống kê của Tổng điều tra dân số trong bảng bên: từ 1994, số con trung bình của mỗi
phụ nữ là 3,1 con, nó giảm xuống chỉ còn 2,05 con ở năm 2012, thể hiện được tốc độ tăng
dân số đang giảm dần. Trong khi đó, tốc độ tăng trưởng nhu cầu điện vẫn tăng mạnh nên
tỉ lệ điện tiêu thụ theo đầu người vẫn tăng.
Ta thấy có 2 giai đoạn, sự biến thiên của tỉ lệ điện tiêu thụ theo đầu người là khác
nhau rõ rệt. Cụ thể, trong giai đoạn 1995- 2000, lượng điện tiêu thụ theo đầu người tăng
chậm, gấp 1,855 lần trong 6 năm, bình quân mỗi năm tăng 22,174 KWh/ người). Đến giai
đoạn 2000 – 2014, lượng điện tiêu thụ đầu người tăng nhanh, gấp 4,286 trong 14 năm
(bình quân mỗi năm tăng 77,185 KWh/ người)
Nguyên nhân của sự thay đổi đột ngột này là do Việt Nam bị ảnh hưởng của
khủng hoảng Tiền tệ các nước Châu Á giai đoạn 1995 – 2000, làm cho nền kinh tế phát
2.5.2: Công nghiệp:
Sự thay đổi năng lượng của công nghiệp không đáng kể, đều có xu hướng tăng
trong các năm. Đó cũng là điều dễ hiểu khi nước ta bước vào thời kỳ hội nhập quốc tế,
lấy công nghiệp làm chú trọng để phát triển đất nước. Duy chỉ có trong những năm từ
2004 đến 2008, sự thay đổi diễn ra chậm hơn so với những năm khác là do sự thiếu hụt
năng lượng, khi mà lượng năng lượng sản xuất không đủ cung ứng cho nhu cầu trong
nước.
Năm 2008, chịu sự ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới, vậy mà
nhu cầu năng lượng cho công nghiệp vẫn tăng đều theo từng năm. Một dấu hiệu cho thấy
được sự phát triển của nền công nghiệp nước nhà.
2.5.2 Thương nghiệp:
Nhìn vào biểu đồ, có thể thấy được rằng, thương nghiệp chịu ảnh hưởng của sự
tăng giảm GDP. Khi GDP tăng thì hệ số đàn hồi về thu nhập của thương nghiệp tăng và
ngược lại. Được thấy rõ nhất trong 3 khoảng: khoảng 1997 – 2000, khoảng 2000 – 2007,
khoảng 2008 – 2014.
Khoảng 1997 – 2000: do chịu ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính khu
vực châu Á. Do đó, GDP khoảng này khá thấp chỉ còn 4.77% vào năm 1999, lạm phát
nếu năm 1996 ở mức 4,5%, năm 1997 ở mức 3,6%, thì năm 1998 lên mức 9,2%. Giá
USD nếu năm 1995 giảm 0,6%, 1996 tăng 1,2%, thì năm 1997 tăng 14,2%, năm 1998
tăng 9,6%. Do đó, thương nghiệp những năm này hoạt động khá hạn chế, mức sử dụng
năng lượng giảm tới 1.64 % trong năm 1999, một mức giảm kỷ lục.
Khoảng 2000 – 2007: Do độ mở của kinh tế Việt Nam khoảng này chưa cao
(xuất khẩu so với GDP mới đạt 30%, đồng tiền chưa chuyển đổi), do đã có dầu thô, gạo,
xuất khẩu với khối lượng lớn, do có sự chủ động ứng phó từ trong nước, nên Việt Nam
đã không bị cuốn hút vào vòng xoáy của cuộc khủng hoảng này và dần dần đã vượt qua.
Tăng trưởng kinh tế cao dần lên, bình quân thời kỳ 2000 - 2007 đã đạt 7,63%/năm, kéo
theo đó là sự phát triển của thương nghiệp tăng trung bình 1.88%/năm. Tuy nhiên, năm
2007, thương nghiệp tăng khá ít (1.55%), đây cũng là điều dễ hiểu khi chuẩn bị bước
sang năm 2008, năm khủng hoảng nền kinh tế thế giới.
Khoảng 2008 – 2014: Tăng trưởng kinh tế của Việt Nam năm 2008 giảm
cho các ngành mũi nhọn như công nghiệp và dịch vụ tăng lên nhanh chóng. Chính vì thế
mà trong cơ cấu tiêu thụ điện của Việt Nam, công nghiệp và dịch vụ đang dần chiếm tỉ
trọng cao. Tuy nhiên, việc sử dụng điện năng phục vụ cho quá trình phát triển đất nước
vẫn còn gặp một số vấn đề như sau:
Thứ nhất, sử dụng năng lượng tiết kiệm hiệu quả vẫn chưa đạt được: Hiện mới tiết
kiệm được trong dân cư, còn trong sản xuất công nghiệp vẫn chưa đạt; Cơ cấu sử dụng
điện ở Việt Nam còn rất lãng phí. Trong cơ cấu điện cung cấp cho nền kinh tế thì 53,9%
(năm 2013 là 52%) sản lượng điện là phục cho sản xuất công nghiệp, xây dựng, nhưng lại
chỉ làm ra 38% GDP. Trong khi với các ngành nghề khác như thương mại, dịch vụ chỉ
cần 4,9% sản lượng điện đã làm ra 49,5% GDP và 1,5% sản lượng điện làm ra 18% GDP
cho nông lâm thủy sản, v.v… Hiện nay, ngành công nghiệp còn sử dụng công nghệ cũ,
như xi măng vẫn sử dụng công nghệ lạc hậu, nên sử dụng điện chưa tiết kiệm.
Thứ hai là Chính phủ yêu cầu năm 2015 EVN phải giảm tổn thất điện năng về 8%
nhưng tới nay vẫn còn 8,6%. Trong khi đó, việc giải bài toán giảm tổn thất điện năng đối
với EVN không hề dễ khi nguồn điện chủ yếu tập trung ở khu vực miền Bắc, trong khi
nguồn tải lại ở miền Nam, truyền tải luôn quá tải trên hệ thống điện.
Do đó, nhà nước đã và đang rất quan tâm đến việc sử dụng năng lượng nói chung,
tiêu thụ điện nói riêng. Nhà nước có nhiều biện pháp giúp cho vấn đề này như ban hành
Luật sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả, rồi có những chính sách hỗ trợ và
khuyến khích sử dụng năng lượng sạch, năng lượng tái tạo v.v… Tuy nhiên, để đạt hiệu
quả cao nhất thì cần phải xuất phát từ cá nhân, tổ chức tiêu thụ năng lượng. Việc nâng
cao ý thức, hiểu biết sử dụng Năng lượng cho cá nhân, tổ chức v.v là điều rất cần thiết.