chuyên đề giải toán có lời văn lớp 5 - Pdf 28

PHÒNG GIÁO DỤC ĐÀO TẠO DI LINH
TRƯỜNG TIỂU HỌC ĐINH TRANG HOÀ II
GIẢI PHÁP: MỘT SỐ BIỆN PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG GIẢI TOÁN
CÓ LỜI VĂN KHỐI 5.
I LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI:
Trong chương trình toán 5 nói riêng và chương trình toán tiểu học nói
riêng đều bao gồm 5 mạch kiến thức: Số học và các phép tính; Đại lượng và đo
các đại lượng; Các yếu tố hình học; Một số yếu tố thống kê và tỉ lệ bản đồ và
Giải toán có lời văn.Trong 5 mạch kiến thức nói trên thì giải toán có lời văn là
dạng toán mà học sinh gặp nhiều khó khăn nhất. Giải toán có lời văn là dạng
toán đòi hỏi HS kĩ năng phân tích tổng hợp ; khả năng trừu tượng hoá, khái quát
hoá cao hơn so với các dạng toán khác và được nâng dần từ thấp đến cao so
vớibậc học.Khảo sát chất lượng đầu năm học 2007-2008 thì có 100% số HS
khối 5 của trường tiểu học Đinh Trang Hoà II không thực hiện được phần giải
toán. Đây là một trong những khó khăn của khối khi dạy môn toán nói chung và
dạy môn toán có lời văn nói riêng . Vì vậy tổ quyết định chọn nội dung “ Nâng
cao chất lượng giải toán có lời văn” nhằm mục đích đề xuất một số biện pháp
nhằm nâng cao chất lượng môn toán khối 5.
II.PHÂN TÍCH MỘT SỐ NGUYÊN NHÂN
-Trong mạch kiến thức giải toán có lời văn bao gồm nhiều dạng bài: dạng toán
đơn , dạng toán hợp, dạng toán điển hình, dạng toán có nội dung liên quan đến
hình học, Đa số các dạng toán đơn thì HS làm được, song các bài toán từ 2
phép tính trở lên thì đa số học sinh yếu không làm được bởi một số nguyên nhân
sau:
-Kĩ năng đọc đề , phân tích đề của HS còn hạn chế.
-Kĩ năng nhận dạng toán , nắm các bước giải trong từng dạng toán còn lúng
túng.
-Chưa biết lập kế hoạch giải bài toán.
-Khả năng phân tích , tổng hợp, khái quát hoá vấn đề còn nhiều hạn chế.
-Kĩ năng đặt lời giải, kĩ năng tính toán của học sinh còn gặp nhiều khó khăn.
-Học sinh chưa được luyện tập thường xuyên, nên thường nhầm lẫn giữa các

+ Đề bài toán: Đề bài toán gồm 3 yếu tố :Có 3 yếu tố:
-Dữ kiện: là cái đã cho của bài toán thể hiện bằng các số liệu, các sự kiện ẩn
tàng.
-Ẩn số: số phải tìm, thường là được thể hịên trong câu hỏi chính của bài.
-Các điều kiện: Là mối tương quan giữa các dữ kiện với nhau hoặc mối tương
quan giữa các dữ kiện với ẩn số.
+Quy trình giải toán: Gồm 4 bước:
-Bước 1:+Hướng dẫn HS nghiên cứu kĩ đầu đề bài toán : đọc đề bài, tìm hiểu
yêu cầu bài toán ( gồm 2 câu hỏi: bài toán cho biết gì? hỏi gì?);
+ Giải thích các từ lạ, câu lạ trong bài.
+ Tóm tắt đầu đề bài toán .
-Bước 2: Dùng phương pháp phân tích lập nên một số câu hỏi, sau đó dùng
phương pháp đàm thoại gợi mở hướng dẫn học sinh tìm ra hướng giải quyết.
( lập kế hoạch giải)
-Bước 3 : Trình bày bài giải.
-Bước 4: Đánh giá lại cách giải và thử lại.
b> Ý nghĩa của giải bài toán có lời văn
+ Là xuất phát điểm, là động cơ hình thành kiến thức mới.
+ Việc giải bài toán là động lực củng cố ôn tập lại kiến thức đã học .
+ Là phương tiện để rèn luỵên kĩ năng toán học và vận dụng kiến thức toán học
vào thực tế.
+ Là phương tiện phát triển năng lực tư duy toán học.
+Góp phần rèn luyện , giáo dục những đức tính tốt đẹp , phong cách làm việc
của con người lao động.( Đức tính: kiên trì , nhẫn nại, cẩn thận. Phong cách:
Biết phát hiện , nêu vấn đề, giải quyết vấn đề và kết luận có căn cứ)
c> Tư duy giải toán:Gồm 5 thao tác:
+ Tư duy giải toán 1: Xác định yêu cầu bài toán.
+ Tư duy 2: Phân tích bài toán thành từng bước giải cụ thể và theo một trình tự
nhất định.
+ Tư duy 3: HS mô tả chính xác từng bước giải và cách thực hiện từng bước đó.

a. Đối vối loại toán đơn.
Loại bài này giúp giáo viên hình thành kiến thức mới( Bài toán được coi như
một phương tiện trực quan để hình thành một phép tính về số học). Bài toán
được coi như một phương tiện trực quan để hình thành một phép tính liên quan
đến bài học.
Ví dụ :Bình chơi 3 ván cờ hết 3 phút 30 giây. Hỏi trung bình mỗi ván cờ Bình
chơi hết bao nhiêu thời gian?
-Bài toán trên đây cũng là dạng toán có lời văn song qua việc phân tích tìm hiểu
bài toán , gv hình thành cho HS phép chia số đo thời gian cho một số. Mục tiêu
của bài toán là giúp HS hình thành phép chia số đo thời gian. Thông thường
những bài tập này là bài tập dạng đơn giản.
+ Loại thứ hai là dạng toán điển hình.
Đối với các bài toán thuộc dạng điển hình, GV phải giúp HS nắm được vấn đề
để từ đó HS khái quát được vấn đề , hình thành cách tính hoặc các công thức
tính toán.
* Gv phải giúp HS Nắm được các thuật ngữ, các khái niệm trong các dạng toán
điển hình: quan hệ tỉ lệ, Vận tốc, tỉ số phần trăm vv Những dạng toán dựa trên
những kiến thức đã học để phát triển bài mới .
-Ví dụ: Một ô tô đi được quãng đường dài 170 km hết 4 giờ. Hỏi trung bình mỗi
giờ ô tô đi dược bao nhiêu ki-lô-mét?
-Mục tiêu của bài toán này là giúp HS biết cách tìm vận tốc khi biết quãng
đường và thời gian đi, nhưng khi hướng dẫn HS giải GV lại dựatrên các dạng
toán đã học để giải( Bài toán liên quan đến rút về đơn vị hoặc bài toán về trung
bình cộng). Sau khi HS giải quyết được vấn đề GV giúp HS hình thành được
khái niệm mới: Vận tốc; hình thành được quy tắc tính vận tốc; đơn vị đo vận tốc
( km/giờ; m/giây; m/ phút,). Để liên hệ vào thực tế GV còn cho HS tìm một số
ví dụ trong thực tế để các em khắc sâu khái niệm và cảm thấy toán học thật gần
gũi với cuộc sống.
-Gv cần dựavào tình hình của lớp để có phương pháp cụ thể kết hợp với sự nhận
thức của học sinh.Gv cần thực hiên lược đồ 4 bước giải toán: tìm hiểu đề –tóm

số học sinh nữ. Hỏi số
học sinh nữ nhiều hơn số học sinh nam là bao nhiêu? (SGK toán 5/ )
-Bước 1: GV yêu cầu HS đọc kĩ đề bài ( cho HS trao đổi yêu cầu bài toán : bài
toán cho biết gì? Hỏi gì? Bài toán này thuộc dạng toán nào?)
-Tóm tắt bài toán ( Bằng sơ đồ thể hiện tổng và tỉ số).
-Bước 2: Lập kế hoạch giải:
GV hướng dẫn HS lập kế hoạch giải bằng cách đưa ra các câu hỏi đàm thoại và
GV hình thành lược đồ từ cuối.
H: Muốn biết số HS nữ nhiều hơn số HS nam là bao nhiêu ta làm như thế nào?
( Lấy số HS nữ của lớp trừ đi số HS nam của lớp.)
H: Số HS nữ biết chưa? Số HS nam biết chưa?( Chưa)
H: Muốn biết số HS nữ, số HS nam ta dựa vào dạng toán đã học?(Tổng và tỉ số)
H: Muốn biết số HS nữ( nam) của lớp ta làm như thế nào?( Dựa vào số HS cả
lớp vàsố HS nam bằng
3
4
số HS nữ.)
Yêu cầu hS nhắc lại cách tìm số lớn, số bé trong dạng toán tìm hai số khi biết
tổng và tỉ số.
GV lập lược đồ:

Muốn tìm số HS nữ nhiều hơn số HS nam:

Số HS nữ- số HS nam

Số HS cả lớp: tổng số phần x 4 Số HS cả lớp- số HS nữ.
Bước 3: GV yêu cầu HS giải bài tập:
Số học sinh nữ của lớp 5 A là:
35: (3+4) x 4= 20 ( học sinh)
Số học sinh nam của lớp đó là:

nhóm 2, nhóm tổ, nhóm các đối tượng HS, ). Để phát huy hết hiệu quả tiết
dạy.
+Về phương pháp:
Coi trọng các phương pháp vấn đáp , luyện tập thực hành. Cần phối hợp linh
hoạt các phương pháp để nâng cao chất lượng tiết dạy.
+ Đối với HS:
Yêu cầu HS tính toán chính xác.
-Học thuộc các quy tắc, nắm chắc các dạng bài đã học.
-Rèn thói quen phân tích tổng hợp đối với các bài toán có lời văn.
Trên đây là một số giải pháp tôi đã vận dụng vào quá trình dạy toán lớp 5
và đã gặt hái được những kết quả nhất định. Là một người giáo viên, không
ngừng học hỏi để bổ túc kiến thức cho bản thân để hoàn thiện chính mình. Trang
bị cho mình những kiến thức thì sẽ gặt hái được thành công. Tôi rất mong sự
góp ý, chia sẻ của đồng nghiệp để hoàn thiện chính mình. Tôi xin chân thành
cảm ơn.
Đinh Trang Hòa, ngày 31 tháng 3 năm 2009
Người viết
Lê Thị Hải


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status