CHUYÊN ĐỀ SỬ DỤNG BẢN ĐỒ TƯ DUY TRONG DẠY HỌC ĐỊA LÍ - Pdf 28

CHUYÊN ĐỀ
SỬ DỤNG BẢN ĐỒ TƯ DUY TRONG DẠY HỌC ĐỊA LÍ
I/ Đặt vấn đề:
Địa lí là môn học cung cấp cho học sinh những kiến thức cơ bản, cần thiết
về Trái Đất và những hoạt động của con người trên bình diện quốc gia và quốc
tế, làm cơ sở cho hình thành thế giới quan khoa học; giáo dục tư tưởng tình cảm
đúng đắn; đồng thời rèn luyện cho học sinh các kĩ năng hành động, ứng xử phù
hợp với môi trường tự nhiên, xã hội, phù hợp với yêu cầu của đất nước và xu thế
của thời đại. Cùng với các môn học khác, môn Địa lí góp phần bồi dưỡng cho
học sinh ý thức trách nhiệm, lòng ham hiểu biết khoa học, tình yêu thiên nhiên,
con người và đất nước. Theo đó, mục tiêu của môn Địa lí chú trọng đến việc
hình thành và rèn luyện cho học sinh các năng lực cần thiết của người lao động
mới. Để đạt được mục tiêu này thì cần thiết phải có sự đổi mới sách giáo khoa
và phương pháp dạy học một cách phù hợp và tương xứng.
Quán triệt những đổi mới về mục tiêu, chương trình Địa lí Trung học cơ sở được
thiết kế thành 03 mảng lớn có quan hệ chặt chẽ với nhau. Các bộ phận cơ bản
này của chương trình có mục đích cung cấp cho học sinh các kiến thức cơ bản
về:
+ Trái Đất - Môi trường sống của con người (cấu tạo, vận động, các thành phần
tự nhiên và tác động qua lại giữa chúng, một số qui luật của môi trường tự nhiên
trên Trái Đất)
+ Thiên nhiên và con người ở các Châu lục (các hoạt động của dân cư trên Trái
Đất; mối quan hệ giữa dân cư, hoạt động sản xuất và môi trường, đặc điểm tự
nhiên, dân cư, kinh tế - xã hội của một số khu vực, quốc gia trên thế giới).
+ Địa lí Việt Nam (đặc điểm tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên, dân cư, kinh tế và
những vấn đề đặt ra đối với tự nhiên, dân cư, kinh tế - xã hội của đất nước, của
các vùng và địa phương nơi HS đang sống).
Tất cả những kiến thức này đều có mối quan hệ qua lại và tác động lẫn nhau, đòi
hỏi ở người học không chỉ khả năng tiếp nhận thông tin đơn thuần mà cần biết
cách phân tích, so sánh, liên kết các vấn đề để tìm ra kiến thức. Phù hợp với
chương trình mới, sách giáo khoa được biên soạn theo hướng tạo điều kiện để

phương pháp sử dụng BĐTD trong dạy học địa lí như là một gợi ý để giáo viên
tham khảo, vận dụng và cùng nhau bàn luận trong lần sinh hoạt chuyên môn này
để việc dạy học có kết quả tốt hơn.
II/ Cơ sở lí luận:
Vài phương pháp sử dụng bản đồ tư duy trong dạy học địa lí:
1/ Khái niệm bản đồ tư duy là gì?
Bản đồ tư duy ( Mind map ) là phương pháp được đưa ra để tận dụng khả
năng ghi nhận hình ảnh của bộ não. Đây là cách ghi nhớ chi tiết để tổng hợp hay
để phân tích một vấn đề ra thành một dạng của vấn đề phân nhánh. Khác với
máy tính ngoài khả năng ghi nhớ kiểu tuyến tính ( ghi nhớ theo một trình tự nhất
định ) thì bộ não có khả năng tạo sự liên kết các dữ liệu với nhau. Phương pháp
này khai thác cả hai khả năng này của bộ não.
Đây là một kĩ thuật để nâng cao cách ghi chép. Bằng cách dùng bản đồ tư
duy, tổng thể của một vấn đề được chỉ ra dưới dạng một hình vẽ, trong đó các
đối tượng liên hệ với nhau băng các đường nối, với cách biểu diễn như vậy các
dữ liệu được ghi nhớ và hấp thu dễ dàng hơn, nhanh chóng hơn.
Thay vì dùng chữ viết để miêu tả một chiều, bản đồ tư duy biểu thị toàn
bộ cấu trúc chi tiết của một đối tượng bằng hình ảnh hai chiều. Nó chỉ ra dạng
thức của một đối tượng, sự quan hệ hổ tương giữa các khái niệm có liên quan và
cách liên hệ giữa chúng với nhau bên trong một vấn đề.
Bản đồ tư duy là một công cụ tổ chức tư duy. Đây là phương pháp dễ nhất
để chuyển tải thông tin vào bộ não của bạn rồi đưa thông tin ra ngoài bộ não. Nó
là phương pháp ghi chép đầy sáng tạo và rất hiệu quả theo đúng ý nghĩa của nó:
Sắp xếp ý nghĩ của bạn.
2/Bản đồ tư duy giúp gì cho bạn:
Các nhà nghiên cứu cho rằng với cách thể hiện gần như cơ chế hoạt động
của bộ não Bản đồ tư duy giúp:
1/ Sáng tạo hơn
2/ Tiết kiệm thời gian hơn
2

Ví dụ trong bài : Các nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển và phân bố nông
nghiệp ( Địa 9), Nếu giáo viên trình bày theo phương pháp truyền thống thì vấn
đề trình bày sẽ dàn trải hết nhân tố này đến nhân tố khác, học sinh sẽ không nhớ
được các nhân tố đồng thời không thấy được mối quan hệ giữa các nhân tố.Giáo
viên dạy và trình bày bài này theo hướng sử dụng BĐTD ở phần bảng phụ bằng
hệ thống câu hỏi tổng hợp để học sinh trả lời được : Các nhân tố ảnh hưởng đến
sự phát triển và phân bố nông nghiệp được chia thành 2 nhóm các nhân tố tự
nhiên và các nhân tố KT-XH. Đồng thời với câu trả lời của học sinh GV vẽ 2
nhánh cấp 1. Tất nhiên trong vở học sinh không thể vẽ một bản đồ tư duy ngoằn
ngoèo mà GV nói chúng ta tìm hiểu các nhân tố tự nhiên trước và cho HS ghi
phần I/ Các nhân tố tự nhiên,Tiếp đó GV cho HS nêu các nhân tố tự nhiên
hoặcKTXH bao gồm những nhân tố nào, đồng thời vẽ ra tiếp các nhánh cấp 2.
Sau đó GV cho HS tìm hiểu từng nhân tố và tiếp tục thể hiện trên bản đồ tư duy
các nhánh cấp 3,4…đồng thời cho HS ghi vào vở từng nhân tố, Việc thể hiện tất
cả các nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển và phân bố nông nghiệp xung quanh
3
từ trung tâm đã mang lại cái nhìn tổng thể về các nhân tố ảnh hưởng đến nông
nghiệp và có thể ghi nhớ một cách dễ dàng không máy móc.Học sinh lại cũng
thấy được các nhân tố tự nhiên đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển và
phân bố nông nghiệp còn các nhân tố kinh tế- xã hội lại có vai trò quyết định sự
phát triển và phân bố nông nghiệp.
Sử dụng BĐTD để thể hiện phần nội dung này là hợp lí vì yêu cầu phù
hợp với mọi đối tượng học sinh, thông tin đầy đủ, không mất nhiều thời gian và
nội dung được thể hiện rõ ràng.
Với cách học này cả giáo viên và học sinh đều phải tham gia vào quá
trình dạy học tích cực hơn. Giáo viên vừa giảng bài vừa thể hiện trên BĐTD ,
vừa tổ chức cho học sinh khai thác kiến thức vừa hoàn thành BĐTD. Học sinh
được nghe giảng, nhìn bản đồ, trả lời câu hỏi, đọc sách giáo khoa, ghi chép…sự
tập trung chú ý được phát huy, cường độ học tập theo đó cũng được đẩy nhanh,
học sinh học tập tích cực hơn và thông qua bài này giáo viên cũng đã cho học

* Thường xuyên cho học sinh tiếp cận với bản đồ tư duy cả trong quá
trình kiểm tra bài cũ, giảng bài mới, củng cố bài, chuẩn bị bài mới ở nhà để giúp
học sinh vẽ, đọc được bản đồ tư duy. Qua đó học sinh hứng thú học tập, rèn
luyện được những kĩ năng sống cần thiết như kĩ năng tự nhận thức, kĩ năng giao
tiếp, kĩ năng tư duy.
B- Ở nhà:
- Dựa vào nội dung sách giáo khoa, sách giáo viên, các tài liệu tham khảo,
chúng tôi chú trọng những vấn đề sau:
+ Lựa chọn đúng những kiến thức trọng tâm trong từng mục, từng bài,
từng nhóm bài để xây dựng bản đồ tư duy .
+ Xác lập những mối quan hệ cơ bản giữa các đối tượng địa lí để vẽ bản
đồ tư duy
5/ Vài phương pháp hướng dẫn học sinh vẽ và đọc bản đồ tư duy:
A- Phương pháp vẽ bản đồ tư duy:
* Dùng bút màu bắt đầu từ giữa trang giấy nếu thuận tiện đặt ngang tờ
giấy để có nhiều khoảng trống ở hai bên hơn, sau đó thực hiện các bước sau:
1/ Viết theo kiểu chữ in chủ đề hoặc ý tưởng chính ở giữa trang giấy, sau
đó đóng khung băng hình tròn, hình vuông hoặc hình chữ nhật Nếu có thể
chúng ta sẽ bắt đầu từ trung tâm với hình ảnh chủ đề vì một hình ảnh có thể diễn
đạt cả nghìn từ và giúp bạn sử dụng trí tưởng tượng của mình . Một hình ảnh ở
trung tâm sẽ giúp ta tập trung vào chủ đề và làm cho chúng ta hưng phấn hơn .
5
2/ Luôn sử dụng màu sắc vì màu sắc củng có tác dụng kích thích não như
hình ảnh.
3/ Từ trung tâm kéo các nhánh chính ( cấp 1) ra , mỗi nhánh dùng diễn tả
một điểm quan trọng nhất hoặc ý tưởng chính. Viết một từ hoặc một cụm từ
chính lên mỗi nhánh. Cụm từ chính là cụm từ chuyển tải được phần hồn của một
ý tưởng và kích thích bộ nhớ của chúng ta . Sau đó từ các nhánh cấp 1 kéo các
nhánh cấp 2 ra. Số nhánh phụ thuộc các ý tưởng. Tiếp đến là các nhánh cấp 3,
4 các đường kẻ càng gần hình ảnh (hoặc chủ đề) trung tâm thì càng được tô

theo chiều kim đồng hồ để học sinh thấy được mối quan hệ giữa các yếu tố địa
lý .
Ví dụ : Trong bài: “Điều kiện tự nhiên khu vực Nam Á”
7
B - Cách đọc bản đồ tư duy môn địa lý:
Từ trung tâm đọc ra, đọc hết các nhánh ở cấp 1 trước vì đây là những ý
hoặc những nội dung cơ bản của một vấn đề, sau đó quay lại đọc nội dung từng
nhánh cấp 1 ra các nhánh cấp 2, 3 .
Ví dụ: Ở lớp 6 Trong bài : “ Sự chuyển động của nước trong các biển và
đại dương”. Học sinh sẽ đọc sự chuyển động của nước trong các biển và đại
dương sinh ra các hiện tượng sóng, thủy triều và các dòng biển. Sau đó đọc tiếp
các nhánh cấp 2: Khái niệm, nguyên nhân tác dụng, tác hại của sóng, thủy triều,
dòng biển. Học sinh có thể đọc nhánh nào khác cũng được chứ không cần đọc
theo thứ tự nào.
Đối với chương trình địa lý các Châu, các vùng kinh tế ở lớp 7, 8 , 9 . Khi
tìm hiểu về một Châu lục, khu vực, một vùng kinh tế nào đó về tự nhiên. Để học
sinh thấy được mối quan hệ giữa vị trí - địa hình - khí hậu - sông ngòi - cảnh
quan Giáo viên hướng dẫn cho học sinh đọc theo trình tự mà giáo viên đã
hướng dẫn học sinh vẽ. Tất nhiên học sinh cũng bắt đầu đọc hết các nhánh cấp 1
trước để thấy được nội dung chính cần tìm hiểu về một Châu, một khu vực, một
vùng kinh tế và luôn có ý thức về mối quan hệ giữa các yếu tố địa lý .
8
III/ Kết quả: Nhìn chung, có thể sử dụng BĐTD trong tất cả các khâu của quá
trình lên lớp từ kiểm tra bài cũ, triển khai bài mới đến củng cố kiến thức, giao
bài về nhà; từ việc thể hiện lượng kiến thức nhỏ đến lớn, từ đơn giản đến phức
tạp; từ việc học cá nhân đến nhóm, tập thể…Giáo viên cần nghiên cứu nội dung
chương trình, nội dung bài học, lựa chọn ra những phần, những bài có khả năng
áp dụng BĐTD. Sau đó, giáo viên phân tích nội dung bài dạy, tìm ra những vấn
đề, những biểu tượng, khái niệm cần hình thành và truyền đạt cho học sinh, xác
định các dạng bài tập với BĐTD phù hợp với đối tượng học sinh, quỹ thời gian,


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status