SVTH: Lê Văn Hải – K36603030 GVHD: ThS. Nguyễn Thị Kim Liên
1
Mục lục
I. PHẦN MỞ ĐẦU 2
I.1 Lý do chọn đề tài 2
I.2 Mục đích 2
I.3 Nhiệm vụ 2
I.4 Phương pháp nghiên cứu 3
II. PHẦN NỘI DUNG 4
II.1 Khái niệm và nguồn gốc bản đồ tư duy 4
II.2 Sử dụng bản đồ tư duy trong dạy và học 5
II.2.1 Cách xây dựng bản đồ tư duy 5
II.2.2 Phần mềm hỗ trợ xây dựng Bản đồ tư duy 6
II.2.3 Sử dụng bản đồ tư duy trong quá trình dạy 9
II.2.4 Hướng dẫn học sinh sử dụng bản đồ tư duy trong quá trình học 10
II.2.5 Một số gợi để sử dụng hiệu quả sơ đồ tư duy trong dạy và học 10
II.3 Một số bài dạy Địa lí phổ thông có thể sử dụng bản đồ tư duy 12
III. Kết luận 19
Tài liệu tham khảo 20
SVTH: Lê Văn Hải – K36603030 GVHD: ThS. Nguyễn Thị Kim Liên
2 I. PHẦN MỞ ĐẦU
I.1 Lý do chọn đề tài
Đổi mới nền giáo dục là quá trình lâu dài và đổi mới đòi hỏi sự toàn diện,
đồng bộ ở tất cả các khía cạnh, lĩnh vực. Đó là sự đổi mới nội dung chương trình
giáo dục, đổi mới phương pháp dạy học, đổi mới môi trường dạy học, Mục đích đổi
mới của nền giáo dục h.nh thành những xu hướng dạy học (quan điểm dạy học), từ
- Phương pháp thu thập tài liệu: Dựa vào các nguồn cung cấp tài liệu từ sách, báo,
internet, thu thập các tài liệu có liên quan để phục vụ cho việc nghiên cứu đề tài.
- Phương pháp phân tích, tổng hợp lí thuyết: Dựa trên những tài liệu thu thập được, tôi
đã tiến hành phân tích, chỉ ra nhưng nét chính lớn, những điểm khái quát nhất của lí
thuyết, từ đó phát biểu thành những ý cô đọng. Tìm ra những nét đặc thù, cấu trúc
của đề tài.
- Phương pháp so sánh: Trong quá trình thực hiện để tài, tôi đã tiến hành so sánh với
phương pháp giảng bài truyền thống, lấy người giáo viên làm trung tâm với phương
pháp giảng bài có ứng dụng bản đồ từ duy. Từ đó đúc kết được những ưu điểm mà
bản đồ tư duy mang lại trong việc tiếp thu, phát triển tư duy cho học sinh phổ thông.
SVTH: Lê Văn Hải – K36603030 GVHD: ThS. Nguyễn Thị Kim Liên
4 II. PHẦN NỘI DUNG
II.1 Khái niệm và nguồn gốc bản đồ tư duy
Những năm 70 của thế kỉ XX, Tony Buzan đã đưa ra mô hình và phổ biến
rộng rãi phương pháp sơ đồ tư duy (mind mapping). Đây là phương pháp được sử
dụng để ghi chú và trình bày thông tin dưới dạng sơ đồ. Sau đó, Nancy Margulies đã
phát triển công cụ này (hiện nay vẫn được các nhà khoa học cải tiến), đồng thời kết
hợp nó với những thành quả đạt được trong các ngành khoa học nhận thức, phương
pháp hệ thống, ngành đồ họa và nhân học.
Phương pháp sử dụng bản đồ tư duy được chính thức nghiên cứu từ thập niên
70 và đã nhanh chóng phổ biến trên thế giới. Hiện nay hơn 250 triệu người trên thế
giới sử dụng bản đồ tư duy, đã và đang đem lại những hiệu quả thực sự, nhất là trong
lĩnh vực giáo dục và kinh doanh.
Bản đồ tư duy (Mindmap) là phương tiện mạnh để tận dụng khả năng ghi nhận hình
ảnh của bộ não. Bản đồ tư duy là hình thức ghi chép nhằm tìm tòi đào sâu, mở rộng
một ý tưởng, tóm tắt những ý chính của một nội dung, hệ thống hóa một chủ đề…
bằng cách kết hợp việc sử dụng hình ảnh, đường nét, màu sắc, chữ viết.
nhiều do bộ não của chúng ta làm việc bằng sự liên tưởng.
Hình 1: Cách vẽ bản đồ tư duy
SVTH: Lê Văn Hải – K36603030 GVHD: ThS. Nguyễn Thị Kim Liên
6 Mỗi từ/ảnh/ý nên đứng độc lập và được nằm trên một đường kẻ
Tạo ra một kiểu bản đồ riêng cho mình (Kiểu đường kẻ, màu sắc,…)
Nên dùng các đường kẻ cong thay vì các đường thẳng vì các đường cong được tổ
chức rõ ràng sẽ thu hút được sự chú ý của mắt hơn rất nhiều
Bố trí thông tin đều quanh hình ảnh trung tâm
II.2.2 Phần mềm hỗ trợ xây dựng Bản đồ tư duy
Cùng với sự ứng dụng nhanh chóng công nghệ thông tin vào việc dạy học, các
nhà lập trình trên thế giới đã xây dựng nhiều phần mềm vẽ bản đồ tư duy như
iMINDMAP, FREEMIND, Mindjet MindManager Pro… Bên cạnh những thuận lợi
mà các chương trình này mang lại như dễ dàng sử dụng vào việc thiết kế giáo án điện
tử, vẽ nhanh, gọn, không làm mất nhiều thời gian của giáo viên còn là rất nhiều hạn
chế, các chương trình còn thiết kế sơ sài, khả năng sáng tạo bị hạn chế, độ hấp dẫn và
độ tư duy trong bản đồ thấp, thường dễ gây nhàm chán cho học sinh nếu giáo viên
lạm dụng các chương trình này quá nhiều. Tóm lại, trong quá trình dạy học, giáo viên
nên kích thích sự sáng tạo và tư duy học sinh bằng cách sử dụng những bản đồ vẽ
trên giấy truyền thống. Trong phần dưới đây, tác giả sử dụng phần mềm Mindjet
MindManager Pro để tạo bản đồ tư duy, đây là phần mềm rất thông dụng và dễ sử
dụng cho nhưng người mới lần đầu tập vẻ bản đồ tư duy trên máy.
HƯỚNG DẪN SỬ DỤNG NHANH MINDJET MIND MANAGER
Sử dụng Open - Import - Save - Print - Send - Export của Mindjrt Mind Manager :
Chèn note, hình ảnh:
Trên là những tính năng cơ bản, sau khi hoàn chỉnh Bản đồ tư duy, chúng ta xuất file
tương tự các ứng dụng office khác, vào file – save as – chọn nơi lưu – đuôi (ảnh, ppt,
doc,…) – OK, như vậy chúng ta đã có một bản đồ tư duy để sử dụng vào việc dạy học Địa
lí bằng giáo án điện tử.
II.2.3 Sử dụng bản đồ tư duy trong quá trình dạy
Trong quá trình giảng dạy, các giáo viên có thể sử dụng Bản đồ tư duy trong các
bước lên lớp, tùy vào yêu cầu nội dung bài học và trình độ của học sinh:
SVTH: Lê Văn Hải – K36603030 GVHD: ThS. Nguyễn Thị Kim Liên
10 - Sử dụng Bản đồ tư duy trong việc kiểm tra kiến thức cũ
- Sử dụng Bản đồ tư duy trong việc giảng bài mới
- Sử dụng Bản đồ tư duy trong việc củng cố kiến thức
- Sử dụng Bản đồ tư duy để ra bài tập về nhà
II.2.4 Hướng dẫn học sinh sử dụng bản đồ tư duy trong quá trình học
Cho HS làm quen với bản đồ tư duy bằng cách giới thiệu cho HS một số “bản
đồ” cùng với dẫn dắt của GV để các em làm quen. Tập “đọc hiểu” BĐTD, sao cho
chỉ cần nhìn vào BĐTD bất kỳ HS nào cũng có thể thuyết trình được nội dung một
bài học hay một chủ đề, một chương theo mạch lôgic của kiến thức.
Hướng cho HS có thói quen tư duy lôgic theo hình thức sơ đồ hoá trên BĐTD.
Từ một vấn đề hay chủ đề chính đưa ra các ý lớn thứ nhất, ý lớn thứ hai, thứ
ba mỗi ý lớn lại có các ý nhỏ liên quan với nó, mỗi ý nhỏ lại có các ý nhỏ hơn
các nhánh này như “bố mẹ” rồi “con, cháu, chắt, chút chít” các đường nhánh có thể
là đường thẳng hay đường cong.
Cho HS thực hành vẽ BĐTD trên giấy
II.2.5 Một số gợi để sử dụng hiệu quả sơ đồ tư duy trong dạy và học
- Học sinh cũng có thể áp dụng cách xây dựng sơ đồ tư duy để ghi chép bài hoặc lập các
kế hoạch học tập.
SVTH: Lê Văn Hải – K36603030 GVHD: ThS. Nguyễn Thị Kim Liên
12
II.3 Một số bài dạy Địa lí phổ thông có thể sử dụng bản đồ tư duy
Chương trình Địa lí THPT và khả năng thiết kế các bản đồ tư duy trong việc
dạy học
Chương trình Địa lí THPT bao gồm tổng hợp các kiến thức khoa học về tự
nhiên, kinh tế - xã hội ở từng khối lớp như sau:
Lớp 10: phần Địa lí đại cương (tự nhiên, kinh tế - xã hội)
Lớp 11: phần Địa lí thế giới (các quốc gia, tổ chức, khu vực)
Lớp 12 : phần Địa lí Việt Nam (tự nhiên, kinh tế - xã hội)
Chương trình Địa lí THPT trong một năm học (37 tuần) mỗi cấp lớp được
phân bổ như sau:
Lớp 10: 52 tiết
Lớp 11: 35 tiết
Lớp 12: 52 tiết
Số lượng kiến thức khá nhiều so với thời lượng của tiết học nên việc xây thiết kế
Bản đồ tư duy vào dạy học là cần thiết để giảm tải cho học sinh.
Trong quá trình tìm hiểu các giáo án giảng dạy Địa lí phổ thông trung học, tôi có
đem ra một số bài học có thể sử dụng Bản đồ tư duy vào việc dạy học. Việc ứng
dụng và sử dụng chúng như thế nào còn phụ thuộc vào phương pháp và trình độ sư
phạm của người giáo viên. Dựa vào tình hình thực tế, khả năng sử dụng công nghệ
thông tin hoặc phương pháp thể hiện bản đồ tư duy trên giấy, bảng dạy, giáo viên nên
linh hoạt và có những sáng tạo bất ngờ về nội dung hoặc phương pháp thể hiện bản
đồ tư duy để kích thích sáng tạo của học sinh cách lâu dài và hiệu quả nhất. Dưới đây
là một số bài dạy có khả năng ứng dụng bản đồ tư duy.
Lớp 10: Bài 12 : Một số loại gió chính; Bài 13: Các nhân tố ảnh hưởng đến lượng
Hình 5: Tóm tắt kiến thức bài Trung Quốc (SGK 11) bằng Bản đồ tư duy
SVTH: Lê Văn Hải – K36603030 GVHD: ThS. Nguyễn Thị Kim Liên
16
Lớp 12: nội dung chương trình SGK Địa lí 12 đề cập đến các phần địa lí tự nhiên, địa
lí kinh tế, địa lí dân cư của Việt Nam. Hầu hết các bài giảng này đều có thể ứng dụng
bản đồ tư duy. Trong chương trình Địa lí THPT thì Địa lí 12 được thiết kế khá nhiều
bài, nhưng các bài dạy đều khá gọn, có cấu trúc logic rõ ràng. Ví dụ, khi trình bày thế
mạnh tự nhiên của một vùng thì ta sẽ đề cập theo thứ tự: vị trí, địa hình, khí hậu, thủy
văn, thổ nhưỡng, sinh vật…, hay khi trình bày cơ cấu ngành công nghiệp bao gồm 3
nhóm với 29 ngành. Yêu cầu của chương trình Địa lí lớp 12 đòi hỏi học sinh phải nắm
vững tất cả các đặc điểm tự nhiên cũng như xã hội, các nhân tố hình thành, các thế
mạnh cũng như khó khăn, động lực phát triển của vùng hoặc của ngành. Học sinh nắm
được các quy tắc và nếu trình bày chúng được dưới dạng Bản đồ tư duy, sẽ dễ dàng
hơn trong việc tiếp thu kiến thức.
Hình 6: Thể hiện kiến thức hiệu ứng nhà kính bằng bản đồ tư duy
SVTH: Lê Văn Hải – K36603030 GVHD: ThS. Nguyễn Thị Kim Liên
17
Hình 7: Tài nguyên du lịch ở Việt Nam
SVTH: Lê Văn Hải – K36603030 GVHD: ThS. Nguyễn Thị Kim Liên
18