Sử dụng Bản đồ tư duy trong dạy học Ngữ văn - Pdf 28

A. ĐẶT VẤN ĐỀ
I. Lý do chọn đề tài
1. Tầm quan trọng của vấn đề
Trong những năm qua, cùng với việc thực hiện một cách đồng bộ đổi mới nội
dung, chương trình, sách giáo khoa, vấn đề đổi mới phương pháp dạy học(PPDH)
nói chung, trong đó có đổi mới PPDH môn Ngữ văn luôn được các nhà khoa học
giáo dục đầu ngành của nước ta quan tâm, nghiên cứu và tìm cách cải tiến. Có thể
nói, đây là một bước đột phá của ngành Giáo dục nước nhà. Vì vậy, vấn đề này đã
được Đảng, Nhà nước ta đặc biệt quan tâm. Thực hiện nghiêm túc tinh thần Nghị
quyết 40/2000-QH10 của Quốc hội khóa 10 và Chỉ thị số14/2001/CT-TTg của Thủ
tướng Chính phủ, Bộ GD&ĐT đã đặc biệt chú trọng đến việc bồi dưỡng cho đội
ngũ giáo viên từng bước nâng cao trình độ, đổi mới PPDH, phát huy tính tích cực,
chủ động, sáng tạo của học sinh; xem đây là một nhiệm vụ vừa bức thiết lại vừa
trọng tâm xuyên suốt cả quá trình đổi mới.
Trong những năm qua, hầu hết đội ngũ giáo viên THCS trong cả nước nói
chung, ở các trường trong tỉnh, trong huyện đã được tham dự các lớp tập huấn, bồi
dưỡng chuyên môn nghiệp vụ về đổi mới PPDH do Sở, Phòng GD&ĐT tổ chức,
nội dung triển khai một số phương pháp, kĩ thuật dạy học mới. Trong đó có việc sử
dụng sơ đồ tư duy(SĐTD). Có thể khẳng định rằng đây là một trong những PPDH
rất quan trọng, vừa rất mới, rất hiện đại, lại rất khả thi, đang được nhiều nước trên
thế giới áp dụng. Qua việc tìm hiểu và vận dụng PPDH bằng SĐTD trong quá trình
dạy học, tôi nhận thấy PPDH này đã thật sự đem lại “luồng sinh khí mới” cho học
sinh trong quá trình dạy học bộ môn Ngữ văn. Bước đầu đã giảm bớt được tâm lý
chán học Văn, khơi gợi trong học sinh tình yêu đối với môn học, đồng thời đem
đến cho các em cái nhìn mới, cách tư duy mới, sự hưng phấn, lôi cuốn đối với môn
học Ngữ văn.
Tuy nhiên, việc ứng dụng SĐTD trong quá trình dạy học là vấn đề còn khó
khăn, lúng túng đối với nhiều giáo viên, trong đó có giáo viên dạy môn Ngữ văn.
Họ tỏ ra băn khoăn không biết sử dụng SĐTD vào khâu nào trong quá trình dạy
1
học? Phương pháp thiết kế SĐTD, hướng dẫn cách thức sử dụng cho học sinh ra

thuật, lại là môn học mang tính nhân văn rất cao. Bởi vậy, để học sinh học tốt môn
Ngữ Văn ở trường phổ thông nói chung, người giáo viên phải chú trọng đến
phương pháp dạy học, phải tìm tòi, sáng tạo, nghiên cứu và áp dụng những hình
thức, biện pháp tổ chức dạy học mới, hiện đại, sinh động, đưa học sinh đến với
môn học này một cách tự giác, bằng niềm say mê thật sự. Có như thế mới đáp ứng
được yêu cầu của môn học mang đậm tính nhân văn này.
Sơ đồ tư duy kế thừa, mở rộng hình thức ghi chép, sử dụng bảng biểu, sơ đồ
nhưng ở mức độ cao hơn. Nó là một công cụ tổ chức tư duy được tác giả Tony
Buzan (người Anh) nghiên cứu kỹ lưỡng và phổ biến rộng khắp trên thế giới. Có
thể khẳng định rằng PPDH bằng SĐTD là một trong những PPDH hiện đại. Nó
giúp học sinh dễ ghi nhớ, phát triển nhận thức, khả năng tư duy, óc tưởng tượng và
khả năng sáng tạo Đây là một công cụ hữu hiệu trong quá trình dạy học hiện nay.
3. Cơ sở thực tiễn
Năm học 2012 - 2013 là năm học Bộ giáo dục và đào tạo tiếp tục đổi mới
phương pháp dạy học nhằm nâng cao chất lượng dạy và học ngữ văn trong các nhà
trường phổ thông. Một trong những phương pháp dạy học mới và hiện đại nhất
được đưa vào là phương pháp dạy học bằng bản đồ tư duy (BĐTD) - một phương
pháp dạy học mới đang được rất nhiều nước trên thế giới áp dụng. Qua việc tìm
hiểu và vận dụng phương pháp dạy học bằng bản đồ tư duy, tôi nhận thấy phương
pháp dạy học này rất có hiệu quả trong công tác giảng dạy và học tập của học sinh.
Bước đầu đã giảm bớt được tâm lý ngại học văn, khơi gợi trong học sinh tình yêu
đối với môn học, đồng thời đem đến cho các em cái nhìn mới, tư duy mới về môn
học Ngữ văn. Vậy thế nào là phương pháp dạy học bằng bản đồ tư duy? Cần sử
dụng bản đồ tư duy như thế nào để nâng cao chất lượng trong các giờ học văn? Đó
là những vấn đề tôi muốn cùng được chia sẻ với các đồng nghiệp trong sáng kiến
kinh nghiệm này .
Bản đồ tư duy là hình thức ghi chép sử dụng màu sắc, hình ảnh để mở rộng và
đào sâu các ý tưởng. BĐTD một công cụ tổ chức tư duy nền tảng, có thể miêu tả
nó là một kĩ thuật hình họa với sự kết hợp giữa từ ngữ, hình ảnh, đường nét, màu
3

mà một thực trạng đáng lo ngại là học sinh bây giờ không còn thích học văn. Thực
trạng này lâu nay đã được báo động. Ban đầu chỉ đơn thuần là những lời than thở
với nhau của những người trực tiếp giảng dạy môn văn và nay đã trở thành vấn đề
của báo chí và dư luận. Ai đã trực tiếp dạy và chấm bài làm văn của học sinh trong
những năm gần đây mới thấy cần thiết phải có những thay đổi về phương pháp dạy
văn và học văn hiện nay. Qua công tác giảng dạy cũng như chấm trả các bài kiểm
tra Ngữ văn, tôi nhận thấy có rất nhiều những biểu hiện thể hiện tâm lý chán học
văn của học sinh , cụ thể là:
- Học sinh thờ ơ với Văn: Những năm gần đây, nhiều người quan tâm đến
công tác giáo dục không khỏi lo ngại trước một thực trạng, đó là tâm lý thờ ơ với
việc học văn ở các trường phổ thông. Điều đáng buồn nhất cho các giáo viên dạy
văn là nhiều học sinh có năng khiếu văn cũng không muốn tham gia đội tuyển văn.
Các em còn phải dành thời gian học các môn khác. Phần lớn phụ huynh khi đã
định hướng cho con mình sẽ thi khối A thì chỉ chủ yếu chú trọng ba môn: Toán,
Lý, Hóa. Điều đáng lo ngại hơn nữa, là có không ít phụ huynh đã chọn hướng cho
con thi khối A từ khi học tiểu học. Một bậc học mà học sinh còn đang được rèn
nói, viết, mới bắt đầu làm quen với những khái niệm về từ ngữ mà đã định hướng
khối A thì thật là nguy hại.
- Khả năng trình bày: Khi HS tạo lập một văn bản giáo viên có thể dễ dàng
nhận ra những lỗi sai cơ bản của học sinh như: dùng từ sai, viết câu sai, viết chính
tả sai, bố cục và lời văn hết sức lủng củng, thiếu logic. Đặc biệt có những bài văn
diễn đạt ngô nghê, tối nghĩa, lủng củng Đây là một tình trạng đã trở nên phổ biến
và thậm chí là đáng báo động trong xã hội ta.
- Mục tiêu của bậc học phổ thông là đào tạo con người toàn diện, nhưng
thực tế hiện nay cho thấy, các bộ môn khoa học xã hội thường bị học sinh xem
5
nhẹ, mặc dù kiến thức của các bộ môn này vô cùng quan trọng cho tất cả mọi
người. Muốn khôi phục sự quan tâm của xã hội đối với các bộ môn khoa học xã
hội, không thể chỉ bằng biện pháp kêu gọi mà chúng ta phải tích cực đổi mới
phương pháp dạy học văn, khơi gợi lại hứng thú học văn của học sinh, hình thành

ảnh, chữ viết và các cụm từ diễn đạt khác nhau, Tuy cùng một chủ đề nhưng mỗi
em có thể “thể hiện” nó dưới dạng bản đồ tư duy theo cách riêng của mình. Do đó,
việc lập bản đồ tư duy phát huy tối đa khả năng sáng tạo của mỗi người.
b. Cấu tạo
- Ở giữa Bản đồ là một hình ảnh trung tâm (hay một cụm từ) khái quát chủ
đề.
- Gắn liền với hình ảnh trung tâm là các nhánh cấp 1 mang các ý chính làm
rõ chủ đề.
- Phát triển các nhánh cấp 1 là các nhánh cấp 2 mang các ý phụ làm rõ mỗi ý
chính.
- Sự phân nhánh cứ thế tiếp tục để cụ thể hóa chủ đề, nhánh càng xa trung
tâm thì ý càng cụ thể, chi tiết. Có thể nói, BĐTD là một bức tranh tổng thể, một
mạng lưới tổ chức, liên kết khá chặt chẽ theo cấp độ để thể hiện một nội dung, một
đơn vị kiến thức nào đó.
7
c. Các bước thiết kế một BĐTD
Để thiết kế một BĐTD dù vẽ thủ công trên bảng, trên giấy , hay trên phần
mềm Mind Map, chúng ta đều thực hiện theo thứ tự các bước sau đây:
Bước 1: Bắt đầu từ trung tâm với từ, cụm từ thể hiện chủ đề (có thể vẽ hình
ảnh minh họa cho chủ đề - nếu hình dung được)
Bước 2: Từ hình ảnh trung tâm (chủ đề) chúng ta cần xác định: để làm rõ
chủ đề, thì ta đưa ra những ý chính nào. Sau đó, ta phân chia ra những ý chính, đặt
tiêu đề các nhánh chính, nối chúng với trung tâm.
Bước 3: Ở mỗi ý chính, ta lại xác định cần đưa ra những ý nhỏ nào để làm
rõ mỗi ý chính ấy. Sau đó, nối chúng vào mỗi nhánh chính. Cứ thế ta triển khai
thành mạng lưới liên kết chặt chẽ.
Bước 4: Cuối cùng, ta dùng hình ảnh (vẽ hoặc chèn) để minh họa cho các ý,
tạo tác động trực quan, dễ nhớ.
*Lưu ý
8

Văn
- Dạy học bằng BĐTD giúp học sinh có được phương pháp học hiệu quả.
Chúng ta biết rằng việc rèn luyện phương pháp học tập cho HS không chỉ đơn
thuần là một biện pháp nâng cao hiệu quả dạy học mà còn là mục tiêu dạy học.
Trong thực tế hiện nay, còn nhiều học sinh học tập một cách thụ động, chỉ đơn
thuần là nhớ kiến thức một cách máy móc theo thói quen học vẹt, các em chưa có ý
thức hoặc chưa biết rèn luyện kỹ năng tư duy. Học sinh chỉ học bài nào biết bài ấy,
nắm kiến thức một cách đơn lẻ, rời rạc, chưa biết tích hợp, liên hệ kiến thức với
nhau giữa các bài học, giữa các phân môn, vì vậy mà chưa phát triển được tư duy
lô-gic và tư duy hệ thống. Do đó, dù các em học rất chăm chỉ nhưng vẫn học kém.
Vì học phần sau đã quên phần trước, không biết vận dụng kiến thức đã học trước
đó vào những phần sau. Lại có nhiều học sinh khi đọc sách hoặc nghe giảng trên
lớp không biết cách tự ghi chép để lưu thông tin, hay kiến thức trọng tâm vào trí
nhớ của mình. Bởi vậy, rèn kuyện cho các em có thói quen và kĩ năng sử dụng
thành thạo BĐTD trong quá trình dạy học sẽ gúp học sinh có được phương pháp
học tốt, phát huy tính độc lập, chủ động, sáng tạo và phát triển tư duy.
- BĐTD giúp học sinh học tập một cách tích cực. Một số kết quả nghiên
cứu của các nhà khoa học cho thấy bộ não của con người sẽ hiểu sâu, nhớ lâu và
in đậm cái mà do chính mình tự suy nghĩ, tự viết, vẽ ra theo ngôn ngữ của mình.
Vì vậy sử dụng BĐTD giúp học sinh học tập một cách tích cực, huy động tối đa
tiềm năng của bộ não. Việc học sinh trực tiếp vẽ SĐTD vừa lôi cuốn, hấp dẫn các
em, đồng thời còn phát triển khiếu thẩm mĩ, óc hội họa, bởi đó là “sản phẩm kiến
thức hội họa”do chính các em tự làm ra, lại vừa phát huy được tối đa khả năng
sáng tạo của các em trong học tập, không rập khuôn một cách máy móc như khi
lập các bảng biểu, sơ đồ, vì các em dễ dàng vẽ thêm các nhánh để phát triển ý
tưởng riêng của mình. Vì thế, tạo một không khí sôi nổi, hào hứng, say mê cho học
sinh trong học tập. Đây cũng là một trong những nội dung quan trọng của phong
trào thi đua “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực” mà Bộ GD&ĐT
đang triển khai thực hiện.
10

Để có thể hoàn thiện được mô hình BĐTD của bài học, giáo viên sử dụng hệ
thồng câu hỏi định hướng để khai thác kiến thức:
+ Bố cục của văn bản: học sinh sẽ dựa vào văn bản để xác định các ý chính (
Hoàn cảnh các thầy bói xem voi, cách xem voi, các thầy nhận xét về con voi, hậu
quả.)
+ Tiếp tục hoàn thành các nhánh của BĐTD bằng hệ thống câu hỏi nhỏ có
tính gợi mở (các thầy xem voi trong hoàn cảnh nào, cách xem voi của các thầy ra
sao, )
Sơ đồ minh hoạ

Bản đồ tư duy văn bản: Thầy bói xem voi - Ngữ văn 6
- Ví dụ 2: Khi học bài “ So sánh” ( Môn Ngữ văn lớp 6), đầu giờ giáo viên
cho từ khoá “ So sánh” rồi yêu cầu học sinh vẽ BĐTD bằng cách đặt câu hỏi gợi ý
cho các em để các em có thể vẽ tiếp các nhánh con và bổ sung dần các ý nhỏ
( nhánh con cấp 2, cấp 3…), sau khi các nhóm HS vẽ xong, cho một số em lên
trình bày trước lớp để các học sinh khác bổ sung ý. Giáo viên kết luận qua đó giúp
các em tự chiếm lĩnh kiến thức một cách nhẹ nhàng, tự nhiên nhưng rất hiệu quả,
đồng thời kích thích hứng thú học tập của học sinh.
12
Sơ đồ minh hoạ
Bản đồ tư duy bài “So sánh” - Ngữ Văn 6
- Dùng BĐTD để củng cố kiến thức sau mỗi tiết học và hệ thống kiến
thức sau mỗi chương, phần: Sau mỗi bài học, giáo viên hướng dẫn, gợi ý để học
sinh tự hệ thống kiến thức trọng tâm, kiến thức cần nhớ của bài học bằng cách vẽ
BĐTD. Mỗi bài học được vẽ kiến thức trên một trang giấy rời rồi kẹp lại thành tập.
Việc làm này sẽ giúp các em dễ ôn tập, xem lại kiến thức khi cần một cách nhanh
chóng, dễ dàng.
- Ví dụ 1: Khi dạy phần từ loại tiếng Việt, giáo viên tổ chức cho học sinh vẽ
BĐTD sau mỗi bài học để mỗi em có một tập BĐTD về các từ loại tiếng Việt:
danh từ, động từ, tính từ, số từ, đại từ, quan hẹ tự, trợ từ, thán từ…. Lên đến lớp 9,

trước bài mới, củng cố, ôn tập kiến thức bằng cách vẽ BĐTD trên giấy, bìa… hoặc
để tư duy một vấn đề mới. qua đó phát triển khả năng tư duy lôgic, củng cố khắc
sâu kiến thức, kĩ năng ghi chép.
- Học sinh trực tiếp làm viêc với máy tính, sử dụng phần mềm Mindmap,
phát triển khả năng ứng dụng công nghệ thông tin, sử dụng máy tính trong học tập.
3. Một số biện pháp ứng dụng BĐTD trong đổi mới phương pháp dạy học
môn Ngữ văn
* BĐTD giúp HS học được phương pháp học: Việc rèn luyện phương pháp
học tập cho học sinh không chỉ là một biện pháp nâng cao hiệu quả dạy học mà
còn là mục tiêu dạy học. Thực tế cho thấy một số học sinh học rất chăm chỉ nhưng
vẫn học kém, nhất là môn toán, các em này thường học bài nào biết bài đấy, học
phần sau đã quên phần trước và không biết liên kết các kiến thức với nhau, không
biết vận dụng kiến thức đã học trước đó vào những phần sau. Phần lớn số học sinh
15
này khi đọc sách hoặc nghe giảng trên lớp không biết cách tự ghi chép để lưu
thông tin, lưu kiến thức trọng tâm vào trí nhớ của mình. Sử dụng thành thạo BĐTD
trong dạy học học sinh sẽ học được phương pháp học, tăng tính độc lập, chủ động,
sáng tạo và phát triển tư duy.
* BĐTD giúp học sinh học tập một cách tích cực
- Một số kết quả nghiên cứu cho thấy bộ não của con người sẽ hiểu sâu, nhớ
lâu và in đậm cái mà do chính mình tự suy nghĩ, tự viết, vẽ ra theo ngôn ngữ của
mình vì vậy việc sử dụng BĐTD giúp học sinh học tập một cách tích cực, huy
động tối đa tiềm năng của bộ não.
- Việc học sinh tự vẽ BĐTD có ưu điểm là phát huy tối đa tính sáng tạo của
học sinh, phát triển năng khiếu hội họa, sở thích của học sinh, các em tự do chọn
màu sắc (xanh, đỏ, vàng, tím,…), đường nét (đậm, nhạt, thẳng, cong…), các em tự
“sáng tác” nên trên mỗi BĐTD thể hiện rõ cách hiểu, cách trình bày kiến thức của
từng học sinh và BĐTD do các em tự thiết kế nên các em yêu quí, trân trọng “tác
phẩm” của mình.
GIẢNG THỂ NGHIỆM ĐỀ TÀI

hịch, cáo ngày hôm nay cô và các em sẽ tìm hiểu thêm về một kiểu văn học cổ
khác qua văn bản: Bàn luận về phép học của Nguyễn Thiếp.
Hoạt động 2 ( 27 phút) Tìm hiểu văn bản
Mục tiêu: HS tìm hiểu về tác giả và giá trị nội dung và nghệ thuật của tác phẩm.
Phương pháp: Thảo luận,vấn đáp, thuyết trình.
Kĩ thuật: Tư duy động não.
Hoạt động của thầy và trò Nội dung cần đạt
* Dựa vào chú thích Sgk, em hãy nêu khái
quát về t/giả Nguyễn Thiếp ?
Gv giới thiệu : Phẩm chất, tài năng của
Nguyền Thiếp ; chú ý MQH của Nguyễn
Thiếp và Nguyễn Huệ.
I. Tìm hiểu chung
1. Tác giả : La Sơn Phu Tử Nguyễn
Thiếp (1723-1804)
* Tác phẩm : Bản tấu ( trích) có nội
dung thứ 3 : Học pháp.
17
* Văn bản được viết theo thể nào ?
* Trình bày sự hiểu biết của em về thể
tấu ? sgk77
+ Trong bản tấu của Nguyễn Thiếp gửi
vua Quang Trung bàn về 3 điều mà theo
Ông bậc đé vương nên biết :
1- một là bàn về Quân đức -Đức của Vua.
Mong nhà vua một lòng tu đức, lấy sự học
vấn mà tăng thêm tài,bởi có học mà có
đức.
2- bàn về dân tâm - Lòng dân. Khẳng định
dân là gốc. Gốc có vững, nước mới yên.

được.
2. Tác phẩm
- Thể tâu.
- Đoạn trích thuộc phần 3. Viết
tháng 8/ 1791.
- Phương thức biểu đạt : nghị luận
II. Tìm hiểu văn bản
1. Mục đích của việc học.
18
- Không thể không học mà trở thành người
tốt đẹp được. Do vậyviệc học là một quy
luật tất yếu không thể thiếu được của cuộc
sống con người.
* Kẻ đi học phải học những gì ?
Kẻ đi học là học những điều ấy Điều
hay lẽ phải.
* Mục đích của việc học là gì ?
* Em thấy cách nêu vấn đề của t/giả như
thế nào?
Vào đề bằng hình ảnh so sánh ngầm ngọc
không mài với người không học. Nhưng
lại được nhấn mạnh bằng cách nói phủ
định 2 lần để nhấn mạnh mục đích của
việc học chân chính
Sau khi nêu mục đích học tập chân chính
t/giả chỉ ra những thất truyền trong nền
chính học  Đó là những lối học nào ?
Học hình thức, cầu danh lợi, không biết
tam cương, ngũ thường.
* Học cầu danh lợi là lối học như thế

đề xuất hai ý kiến là: Học ở đâu; học như
thế nào?
* Theo Nguyễn Thiếp phải mở trường học
ở những nới nào?
- Mở trường ở phủ, huyện, trường tư, con
cháu văn võ, thuộc lại…tùy đâu tiện
đấymà đi học.
* Học như thế nào?
- Học theo chu Tử.
- Tứ thư, ngũ kinh, chư sử.
* Theo kế sách ấy có gì mới về sự học?
* Nguyễn Thiếp đã tâu trình với vua về
việc mở nhiều trường dạy học, học như
thế nào nhằm mục đích gì?
* Theo quan điểm của t/ giả có gì tiến bộ
và hạn chế.
- Tiến bộ: Góp phần đào tạo nhân tài cho
đất nước.
- Hạn chế: Nội dung chưa có gì mới
- Gọi HS đọc P3.
* Vậy đạo học thành sẽ có t/dụng như thế
nào?
* Tại sao đạo học thành khiến thiên hạ
thịnh trị?
- nhiều người biết điều hay lẽ phải.
- Việc cai trị đất nước dễ dàng.
2. Nội dung và phương pháp học
tập.
- Mở nhiều trường dạy học.
- Học từ thấp đến cao.

thức bài học ở mức đơn giản. Điều quan trọng hơn là các em học tập tích cực hơn,
sôi nổi hơn. Các em không còn tâm lý chán học, ngại học môn Ngữ văn vì phải ghi
chép nhiều. Trái lại, tất cả rất hào hứng với việc học tập. Vì việc ứng dụng BĐTD
không chỉ tạo tác động trực quan lôi cuốn các em, mà còn giúp các em ghi chép bài
gọn gàng, khoa học hơn, nhanh hơn và nhẹ nhàng hơn nhiều so với cách ghi chép
trước đây.
Không những thế, nếu giáo viên biết tổ chức tốt cho học sinh sử dụng sơ đồ
tư duy trong dạy học nhóm giúp thì nó sẽ giúp các em phát huy được tính sáng tạo,
tối đa hoá khả năng của mỗi em, đồng thời kết hợp sức mạnh của các cá nhân
thành sức mạnh tập thể để có thể giải quyết được các vấn đề một cách hiệu quả. Sơ
đồ tư duy tạo cho mỗi thành viên cơ hội được giao lưu học hỏi và phát triển chính
mình một cách hoàn thiện hơn.
22
C. KẾT LUẬN - KIẾN NGHỊ
I. kết luận
Tóm lại, việc vận dụng BĐTD trong dạy học, kiểm tra, đánh giá sẽ dần hình
thành cho HS tư duy mạch lạc, hiểu biết vấn đề một cách sâu sắc, có cách nhìn vấn
đề một cách hệ thống, khoa học. Sử dụng BĐTD kết hợp với các phương pháp dạy
học tích cực khác như vấn đáp gợi mở, thuyết trình,… có tính khả thi cao góp phần
đổi mới PPDH, đặc biệt là đối với học sinh ở cấp THCS hiện nay. Vì vậy, việc
tăng cường sử dụng BĐTD trong quá trình dạy học nói chung, trong đó có dạy học
Ngữ văn là việc làm rất cần thiết, góp phần đáp ứng yêu cầu của phong trào “Xây
dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực” của Bộ Giáo dục và Đào tạo.
II. Kiến nghị
1. Đối với giáo viên:
- Cần phải nắm vững những hiểu biết, kiến thức cơ bản về sơ đồ tư duy: khái
niệm, cấu tạo, các bước thiết kế, quy trình tổ chức hoạt động vẽ BĐTD trên lớp và
những tiện ích.
- Cần có sự cân nhắc khi ứng dụng BĐTD vào việc soạn, giảng, kiểm tra
đánh giá, tổ chức hoạt động cho học sinh, tránh lạm dụng; nhất là đối với bộ môn

Phần III. Kết luận và kiến nghị
1. Kết luận
2. Kiến nghị
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status