TRƯỜNG CAO ĐẲNG SƯ PHẠM HÀ TÂY
LÊ MINH THU
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
VẬN DỤNG PHƯƠNG PHÁP TRÒ CHƠI VÀO
DẠY HỌC NGỮ VĂN Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ
CHUYÊN NGÀNH: PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC NGỮ VĂN
NĂM HỌC 2010 – 2011
1
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Ngày nay, với mục tiêu học tập để cùng chung sống với nhau (thực chất
là học thích ứng với người khác và với xã hội nói chung) và học để làm
người thì các phương pháp dạy học tổ chức tương tác hành động ngày càng
trở thành phương pháp dạy học trụ cột trong nhà trường hiện đại. Dạy học
bằng trò chơi là một trong ba nhóm dạy học tổ chức tương tác hành động
(các phương pháp kịch, các phương pháp trò chơi, dạy học tương tác phát
triển)
Phương pháp dạy học bằng trò chơi là phương pháp giáo viên cung cấp
và tổ chức cho người học tiến hành các trò chơi. Hệ quả là người học thu
nhận được các tri thức khoa học, thái độ và kĩ năng hành động (trí óc và
chân tay) sau khi kết thúc trò chơi.
Phương pháp dạy học bằng trò chơi xuất phát từ những trò chơi trong
thực tế cuộc sống: Trong dân gian có rất nhiều trò chơi, có trò chơi vận
động, có trò chơi trí tuệ. Tất cả đều hướng tới mục đích thông qua trò chơi
mà rèn các kĩ năng, tích lũy tri thức, phát triển trí tuệ.
Phương pháp dạy học bằng trò chơi xuất phát từ yêu cầu của quá trình
dạy học: Dạy học cần đa dạng hóa hình thức tổ chức dạy học để giờ học
sinh phát huy được tính tích cực của người học; dạy học trên cơ sở nắm
vững đặc điểm tâm sinh lí của đối tượng học sinh. Phương pháp trò chơi
học tập đáp ứng yêu cầu của quá trình dạy học.
Phương pháp dạy học bằng trò chơi xuất phát từ thực tế dạy học:
Nhiều giáo viên hiện nay chỉ dùng trò chơi trong tổ chức hoạt động
ngoại khóa, ít quan tâm tới sử dụng trong giờ chính khóa.
Từ những lí do cơ bản trên, với tư cách là giáo viên CĐSP trực tiếp
tham gia dạy phương pháp dạy học Ngữ văn, chúng tôi thực hiện đề tài
‘‘Vận dụng phương pháp trò chơi vào dạy học Ngữ văn ở trường Trung
học cơ sở” với mong muốn giúp đỡ sinh viên ngành Văn và giáo viên
THCS có thêm tư liệu về phương pháp trò chơi trong dạy học Ngữ văn để
vận dụng trong giờ chính khóa cũng như hoạt động ngoại khóa.
2. Lịch sử vấn đề
Hoạt động trò chơi trong dạy học Ngữ văn mặc dù không có sách lí luận
nghiên cứu sâu như như những vấn đề khác trong dạy học Ngữ văn nhưng
A.I Xôrôkina đã đưa ra một luận điểm vô cùng quan trọng về đặc thù của
dạy học kết hợp với trò chơi: “Trò chơi học tập là một quá trình phức tạp,
nó là hình thức dạy học và đồng thời nó vẫn là trò chơi…Khi các mối quan
hệ chơi bị xóa bỏ, ngay lập tức trò chơi biến mất và khi ấy, trò chơi biến
thành tiết học, đôi khi biến thành sự luyện tập”. Đây chính là đặc trưng và
vai trò tác dụng của trò chơi trong dạy học.
Về tài liệu hướng dẫn hoạt động trò chơi trong dạy học Ngữ văn dùng
cho giáo viên và sinh viên hiện nay, có thể kể đến các tài liệu sau:
Trong Dự án Việt Bỉ: Với sự hợp tác tích cực của các chuyên gia quốc
tế, chuyên gia trong nước, Dự án đã biên soạn nhiều tài liệu dạy học tích
cực gồm lý luận chung về dạy học tích cực, các Phương pháp và kĩ thuật
dạy học cụ thể, quy trình thực hiện…Dự án giới thiệu các hình thức tổ chức
dạy học, trong đó một số hình thức dạy học vui, tích cực được xem như
phương pháp học vui. Phương pháp học vui được vận dụng cho tất cả các
môn học ở các cấp học khác nhau, đặc biệt là ở phổ thông.
Cho tới nay, đã có một số công trình nghiên cứu của các nhà giáo dục về
vấn đề dạy học tích cực có đề cập tới phương pháp trò chơi.
Tiến sĩ Trần Thị Minh Hằng trong bài giảng “Một số vấn đề về phương
phát hiện và áp dụng những phương pháp dạy học nào làm cho giáo viên
lao động sư phạm ít mà học sinh học được nhiều, làm cho không khí nhà
trường bớt nhàm chán, giảm sự đơn điệu, cứng nhắc trong giờ học, tăng
cường sự thích thú, tăng cường sự tự do và đạt đến những tiến bộ thực sự.
Bởi vậy đề tài “Vận dụng phương pháp trò chơi vào dạy Ngữ văn ở trường
THCS” được nghiên cứu với mục đích:
Đổi mới phương pháp dạy học theo hướng tích cực hóa hoạt động của
người học:
Khai thác hình thức “học vui” dạy học Ngữ văn.
Giới thiệu và vận dụng những trò chơi học tập trong dạy học Ngữ văn
nhằm giúp sinh viên và giáo viên THCS có thêm tư liệu tham khảo để
dạy học tích cực.
Đề tài này nếu nghiên cứu thành công cũng có thể sử dụng như một tài
liệu để bồi dưỡng chuyên đề cho giáo viên Ngữ văn THCS.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Đề tài sẽ tập trung nghiên cứu, giải quyết những nhiệm vụ chủ yếu sau
đây:
- Xây dựng cơ sở lí thuyết, lí luận về phương pháp trò chơi trong dạy học
Ngữ văn ở trường THCS.
4
- Khảo sát thực trạng hoạt động trò chơi trong dạy học Ngữ văn trường
THCS trong các kì đi thực tập sư phạm của sinh viên Văn Trường CĐSP
Hà Tây, khảo sát thực trạng hoạt động trò chơi trong dạy học Ngữ văn của
giáo viên Trường THCS trên một số địa bàn Hà Nội.
- Đề xuất những giải pháp vận dụng phương pháp trò chơi trong dạy học
Ngữ văn theo hướng tích cực hóa hoạt động của học sinh.
- Dạy học thực nghiệm tại một số trường THCS ở địa bàn của thành phố
Hà Nội và đề xuất phương án triển khai ứng dụng.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Các phương pháp đối chiếu so sánh, phân tích, tổng hợp rất cần thiết cho
việc nghiên cứu của đề tài. Đây đồng thời là các thao tác để chúng tôi có
thể nghiên cứu kĩ lường từng khía cạnh của vấn đề rồi tổng hợp lại theo
mục đích mà đề tài đặt ra.
5.4. Phương pháp dạy học thực nghiệm.
5
Dạy học thực nghiệm là một trong những nhiệm vụ quan trọng của đề
tài, để đánh giá tính khả thi của những đề xuất mà đề tài đưa ra. Trong đề
tài này, chúng tôi đã tiến hành thực nghiệm trên các đối tượng là SV và GV
của trường CĐSP và THCS trên địa bản Hà Nội.
6. Đóng góp của đề tài
Đề tài này nếu được thực hiện thành công sẽ giúp cho:
- Sinh viên Văn CĐSP có thêm tư liệu tham khảo phục vụ cho môn
Phương pháp dạy học Ngữ văn, đi thực tập sư phạm làm công tác giảng dạy
và chủ nhiệm.
- Giáo viên phổ thông có thêm tư liệu tham khảo khi thiết kế bài giảng
Ngữ văn.
- Giáo viên sư phạm dạy phương pháp Ngữ văn có thêm tư liệu tham khảo
để hướng dẫn sinh viên thiết kế bài giảng, thiết kế chương trình ngoại khóa
Ngữ văn.
- Dùng làm tài liệu cho chuyên đề bồi dưỡng giáo viên đổi mới phương
pháp dạy học.
- Học sinh phổ thông có thêm hệ thống trò chơi để tự học, tự kiểm tra kết
quả học tập của mình khi tự học ở nhà môn Ngữ văn.
- Phụ huynh học sinh có thể sử dụng tài liệu tham khảo này để kiểm tra
kiến thức của con em mình về môn Ngữ văn.
7. Bố cục của đề tài
Ngoài phần mở đầu và kết luận đề tài gồm 3 chương và phần phụ lục
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc vận dụng phương pháp trò
chơi vào dạy học Ngữ văn ở THCS.
tạo, các giáo viên lâu năm trong nghề có kiến thức và phương pháp dạy tương
đối vững vàng, đứng trước sự đổi mới của phương pháp dạy học văn ln ln
trăn trở làm thế nào để thực hiện được ý đồ của Bộ Giáo dục là đổi mới về mục
tiêu, nội dung và phương pháp học. Trong đó sự đổi mới về phương pháp mang
tính quyết đònh tới sự thành công của bài dạy. Bởi vì nếu chỉ đổi mới về mục
tiêu, nội dung mà phương pháp không đổi thì chắc chắn kết quả đổi mới sẽ
không có được.
Một trong những xu hướng đổi mới phương pháp dạy học hiện nay là đa dạng
hóa hình thức tổ chức dạy học, trong đó có hình thức sử dụng trò chơi trong dạy
học. Hình thức này đang được các trường, các giáo viên ưa thích vận dụng.
Trò chơi học tập ở đây được hiểu theo nghóa “Đố vui để học”. Người dạy
có thể áp dụng nhiều hình thức khác nhau nhưng phải đạt được mục đích
cuối cùng là học sinh hiểu bài, khắc sâu kiến thức, khơi dậy trong các em
niềm yêu thích bộ môn văn. Các em không còn thấy nặng nề, buồn chán,
thụ động trong giờ học văn.
7
Xét về mặt mục đích và y đồ dạy học, thì phương pháp trò chơi trong dạy
học bao giờ cũng thể hiện y đồ của người giáo viên đứng lớp, cho nên mỗi
trò chơi được vận dụng trong giờ dạy là một cố gắng vận động tích cực,
sáng tạo, một tấm lòng của giáo viên gửi gắm. Ý đồ đó bao giờ cũng được
thể hiện qua một trò chơi mang nội dung học tập nhằm giải quyết một nội
dung học tập nào đó và dưới một hình thức trò chơi cụ thể thích hợp.
Bản chất của trò chơi học tập
A.I Xôrôkina đã đưa ra một luận điểm vô cùng quan trọng về đặc thù của
dạy học kết hợp với trò chơi: “Trò chơi học tập là một quá trình phức tạp,
nó là hình thức dạy học và đồng thời nó vẫn là trò chơi…Khi các mối quan
hệ chơi bị xóa bỏ, ngay lập tức trò chơi biến mất và khi ấy, trò chơi biến
thành tiết học, đôi khi biến thành sự luyện tập.”
Trò chơi, bản thân nó là một hoạt động trực tiếp với tính hấp dẫn tự thân
của mình có một tiềm năng lớn để trở thành một phương tiện dạy học hiệu
môn học và cả thầy cô giáo của mình.
8
Người học tham gia tích cực vào q trình học. Họ được quyền đưa ra
quyết định, tự giải quyết các vấn đề và phản ứng với kết quả của các quyết
định do mình đưa ra.
Trong trò chơi, nhất là những trò chơi trí tuệ thường hàm chứa yếu tố
kích thích, thi đua, sự thử thách và khả năng nâng cao hiểu biết, sự sáng tạo
và tính kiềm chế của người chơi.
1.1. 2. Cơ sở lí luận của vấn đề sử dụng trò chơi trong dạy học
1.1.2.1. Phương pháp dạy học tích cực và trò chơi trong dạy học
Căn cứ vào những đặc trưng chủ yếu của Phương pháp tích cực, chúng ta
có thể xác định việc tổ chức những trò chơi trong q trình dạy học là hợp
lí, có cơ sở, góp phần tích cực hóa hoạt động học tập. Trong những trò chơi
học tập, chúng ta nhận thấy tất cả các dấu hiệu biểu hiện của dạy học tích
cực.
Dạy học bằng tổ chức trò chơi là một hình thức dạy học lấy học sinh
làm trung tâm:
Trong PP dạy học tích cực người học được cuốn hút vào các hoạt
động học tập do GV tổ chức và chỉ đạo, qua đó tự lực khám phá những
điều mình chưa biết chứ không tiếp thu thụ động kiến thức có sẵn.
Những hoạt động của HS bao gồm: nghe, nói, đọc, ghi chép, làm báo
cáo, thực hành thí nghiệm, thảo luận, điều tra, nghiên cứu… Tức là phải
đặt HS vào tình huống giải quyết vấn đề.
GV không chỉ đơn thuần cung cấp kiến thức mà còn hướng dẫn HS
hoạt động. Trong PP dạy học tích cực, học chữ và học làm phải song
hành “Từ học làm đến biết làm, muốn làm và cuối cùng muốn tồn tại và
phát triển như nhân cách một con người lao động tự chủ, năng động sáng
tạo” (Nguyễn Kỳ –Mô hình dạy học tích cực lấy người học làm trung
tâm)
Khi tham gia trò chơi học tập, người học được hoạt động tự giác, đầy
học sinh phát triển thành cơng dân có trách nhiệm và hành động có hiệu
quả). Các trò chơi rất phong phú và đa dạng về hình thức, cách thức hành
động, gắn với từng nội dung tri thức và kĩ năng cụ thể. Tham gia trò chơi
học tập, người học khơng chỉ tích lũy được tri thức khoa học một cách nhẹ
nhàng mà sâu bền mà còn đồng thời được tích lũy những kĩ năng học tập, kĩ
năng nghề nghiệp, kĩ năng sống. Điều này đồng nghĩa với mục đích của học
tập là hình thành nhân cách cho người học.
Dạy học bằng tổ chức trò chơi là một hình thức dạy học chú trọng việc
rèn luyện phương pháp tự học:
Xuất phát từ mục tiêu giáo dục, phương pháp dạy học tích cực xem
việc rèn luyện phương pháp học tập cho HS không chỉ là biện pháp nâng
cao chất lượng học tập mà còn là mục tiêu dạy học. “Người thầy giáo tồi
truyền đạt chân lý, còn người thầy giáo giỏi dạy cách tìm ra chân
lý”(Desterwerg). Mục tiêu giáo dục là đào tạo con người phát triển toàn
diện, do vậy rèn luyện kỹ năng tự học nhắm phát triển khả năng tư duy
độc lập của học sinh trong việc khám phá sáng tạo chiếm lónh tri thức.
Trong xã hội hiện đại sự bùng nổ thông tin, sự phát triển khoa học
công nghệ diễn ra như vũ bão thì việc dạy phương pháp tự học lại càng
cần thiết. Đây là cách hữu hiệu để tạo ra những con người thích ứng với
xã hội học tập. Phương pháp tự học là cầu nối giữa học tập và nghiên
cứu. Nếu rèn luyện cho người học thói quen và phương pháp tự học họ
có thể biết linh hoạt giải quyết những tình huống nhận thức mới, khơi gợi
lòng ham học. Bản chất của phương pháp tự học là tạo ra sự chuyển biến
từ học tập thụ động sang tự học chủ động tích cực.
Để hoạt động tự học đạt hiệu quả, giáo viên cần đònh hướng cho học
sinh ý thức và phương pháp tự học một cách thường xuyên. Cụ thể là
những việc làm sau:
10
Rèn luyện cho học sinh thói quen tự học, coi đó là nhiệm vụ thường
nhật của người học sinh, tránh tư tưởng học đối phó theo mùa vụ.
quyết những tình huống khó khăn trong bài học.
Quan niệm học tập hợp tác mâu thuẫn với học tập cá thể làm hạn
chế ý thức của mỗi cá nhân là sai lầm. Bởi lẽ trong từng nhóm nhỏ mỗi
cá nhân đều phải nỗ lực, không ỷ lại vào người khác, toàn nhóm phải
cùng phối hợp để giải quyết tình huống. Kết quả làm việc của từng
nhóm sẽ được trình bày thảo luận trước tập thể sẽ tạo ra không khí thi
đua giữa các nhóm đóng góp kết quả chung vào bài học.
Phương pháp trò chơi học tập đòi hỏi sự cố gắng trí tuệ và nghị lực cao
của mỗi học sinh. Năng lực và y chí của mỗi học sinh khơng đồng nhất vì
11
vậy có sự phân hóa về cường độ và tiến độ hồn thành các nhiệm vụ học
tập. Cần phải dạy học đáp ứng u cầu cá thể hóa việc học tập theo nhu cầu
và năng lực của mỗi học sinh. Mặt khác, lớp học là mơi trường giao tiếp tạo
nên mối quan hệ hợp tác giữa các cá nhân trên con đường đi tới các mục
tiêu học tập, rèn luyện. Thơng qua hoạt động trong tập thể với các nhóm
chơi, đội chơi, các y kiến, quan niệm của cá nhân được điều chỉnh và qua
đó người học nâng mình lên một trình độ mới. Hoạt động trò chơi học tập
mang tính tập thể, qua đó tính cách, năng lực của mỗi cá nhân được bộc lộ,
uốn nắn, phát triển tình bạn, y thức tổ chức kỉ luật, tương trợ lẫn nhau, y
thức cộng đồng. Phương pháp trò chơi thể hiện được chức năng hợp tác làm
cho người học quen dần với đời sống xã hội, trong đó mỗi người sống và
làm việc trong sự phân cơng hợp tác với tập thể cộng đồng.
Sự đa dạng hóa các phương pháp dạy học là yêu cầu tất yếu của
phương pháp dạy học tích cực. Do lấy HS làm trung tâm trong hoạt động
dạy học nên không thể có phương pháp nào chung cho tất cả các đối
tượng học tập, cũng không thể có phương pháp nào là tối ưu trong dạy
học. Người GV có bản lónh là phải năng động sáng tạo trong việc sử
dụng các phương pháp tuỳ theo tình huống, đối tượng dạy cụ thể.
Dạy học trên tinh thần phân hóa đối tượng học đòi hỏi GV phải đa
dạng hoá phương pháp dạy tùy theo từng tình huống và đối tượng dạy
t×nh hng. §©y là bưíc tr¶i nghiƯm thùc tÕ trưíc khi häc sinh rót ra mét
kÕt ln, lÝ thut trõu tưỵng.
Trß ch¬i còng là biƯn ph¸p t¨ng cưêng sù thi ®ua, phÊn ®Êu tÝch cùc
trong c¸ nh©n hc c¸c nhãm häc sinh. NÕu tỉ chøc trß ch¬i nhãm cßn gióp
t¨ng cưêng ho¹t ®éng làm viƯc nhãm. Tõ ®ã, ph¸t triĨn kÜ n¨ng giao tiÕp
cho häc sinh.
XÐt vỊ lÝ ln và thùc tiƠn, ®©y là phư¬ng ph¸p d¹y häc thó vÞ trong d¹y
häc Ng÷ v¨n. Nã sÏ gãp phÇn tÝch cùc vào viƯc ®ỉi míi phư¬ng ph¸p d¹y
häc Ng÷ v¨n hiƯn nay.
1.1.2.3. Tâm – sinh lí và trò chơi trong dạy học
Muốn giải quyết vấn đề trò chơi học tập cần phải chú y đến vấn đề sinh
lí học và tâm lí học. Hoạt động nói chung và hoạt động trò chơi nói riêng là
lao động tích cực, là sự huy động tổng hợp các giác quan như: thính giác,
thị giác, xúc giác, các cơ quan hơ hấp, bộ máy phát âm, sự vận động của
các cơ bắp,…đồng thời có sự tham gia cả cơ chế bên trong của con người: y
thức, tiềm thức, trí nhớ, kinh nghiệm,…Nếu tiếp thu kiến thức, kĩ năng
bằng hình thức học tập khơ cứng, việc chuyển tri thức từ ngồi vào trong sẽ
chậm chạp và rất khó khăn. Bằng hình thức học vui, việc tiếp thu tri thức sẽ
xuất phát từ hứng thú nên dễ dàng hơn rất nhiều. “Biết mà học khơng bằng
vui mà học” (Khổng Tử). Các phương pháp dạy học bằng trò chơi có tác
dụng hấp dẫn, cuốn hút tập trung cao độ của người học mà ít phương pháp
nào có được. Hơn nữa trong trò chơi, tình cảm của người học, đối với mơn
học, đối với bạn học và đối với giáo viên được nảy nở và duy trì.
Nhu cáưu gii trí, ca hạt, âàûc biãût l tr chåi khäng thãø thiãúu âỉåüc trong
cạc hoảt âäüng ca thanh thiãúu, niãn. Tỉì láu, ngỉåìi ta â tháúy r cạc giạ trë
giạo dủc chun biãût thäng qua nhỉỵng tr chåi â âỉåüc nhiãưu nh Tám l x
häüi v Giạo dủc lỉu tám nghiãn cỉïu v thỉûc nghiãûm.
Tr chåi l hoảt âäüng tỉû nhiãn v cáưn thiãút ca tøi tr. Tỉû nhiãn vç bn
nàng thục âáøy v cáưn thiãút âãø rn luûn thán thãø, phạt triãøn cạc giạc quan v
k nàng giụp hc sinh phạt triãøn c vãư thãø cháút láùn tinh tháưn. Tr chåi cng
Tiếng Việt vừa tồn tại ở dạng tónh vừa tồn tại ở dạng động. Một mặt
tiếng Việt là một hệ thống kết cấu như một thực thể được cả cộng đồng
người Việt chấp nhận, mặt khác tiếng Việt lại được thể hiện ra ngoài
như một phương tiện để thực hiện hoạt động giao tiếp. Chỉ có trong giao
tiếp tiếng Việt mới thể hiện cụ thể đặc trưng hệ thống của mình. Thông
qua hoạt động giao tiếp trong mối quan hệ với các nhân tố giao tiếp các
quy luật sử dụng tiếng Việt mới bộc lộ.
Bản chất môn tiếng Việt trong nhà trường THCS góp phần sử dụng
thành thạo tiếng Việt, rèn luyện kỹ năng nghe, nói, đọc, viết, gắn kết
ngôn ngữ với chức năng sử dụng (tính hành chức của ngôn ngữ). Chương
trình tiếng Việt gần đây đã chú ý đến vấn đề ngữ dụng học. Do vậy dạy
học tiếng Việt theo quan điểm hoạt động lời nói và lý thuyết giao tiếp là
đònh hướng cơ bản trong quá trình dạy học.
Sự thể hiện quan điểm giao tiếp trong việc dạy học tiếng Việt:
14
Dạy tiếng Việt hướng học sinh vào hoạt động giao tiếp bằng ngôn
ngữ: Trên cơ sở nắm vững các tri thức về hệ thống tiếng Việt, các quy
tắc sử dụng tiếng Việt để tạo lập và tiếp nhận lời nói trong mối quan hệ
với các nhân tố giao tiếp nhằm đạt mục đích giao tiếp đề ra.
Triệt để sử dụng các phương pháp dạy học tích cực: Để thực hiện tốt
quan điểm giao tiếp trong việc dạy tiếng Việt giáo viên luôn chú ý đặt
học sinh vào những tình huống giao tiếp cụ thể, tạo ra những hoàn cảnh
và nhu cầu giao tiếp trong hoạt động dạy học (Tổ chức thảo luận, hoạt
động nhóm, tăng cường thực hành luyện tập). Phương pháp dạy học
tiếng Việt theo hướng tích cực dựa trên lý thuyết giao tiếp đòi hỏi giáo
viên cố gắng giảm thiểu tối đa dạy học theo lối thuyết giảng mang tính
kinh viện (Giáo viên trình bày, học sinh nghe ghi thụ động). Khái niệm
giao tiếp hóa dạy học có nghóa là chuyển hóa quá trình trình bày của
giáo viên thành những cuộc đàm thoại giữa giáo viên và học sinh, giữa
học sinh với nhau. Mặt khác giao tiếp hóa đồi hỏi khi dạy bất kỳ phân
Trò chơi học tập khác với trò chơi khác là ở chỗ, nhiệm vụ nhận thức và
luật chơi trong trò chơi đòi hỏi người chơi phải huy động trí óc làm việc
thực sự nhưng chúng lại được thực hiện dưới hình thức chơi vui vẻ, thú vị
(chơi là phương tiện, học là mục đích). Học trong quá trình chơi là quá trình
lĩnh hội tri thức nhẹ nhàng, tự nhiên không gò bó, khơi dậy hứng thú tự
nguyện và giảm thiểu sự căng thẳng cho học viên.
Trong quá trình chơi, giải quyết nhiệm vụ chơi, người học phải dùng các
giác quan để tiếp nhận thông tin ngôn ngữ, phải tự phân tích, tổng hợp, so
sánh, phân loại và khái quát hóa, tùy theo nhiệm vụ nhận thức của mỗi trò
chơi làm cho tư duy ngôn ngữ mạch lạc hơn, tư duy trực quan hình tượng
phát triển hơn, các thao tác trí tuệ được hình thành. Qua trò chơi học tập,
người học tiếp thu, lĩnh hội và khắc sâu nhiều tri thức, nhiều khái niệm và
hình thành những biểu tượng rõ rệt về các sự việc, hiện tượng xung quanh.
Đối với bộ môn Tiếng Việt, trò chơi học tập đặt học viên trước một tình
huống ngôn ngữ để huy động, luyện tập, củng cố và mở rộng vốn kiến thức
của mình.
Trò chơi học tập giúp học sinh lĩnh hội những tri thức và kỹ năng khác
nhau mà không có chủ định từ trước. Đồng thời, giúp người học cảm nhận
được một cách trực tiếp kết quả hành động của mình, từ đó thúc đẩy tính
tích cực, mở rộng, củng cố và phát triển vốn hiểu biết của người học.
Phương pháp trò chơi học tập được vận dụng, giới thiệu sẽ cung cấp cho
sinh viên, các giáo viên Ngữ văn tương lai nhiều y tưởng giúp phát triển các
kĩ năng vận dụng ngôn ngữ cơ bản của học sinh và hố trợ phát triển học tập
chủ động của các em trong lớp.
1.2. THỰC TRẠNG CỦA VẤN ĐỀ VẬN DỤNG TRÒ CHƠI
TRONG DẠY HỌC
1.2.1. Mục đích khảo sát
Để đánh giá thực trạng vận dụng trò chơi vào dạy Ngữ văn ở trường
THCS của SV Văn trường CĐSP, của GV Văn trường THCS chúng tôi đã
tiến hành khảo sát việc vận dụng trò chơi vào dạy Ngữ văn ở trường THCS
- Dự giờ, rút kinh nghiệm giờ dạy với giáo sinh, giáo viên THCS.
1.2.5. Nội dung và kết quả khảo sát
1.2.5.1. Thực trạng vấn đề vận dụng phương pháp trò chơi trong dạy học
Ngữ văn ở trường THCS.
*Về phía giáo viên
Đáp ứng yêu cầu đổi mới PPDH, đa dạng hóa các hoạt động dạy học của
quá trình giáo dục, hiện nay ở trường phổ thông THCS trong cả nước cũng
như trên địa bàn Hà Nội, vấn đề vận dụng trò chơi trong dạy học đã trở nên
khá phổ biến cả trong chính khóa và ngoại khóa.
Tuy vậy, vẫn còn nhiều giáo viên có quan niệm rằng trong giờ đọc hiểu
văn bản nếu tổ chức hoạt động trò chơi sẽ phá vỡ đặc trưng phân môn nên
không tổ chức trò chơi. Một số khác lại cho rằng tổ chức hoạt động trò chơi
trong giờ học khiến học sinh phấn khích. Vào tiết học sau vẫn còn dư âm,
ảnh hưởng tiêu cực tới việc tiếp thu bài mới của tiết học sau.
Trong chính khóa, khảo sát về các hình thức trò chơi, chúng tôi có kết
quả như sau:
Phân
môn
Tròchơ
i
Văn
bản
Tiếng
Việt
Tập
làm
văn
Tranh
tài theo
nhóm
phu. Thơng thường giáo viên hay tổ chức các trò chơi như: giải ơ chữ, bài
tập trắc nghiệm có nhiều phương án lựa chọn, tranh tài theo nhóm nhỏ, ….
Như vậy các hình thức trò chơi chưa thực sự được đa dạng, chưa hấp dẫn
được người học.
Về nội dung các trò chơi nói chung đều hướng vào nội dung học tập của
bài học cụ thể hoặc cụm bài để khởi động, tạo tâm thế vào bài, để củng cố
bài, để luyện tập. Tuy vậy, một số cá nhân khi thiết kế trò chơi cho bài học
hoặc ngoại khóa thường mắc lỗi là khơng tập trung vào chủ đề, hoặc chủ đề
khơng tiêu biểu, các câu hỏi khơng tập trung vào chủ đề, thường tản mạn.
Các câu hỏi phần lớn chỉ mới dùng ở mức độ tư duy thấp như biết, một số ít
câu ở mức hiểu.
Ví dụ 1 (khảo sát trong Sáng kiến kinh nghiệm của giáo viên phổ thơng):
TR CHÅI Ä CHỈỴ
1. Mủc tiãu:
Âáy l tr chåi âáưu tiãn v thäng dủng nãn hc sinh ráút
hỉïng thụ. Vç váûy giụp hc sinh tçm hiãøu v än lải kiãún thỉïc ca mçnh vãư
truûn dán gian v vàn tỉû sỉû
2. Cạch thỉïc
: Giạo viãn cọ thãø k ä chỉỵ lãn bng hồûc vo giáúy khäø låïn.
Nãúu ghi âạp ạn vo giáúy khäø låïn, thç giạo viãn phi càõt giáúy che khút âạp
ạn, räưi giåïi thiãûu cạch chåi. Cỉï tr låìi âụng âỉåüc 1 cáu ä chỉỵ âỉåüc tênh 10
âiãøm. Giạo viãn láúy 1 täø 5 hc sinh (3
hồûc 4 täø),
säú cn lải lm khạn gi.
Säú nhọm tham gia tỉû chn ä chỉỵ, suy nghé 30 giáy âãø tr låìi. Nãúu khäng tr
låìi âỉåüc thç ä chỉỵ âọ thüc vãư khạn gi. Nhọm no tr låìi âỉåüc ä chỉỵ chn
chỉỵ cại sàõp xãúp läün xäün s âỉåüc 30 âiãøm. (
ä chỉỵ âàûc biãût)
3. Gåüi cáu hi v âạp ạn ca cạc ä chỉỵ:
2) Ä chỉỵ ny gäưm: 5 chỉỵ cại. Khi viãút vàn, lm thå ngỉåìi viãút phi xạc
âënh váún âãư ny trỉåïc.
3) Ä chỉỵ ny gäưm: 18 chỉỵ cại. Âáy l tãn ca mäüt truûn Ngủ Ngän sỉí
dủng ton thãø danh tỉì riãng.
4) Ä chỉỵ ny gäưm: 11 chỉỵ cại. Âáy l váût dủng thãø hiãûn sỉû ti nàng và
tấm lòng ca Thảch Sanh
5) Ä chỉỵ ny gäưm: 8 chỉỵ cại. Tãn ca nhán váût chênh trong truûn “
Bạnh
chỉng, bạnh giáưy”.
6) Ä chỉỵ ny gäưm: 15 chỉỵ cại. Âáy l tạc pháøm måí âáưu cho chỉång trçnh
Ngỉỵ vàn 6.
7) Ä chỉỵ ny gäưm: 10 chỉỵ cại. Mäüt váût dủng m nhán váût ny sỉí dủng
âãø giụp ngỉåìi ngho v trỉìng trë k ạc.
8) Ä chỉỵ ny gäưm: 25 chỉỵ cại. Âáy l nghéa ca truûn “
Em bẹ thäng
minh
”.
9) Ä chỉỵ ny gäưm: 7 chỉỵ cại. Truûn “
Tháưy bọi xem voi
” thüc thãø loải
vàn hc ny.
10) Ä chỉỵ ny gäưm: 17 chỉỵ cại. Nhán váût S dỉìa thüc kiãøu nhán váût ny
trong truûn cäø têch.
11) Ä chỉỵ ny gäưm: 6 chỉỵ cại. Âáy l tỉì lạy miãu t tiãúng sạo ca S
dỉìa.
Ví dụ 2:
KÕt hỵp kiĨm tra bµi cò víi giíi thiƯu bµi míi
tr¶ lêi nhanh c¸c c©u hái ?
1/Mét bµi th¬ nỉi tiÕng cđa bµ Hun Thanh Quan mµ em ®· häc ë líp
8?
 M
T I Ê U Đ Ô I X E K H Ô N G K
I
N H
Mỗi đáp án của câu hỏi tơng ứng với hàng ngang ,tìm ra đáp án của 7 câu
hỏi trên ta tìm ra hàng dọc có tên ĐồNG CHí trên cơ sở đó giáo viên dẫn
vào bài mới luôn
Từ sau cách mạng tháng tám năm 1945 trong Văn học hiện đại Việt Nam
xuất hiện một đề tài mới đó là tình Đồng chí, đồng độicủa ngời chiến sĩ
cách mạng, anh bộ đội Cụ Hồ. Là một nhà thơ đầu tiên đóng góp thành
công vào đề tài này bằng một bài thơ đặc sắc mang tên Đồng chí- đó là
Chính Hữu. Và đây cũng chính là mục tiêu mà tiết học này muốn giới thiệu
đến các em.
* V phớa hc sinh
i vi hc sinh, a s cỏc em rt thớch c tham gia cỏc trũ chi hc
tp. Cỏc em cho rng hỡnh thc hc tp nh vy thoi mỏi nh nhng v d
tip thu hn. Tuy nhiờn cng cú mt s em khụng thớch vỡ a s cỏc trũ chi
tớnh trớ tu khụng cao, mc t duy thp, khụng bc l c nng lc hc
tp thc s.
1.2.5.2.ỏnh giỏ v vn vn dng trũ chi trong dy hc Ng vn
Hin nay, thc hin vic i mi phng phỏp ging dy, nhiu giỏo
viờn, c bit l cỏc giỏo viờn tr ó khụng ngng tỡm tũi, tớch ly kinh
nghim, sỏng to ra nhng ý tng hay, cú th to ra mt gi ging sinh
ng, n tng v t c mc tiờu ca bi hc cn chuyn ti n ngi
hc. Khụng nm ngoi mc ớch ú, trc yờu cu ngy cng nõng cao hn
na cht lng bi ging vi phng chõm rỳt ngn khong cỏch gia
ngi dy v ngi hc bng nhng hot ng, sn phm c th trong dy
hc, phng phỏp ging dy cú s dng trũ chi hc tp l mt sn phm
nh th. Chỳng ta vn thng a ra phng chõm hay khu hiu: to ra
mt gi hc dõn ch, hay to ra mt gi hc thõn thin v bng cỏch ny
vấn đề thời sự bức thiết của cuộc sống.
Về tài liệu phần văn bản, nhìn tổng quát trong chương trình và sách giáo
khoa Ngữ văn THCS, những văn bản rất phong phú, đa dạng. Văn bản
thuộc các loại hình khác nhau: tự sự, trữ tình, kịch; bên cạnh các loại hình
đó còn có những văn bản nghị luận, văn bản nhật dụng mới được đưa vào
trong chương trình Ngữ văn từ năm 2000. Ở mỗi khối lớp, văn bản đọc đều
có đủ các loại văn bản trên. Mỗi loại văn bản lại có nhiều tiểu loại. Tự sự
có: truyền thuyết, cổ tích, truyện cười, truyện ngụ ngôn, truyện trung đại,
truyện ngắn, tiểu thuyết (trích), kí sự, bút kí Trữ tình có: ca dao, thơ luật
Đường, thơ Đường, khúc ngâm, truyện thơ Nôm, thơ mới Kịch có: chèo
dân gian, hài kịch, chính kịch Nghị luận có: tục ngữ, nghị luận văn học,
nghị luận xã hội Văn bản nhật dụng có các đề tài: quyền trẻ em, môi
trường sống, môi trường sinh thái, vấn đề chiến tranh, vấn đề di sản văn hoá
vật thể và phi vật thể Như vậy ngoài VBVH, còn có những văn bản không
phải là VBVH ở mảng văn bản nhật dụng. Văn bản thuộc nhiều thể loại, đa
dạng nên có thể cho học sinh chơi nhiều trò chơi ở các kiểu giờ học khác
nhau: giờ học bài mới, giờ ôn tập theo cụm bài, giờ tổng kết Với việc sắp
xếp các văn bản theo trục kiểu văn bản tập làm văn rất thuận lợi cho việc tổ
chức các trò chơi tích hợp dọc theo cụm bài của phân môn cũng như tích
hợp ngang.
Phần tiếng Việt được bố trí đều ở các khối lớp phần từ vựng, phẩn ngữ
pháp, phần phong cách và tu từ. Các kiểu bài học tiếng Việt như: bài học lí
thuyết nhằm hình thành kiến thức mới, bài luyện tập nhằm củng cố lí
thuyết, hình thành các kĩ năng bộ phận, bài ôn tập tổng kết nhằm hệ thống
hóa kiến thức, kĩ năng của môn học theo từng chương mục hoặc thời gian
23
thực hiện, ngoài ra còn có những bài hoạt động Ngữ văn, chương trình địa
phương. Như vậy, chương trình, các kiểu bài học của phân môn tiếng Việt
được cấu trúc, sắp xếp, cũng rất thuận tiện cho việc tổ chức hoạt động trò
chơi theo đơn vị bài, theo cụm bài học thuộc phân môn.
kiến thức, kĩ năng và thái độ gì. Trên cơ sở mục tiêu bài học mà nảy sinh y
tưởng trò chơi học tập cho bài học đó như thế nào? Trò chơi được tổ chức
vào thời điểm nào: khởi động, củng cố hay luyện tập? Vào mỗi thời điểm
khác nhau sẽ chọn hình thức trò chơi khác nhau (tùy theo phân môn).
24
Dựa trên các mục đích dạy học dạy học trong bài học Ngữ văn của ba
phân môn, có thể có các loại trò chơi tương ứng: 1. Trò chơi khởi động. 2.
Trò chơi chiếm lĩnh tri thức mới. 3. Trò chơi luyện tập, 4. Trò chơi củng cố.
2.2.1. 1. Trò chơi khởi động
Hoạt động dạy học vừa là thực tiễn vừa là nghệ thuật. Kĩ năng vào bài
(dẫn nhập, lời mở đầu) là một bộ phận quan trọng của ‘nghệ thuật dạy học”,
là một trong những kĩ năng cơ bản của dạy học trên lớp. Đồng thời cũng là
một bước then chốt thúc đẩy tích cực học tập của học sinh.
Khởi động bằng trò chơi là một phương thức dắt dẫn học sinh một cách
có y thức, có mục đích đi vào tri thức mới hay một hoạt động dạy học; là
khâu mở đường, bắt đầu của dạy học trên lớp. Mục đích là : Dẫn vào bài
học, nối liền cũ với mới, gợi y học sinh, kích thích hứng thú, làm rõ mục
đích, ngầm báo động cơ, tạo ra không khí học tập, xây dựng tình cảm…
Khởi động tốt có thể đốt cháy lên nguồn hứng thú vô tận, mở ra cánh của đi
tìm chân lí và sự hiểu biết, tiếp thêm sức mạnh để giảng giải bài học
Tác dụng của trò chơi khởi động là kích thích ham muốn đi tìm chân lí
và hứng thú học tập của học sinh; là hướng dẫn thông qua trò chơi để gợi,
phát động, động viên tinh thần học sinh, sự hướng dẫn kịp thời làm cho sự
tìm tòi và lòng đam mê của các em được nâng lên theo hướng đã được dự
đoán trước của giáo viên, từ đó đưa học sinh vào quỹ đạo học tập có hiệu
quả; là đặt nền móng để điều khiển cả quá trình dạy học là sự nắm vững
tổng thể nội dung bài học.
Đặc trưng thứ nhất của trò chơi khởi động là tính mở đường. Một mặt là
đưa học sinh vào không khí lớp học bình thường, mặt khác lại dẫn học sinh
hướng đến tương lai. Trong tâm hồn các em dần hiểu được suy nghĩ và mục