CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Tên đề tài: Vận dụng phương pháp trò chơi vào dạy học Kể chuyện
cho học sinh lớp 3
Họ và tên sinh viên: Nguyễn Thị Kiều Diễm
Ngày sinh: 24 – 11 – 1992
Lớp: ĐHSPTH K12
Khóa: 2011 – 2015
Trường Đại học Hải Phòng
Người hướng dẫn: Thạc sĩ Nguyễn Thị Dung – GV Khoa GDTH
NỘI DUNG ĐÁNH GIÁ
1. Ý thức tổ chức kỉ luật trong quá trình nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu, sinh viên Nguyễn Thị Kiều Diễm luôn
thực hiện tốt các yêu cầu của người hướng dẫn, có thái độ nghiên cứu khoa
học nghiêm túc, có tinh thần học hỏi và cầu tiến cao. Mặc dù tham gia nhiều
hoạt động Đoàn – Hội của nhà trường, khoa và lớp nhưng em đã dành thời
gian khoa học cho việc nghiên cứu đề tài. Với sự nỗ lực, say mê cùng thái độ
làm việc nghiêm túc, em đã hoàn thành khóa luận đúng tiến độ và đảm bảo
chất lượng.
2. Khả năng nghiên cứu và vận dụng phương pháp
Sinh viên Nguyễn Thị Kiều Diễm là một sinh viên có khả năng tự
nghiên cứu khoa học tốt, biết cách tìm tòi tài liệu ở nhiều nguồn khác nhau,
nắm bắt nhanh các vấn đề khoa học và vận dụng vào quá trình nghiên cứu.
1
Bên cạnh đó, em có khả năng hiểu các phương pháp dạy học, biết phân
tích và tổng hợp kiến thức cũng như vận dụng linh hoạt vào thực tiễn dạy học
ở Tiểu học. Và bước đầu đã khẳng định được tính khả thi của vấn đề nghiên
cứu, góp phần nâng cao chất lượng dạy học Kể chuyện ở Tiểu học nói chung
và dạy học Kể chuyện ở lớp 3 nói riêng.
của thầy cô và các bạn để khóa luận được hoàn thiện hơn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hải Phòng, ngày 22 tháng 5 năm 2015
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Nguyễn Thị Kiều Diễm
MỤC LỤC
Trang
3
4
BẢNG CHÚ THÍCH CÁC KÍ HIỆU VIẾT TẮT
STT KÍ HIỆU DIỄN GIẢI
1
2
3
4
NXBGD
NXBĐHSP
SGK TV 1
SGV
Nhà xuất bản Giáo dục
Nhà xuất bản Đại học Sư phạm
Sách giáo khoa Tiếng Việt 1
Sách giáo viên
5
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Trong xu hướng chung của thế giới, khi cuộc cách mạng khoa học phát
triển như vũ bão kéo theo những thay đổi lớn trong đời sống kinh tế – xã hội.
Khi thế giới đang bước vào thời đại toàn cầu hoá và phát triển bền vững,
ngành Giáo dục & Đào tạo đứng trước những thách thức và vận hội mới.
trực tiếp tham gia vào hoạt động giao tiếp một cách hứng thú nhất.
Kể chuyện là một phân môn khó đối với cả giáo viên và học sinh. Dạy Kể
chuyện không phải chỉ là dạy học sinh thuộc chuyện, đọc lại chuyện. Kể chuyện
vận dụng một cách tổng hợp sự hiểu biết về đời sống và tạo điều kiện để học sinh
rèn luyện một cách tự nhiên các kĩ năng tiếng Việt trong hoạt động giao tiếp, góp
phần khêu gợi tư duy hình tượng cho trẻ. Trên thực tế, học sinh Tiểu học thường
giàu trí tưởng tượng, cảm xúc và sáng tạo. Song, do các em còn nhỏ nên bộ
phận sáng tạo ở lứa tuổi này vẫn còn phiến diện, nghiêng về nhận thức cảm
tính, tư duy trừu tượng mới chỉ ở bước đầu phát triển. Bên cạnh đó chúng tôi
nhận thấy rằng, giáo dục Tiểu học hiện nay chưa thực sự chú trọng đến việc
hình thành kỹ năng sống cho trẻ em. Đó là những điều đáng tiếc khi cơ hội
của các em bị bỏ qua.Vấn đề đặt ra ở đây là làm thế nào để thúc đẩy quá trình
dạy học sao cho có hiệu quả, nhằm đáp ứng được nhu cầu nhận thức của học
sinh, khai thác và điều chỉnh kĩ năng sống – khả năng làm chủ bản thân, khả
năng ứng xử với người khác, với xã hội và khả năng ứng phó tích cực với các
tình huống trong cuộc sống, phát huy được tính tích cực tự giác của học sinh
Tiểu học hướng đến thực hiện mục tiêu “Học mà chơi, chơi mà học”.
Xuất phát từ những lý do trên, chúng tôi “Vận dụng phương pháp trò
chơi vào dạy học Kể chuyện cho học sinh lớp 3” nhằm góp phần nâng cao
hiệu quả của phân môn học.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Ở lứa tuổi Tiểu học, cùng với “học” thì “chơi” là một nhu cầu không
7
thể thiếu của học sinh. Dù không còn là hoạt động chủ đạo, song vui chơi vẫn
giữ vai trò quan trọng và có ý nghĩa lớn lao đối với các em. Có khá nhiều tác
giả đã đề cập tới việc sử dụng trò chơi trong dạy học. Tuy nhiên, vấn đề này
chỉ được đề cập ít ỏi trong giáo trình dành cho sinh viên ở các trường Sư phạm.
Việc nghiên cứu và vận dụng phương pháp trò chơi trong dạy học ở bậc Tiểu học
vẫn chưa nhận được sự quan tâm nghiên cứu thoả đáng của các nhà giáo dục.
Nghiên cứu về việc vận dụng phương pháp trò chơi vào dạy học Kể chuyện
tưởng tượng là con đường dẫn tới trừu tượng hoá; việc thực hiện các quy tắc
chơi là trường học rèn luyện các phẩm chất ý chí và phẩm chất đạo đức cho
trẻ. Đây là một công trình đi sâu nghiên cứu về mặt lí luận, chứ không đi sâu
về mặt thực tiễn.
5) Phương pháp dạy học Tiếng Việt ở Tiểu học. Lê Phương Nga –
Đặng Kim Nga. NXBGD, NXBĐHSP, 1999 [14]. Sách đề cập đến phương
pháp dạy học Kể chuyện trong chủ đề 8. Đối với chủ đề này, các tác giả đề
cập đến vị trí, nhiệm vụ, vai trò của dạy học Kể chuyện, nội dung chương
trình, biện pháp và cách tiến hành. Vì phạm vi đề cập đến khá rộng, bao quát
toàn bộ chương trình Kể chuyện ở Tiểu học, nên vấn đề chỉ mới dừng lại ở
mức sơ giản.
6) Phương pháp bồi dưỡng học sinh giỏi Tiếng Việt ở Tiểu học. Lê
Phương Nga, NXBĐHSP [13]. Tác giả đề cập đến các vấn đề về bồi dưỡng
học sinh giỏi Tiếng Việt ở Tiểu học và đưa ra một số trò chơi có thể vận dụng
vào quá trình tổ chức dạy học Tiếng Việt cho học sinh Tiểu học nói chung và
quá trình tổ chức dạy học Kể chuyện nói riêng.
7) Dạy và kể chuyện văn học ở vườn trẻ. M.K Mogoliupxkaia, v.v.
Septsenko. NXBGD, 1976 [11]. Tác giả đã đề cập đến vấn đề phương pháp,
những thủ thuật đọc và kể chuyện văn học cho trẻ em. Mặc dù, các vấn đề mà
tác giả đề cập đến là dành cho lứa tuổi mẫu giáo nhưng chúng tôi thấy những
vấn đề mà tác giả nêu cũng có những điểm tương đồng với học sinh Tiểu học.
9
Nhìn chung, nghiên cứu phương pháp dạy học Kể chuyện cho trẻ em
đã và đang được các nhà giáo dục quan tâm ở những bình diện khác nhau.
Song, chưa có một công trình nghiên cứu nào đề cập đến một cách đầy đủ và
tập trung về vận dụng phương pháp trò chơi nhằm phát huy tính tích cực, chủ
động giao tiếp của học sinh trong giờ học Kể chuyện. Căn cứ vào chương
trình Sách giáo khoa và thực tế dạy học Tiếng Việt ở trường Tiểu học hiện
nay, chúng tôi nhận thấy việc nghiên cứu vận dụng phương pháp trò chơi vào
dạy học Kể chuyện cho học sinh lớp 3 là cần thiết. Vận dụng phương pháp
tốt các kiểu dạng bài Kể chuyện nâng cao ở lớp 4, 5.
6. Phương pháp nghiên cứu
Để tiến hành giải quyết các vấn đề đặt ra trong đề tài, chúng tôi sử dụng
những phương pháp sau:
6.1. Phương pháp nghiên cứu lí luận
Tham khảo tài liệu, sách báo có liên quan đến việc tổ chức các hoạt
động dạy học Kể chuyện cho học sinh.
Tham khảo nội dung, phương pháp, hình thức dạy học Kể chuyện lớp 3.
6.2. Phương pháp quan sát, đàm thoại
Quan sát cử chỉ, điệu bộ, nét mặt của học sinh khi kể chuyện.
Trò chuyện, tham gia các hoạt động ngoài giờ lên lớp để tìm hiểu
những khó khăn, nguyện vọng của học sinh trong quá trình rèn luyện từ đó
đưa ra biện pháp giải quyết phù hợp.
6.3. Phương pháp điều tra, khảo sát
Sử dụng phiếu điều tra để tìm hiểu:
- Thực trạng rèn kĩ năng kể chuyện cho học sinh ở những năm trước.
- Kết quả rèn kĩ năng kể chuyện của học sinh
- Những khó khăn, nguyện vọng khi rèn kĩ năng kể chuyện .
- Đánh giá của học sinh về phân môn Kể chuyện.
11
- Những quy định đặt ra cho học sinh và mức độ đạt được của học sinh
khi thực hiện các quy định đó.
6.4. Phương pháp thực nghiệm sư phạm
Liên hệ trường sở tại đồng ý, thiết kế giáo án và tiến hành thực nghiệm
sư phạm để đánh giá tính khả thi của đề tài và biện pháp đưa ra nhằm nâng
cao hiệu quả rèn kĩ năng kể chuyện cho học sinh lơp 3.
7. Cấu trúc đề tài
Đề tài có cấu trúc gồm ba phần: Phần mở đầu, phần nội dung và phần
kết luận. Trong đó, phần nội dung gồm 3 chương:
- Chương 1: Những cơ sở của việc xây dựng đề tài.
13
thế giới ngày nay hay ngày xưa. Từ những chuyện lớn, chuyện nhỏ ta nghe kể
từ tuổi ấu thơ bên bếp lửa của bà, đến những điều nghe thầy cô, bạn bè kể,
bình giảng ở trường, nhờ đó sự hiểu biết về thế giới và con người cứ tăng dần
lên theo năm tháng.
Thuở hồng hoang của lịch sử loài người cũng vậy. Những bộ tộc
nguyên thủy tập hợp lại ngày này sang tháng khác nghe kể cổ tích (kể khan
như người Tây Nguyên hiện nay), cúng mo (người Mường), sau này nghe
những người hát rong kể chuyện phiêu lưu, ma quái Ở Trung Quốc ngày
xưa có những người kể chuyện lấy tiền (thuyết thoại nhân) ở xó chợ, quán
xá Ở vùng sa mạc Tây á, Bắc Phi, những truyện kể suốt ngày này qua ngày
khác trên lưng lạc đà của các thương nhân, sau này thành bộ truyện cổ tích
Nghìn lẻ một đêm, những truyện trào tiếu dân gian thời Trung cổ ở Tây Âu
được nhiều người sưu tập lại, trong đó có những truyện trong sách của
Rabelais, Boccacio
Về sau, do nghề in ấn phát triển, lối kể bằng miệng được thay bằng
sách in phát hành khắp nơi và thể tiểu thuyết ra đời (ở Trung Quốc nghề in ấn
phát triển sớm hơn). Tiểu thuyết trở thành thể loại tự sự phổ biến rộng khắp
mà Hegel ví như là “anh hùng ca của tầng lớp thị dân”. Trong những thế kỉ
gần đây, những thành tựu tiểu thuyết thật vĩ đại với các tên tuổi: M.
Cervantes, G. Stendhal, G. Flaubert, V. Hugo, L. Tolstoi, F.Đostoievski, M.
Gorki, M. Solokhov ở châu Âu; La Quán Trung, Thi Nại Am, Tào Tuyết
Cần Ở châu Á. Tiểu thuyết đáp ứng đầy đủ các nhu cầu nhận thức, giáo
huấn của con người hiện đại. Kho tàng kể chuyện nói chung và tiểu thuyết nói
riêng là một trong những thành tựu vĩ đại nhất của loài người. Trước khi có
các phương tiện truyền thông hiện đại như phim ảnh, băng hình thì nhờ tiểu
thuyết mà con người có thể biết mọi chuyện từ quá khứ đến hiện tại, từ Đông
sang Tây và khám phá thế giới bên trong của con người một cách sinh động,
sâu sắc, cụ thể mà không một phương tiện nào có thể làm được.
14
của văn tự.
b. Trong học tập và tiếp nhận tác phẩm của học sinh
Trong học tập và tiếp nhận tác phẩm văn học kể chuyện đóng vai trò vô
cùng quan trọng với tư duy nhận thức của trẻ. Góp phần phát triển, hình thành
nhân cách, đem lại cho trẻ những cảm xúc thẩm mĩ lành mạnh. Bên cạnh đó
rèn cho các em kĩ năng nghe, nói, diễn đạt một vấn đề có sức thuyết phục.
Thích nghe kể chuyện là một đặc điểm của trẻ em. Từ thuở nhỏ, trẻ em
đã say mê nghe kể chuyện. Nhiều người không bao giờ quên những kỉ niệm
về các buổi tối nghe kể chuyện. Puskin từng tâm sự: “Buổi tối tôi nghe kể
chuyện cổ tích và lấy việc đó bù đắp những thiếu sót trong sự giáo dục đáng
nguyền rủa của mình. Mỗi truyện cổ tích ấy mới đẹp làm sao, mỗi truyện là
một bài ca”. Lớn lên các em đi học, biết chữ, có thể đọc được truyện nhưng
vẫn không giảm hứng thú nghe kể chuyện. Kể chuyện có sức mạnh riêng
trong việc giáo dục trẻ em, đem lại những cảm xúc thẩm mĩ lành mạnh. Qua
đó, mở rộng tầm hiểu biết, khêu gợi trí tưởng tượng cho các em.
Mặt khác, giờ Kể chuyện giúp phát triển ngôn ngữ nói của học sinh.
Các em học sinh Tiểu học thường mang tư duy trừu tượng, dâng cao cảm xúc
khiến trẻ ở lứa tuổi này có một sự thay đổi đáng kể là các em đã thay đổi hoạt
động sáng tạo bằng lời. Trong tiết Kể chuyện, ngôn ngữ được giáo viên và
học sinh sử dụng là ngôn ngữ nghệ thuật, tức là phải được chọn lọc, có tính
hàm súc, đáp ứng yêu cầu của quan điểm dạy học luyện nói theo chương trình
cải cách giáo dục. Học sinh trên cơ sở nắm được nội dung truyện, sau đó kể
lại, có thể sử dụng nhiều yếu tố phi ngôn ngữ để ghi dấu ấn riêng và thu hút
người nghe vào quá trình tái tạo câu chuyện. Qua giờ học Kể chuyện, học
sinh được rèn luyện rất nhiều kĩ năng: nghe, ghi nhớ, kĩ năng nói trước đám
đông, diễn tả điều muốn trình bày với lời lẽ gọn gàng, rành mạch, có ngữ
điệu, thuyết phục người nghe.
16
Từ những cơ sở lí luận trên, chúng tôi thấy việc dạy học Kể chuyện cho
học sinh lớp 3 đòi hỏi rất cao ở người giáo viên về cách thức tổ chức các hoạt
chuyện với đủ các thể loại. Đó là những tác phẩm có gái trị của Việt Nam và
thế giới, từ truyện cổ tích đến truyện hiện đại. Nhờ đó, vốn văn học của học
sinh được tích lũy dần. Đây là những hành trang quý sẽ theo các em trong
suốt cuộc đời mình.
Giờ kể chuyện còn mở rộng tầm hiểu biết, khêu gợi trí tưởng tượng cho
các em. Qua từng câu chuyện, thế giới muôn sắc màu mở rộng trước các em.
Các em tìm thấy ở trong truyện từ phong tục tập quán đến cảnh sắc thiên
nhiên, từ những thân phận và biết bao hành động nghĩa hiệp của con người
trong muôn vàn trường hợp khác nhau. Truyện kể đã làm tăng vốn hiểu biết
về thế giới, xã hội loài người xưa và nay của học sinh. Truyện còn chắp cánh
cho trí tưởng tượng và mơ ước của các em, thúc đẩy sự sáng tạo góp phần
hình thành và phát triển hoàn thiện nhân cách sống cho học sinh.
1.2. Phương pháp trò chơi
1.2.1. Phương pháp trò chơi
Theo Từ điển Tiếng Việt (Trung tâm Từ điển học xuất bản năm 2007)
định nghĩa: “Phương pháp là cách thức nghiên cứu, nhìn nhận các hiện tượng
của tự nhiên và đời sống xã hội ”.
G.henghen (1770 – 1883) cho rằng: “Phương pháp là hình thức vận
động của sự vật ”. Ta có thể hiểu mỗi sự vật đều có bản chất và được thể hiện
qua hình thức nhất định. Hình thức không bao giờ tồn tại tách rời nội dung,
chúng có phương pháp vận động của riêng mình.
Trong cuốn Giáo dục học (Phạm Viết Vượng. NXB Đại học Quốc gia
Hà Nội, 2001) có viết: “Phương pháp là hệ thống những hành động tự giác –
liên tiếp của con người nhằm đạt tới kết quả ứng với mục đích đã đề ra”.
18
Nói tóm lại: “Phương pháp chính là con đường, cách thức tiến hành
một việc gì đó”. Trong dạy học và giáo dục, “Phương pháp chính là con
đường, cách thức tiến hành hoạt động dạy học”. Đó là hình thức vận động của
một “hoạt động đặc thù”.
Cũng theo Từ điển Tiếng Việt (Trung tâm Từ điển học xuất bản năm
cao hơn. Các em được đóng vai thành các nhân vật trong truyện, được hoạt
động nhóm, được bày tỏ tình cảm của mình về các nhân vật và được tham gia
các trò chơi học tập. Thông qua những hoạt động này, trẻ được thoải mái thể
hiện năng khiếu của bản thân.
Bên cạnh đó, mỗi trò chơi học tập được lồng ghép trong bài học sẽ là
điều kiện tốt cho trẻ phát triển tư duy, tăng vốn hiểu biết, gần gũi với cuộc
sống xung quanh. Để từ đó, bồi dưỡng cho học sinh Tiểu học tình yêu thiên
nhiên, yêu con người và những bài học bổ ích rèn kĩ năng sống một cách tự
nhiên, thoải mái nhất.
1.3. Chương trình dạy học Kể chuyện cho học sinh lớp 3
1.3.1. Nội dung chương trình dạy học Kể chuyện trong SGK Tiếng Việt 3
Qua khảo sát chương trình SGK Tiếng Việt 3, chúng tôi nhận thấy các
truyện được chọn kể là các tác phẩm có giá trị của Việt Nam và thế giới, đều
có cốt truyện, có độ dài vừa phải, trọn vẹn về nội dung và hình thức của một
văn bản truyện, phù hợp với đặc điểm tâm lí và trình độ nhận thức của học
sinh lớp 3.
Nội dung chương trình được xây dựng theo chủ điểm của tuần học. Các
truyện có nội dung trong sáng, nhẹ nhàng nhưng sâu sắc, có tính giáo dục cao.
Mỗi câu chuyện đều mang đến cho các em những bài học bổ ích.
Ví dụ: Câu chuyện “Người mẹ” (TV3, tuần 4) nói về sự hi sinh cao cả
của bà mẹ đối với đứa con thân yêu, “vì con người mẹ có thể làm tất cả”…
Hay truyện “Hũ bạc của người cha” (TV3, tuần 15) khuyên chúng ta chỉ có
lao động chân chính mới làm ra được của cải lâu bền, “hũ bạc tiêu không bao
20
giờ hết chính là đôi bàn tay”…
Qua những câu chuyện đó các em biết ghét sự lười biếng và quý trọng
những người lao động chân chính. “Người con gái Tây Nguyên”,“Người liên
lạc nhỏ” là những câu chuyện giản dị nhưng cảm động về gương chiến đấu
hi sinh anh dũng để bảo vệ tổ quốc của những người con đất Việt. Những câu
chuyện cổ tích: “Sự tích chú Cuội cung trăng”,“Cóc Kiện trời”… như lời giải
12
3 Dựa vào gợi ý dưới đây, kể lại từng đoạn câu chuyện
“Chiếc áo len” theo lời của Lan
21
4 Phân vai (Người dẫn chuyện, bà mẹ, Thần Đêm Tối, bụi
gai, hồ nước, Thần Chết) dựng lại câu chuyện “Người
mẹ”
30
5 Dựa vào tranh sau, kể lại câu chuyện “Người lính dũng
cảm”
40
6 Sắp xếp lại các tranh dưới đây theo đúng thứ tự trong câu
chuyện “Bài tập làm văn”
Kể lại một đoạn câu chuyện bằng lời của em
47
7 Kể lại một đoạn của câu chuyện “Trận bóng dưới lòng
đường” theo lời một nhân vật
55
8 Kể lại câu chuyện “Các em nhỏ và cụ già” theo lời một
bạn nhỏ.
63
9 Ôn tập 69
10 Dựa vào tranh minh hoạ, hãy kể lại câu chuyện “Giọng
quê hương”
78
11 Sắp xếp lại các tranh dưới đây theo đúng thứ tự trong câu
chuyện “Đất quý, đất yêu”
Dựa vào tranh kể lại toàn bộ câu chuyện
86
22
(người dẫn chuyện, E-đi-xơn, bà cụ)
33
23 Dựa vào tranh sau, kể lại câu chuyện “Nhà ảo thuật bằng
lời của Xô-phi hoặc Mác”
42
24 Sắp xếp lại các tranh dưới đây theo đúng thứ tự trong câu
chuyện “Đối đáp với vua”
Kể lại toàn bộ câu chuyện
51
23
25 Dựa vào gợi ý dưới đây, em hãy kể lại từng đoạn truyện
“Hội vật”
59
26 Dựa vào tranh sau, em hãy đặt tên và kể lại từng đoạn
truyện “Sự tích lễ hội Chử Đồng Tử”
65
27 Ôn tập 71
28 Dựa vào tranh sau, kể lại toàn bộ câu chuyện “Cuộc chạy
đua trong rừng bằng lời của Ngựa Con”
82
29 Dựa vào tranh sau, kể lại toàn bộ câu chuyện “Buổi học
Thể dục” bằng lời của một nhân vật
90
30 Dựa vào gợi ý dưới đây, kể lại câu chuyện “Gặp gỡ ở
Lúc-xăm-bua” bằng lời của em
99
31 Dựa vào tranh sau, kể lại câu chuyện “Bác sĩ Y-éc-xanh”
theo lời của bà khách
107
32 Dựa vào tranh sau, kể lại câu chuyện “Người đi săn và
Việc lấy văn bản trong giờ Tập đọc làm ngữ liệu cho giờ Kể chuyện thể
hiện quan điểm tích hợp trong dạy học Tiếng Việt, giúp tiết kiệm được khá
nhiều thời gian, giảm bớt việc kiểm tra bài cũ, hướng dẫn tìm hiểu truyện
Do đó, giáo viên dành được nhiều thời gian tổ chức luyện tập – thực hành cho
học sinh. Mặt khác, các bài tập trong phân môn Kể chuyện không chỉ giúp
học sinh hình thành kĩ năng độc thoại mà còn hình thành cho các em cả kĩ
năng đối thoại.
- Về kĩ năng độc thoại: Học sinh kể lại câu chuyện đã đọc hay đã nghe
theo những mức độ khác nhau, cụ thể là:
+ Kể từng đoạn hoặc toàn câu chuyện.
+ Kể theo lời trong văn bản, kể bằng lời của mình, kể theo lời nhân vật.
+ Kể một cách đầy đủ, trôi chảy, kể có điệu bộ và giọng diễn cảm.
- Về kĩ năng đối thoại: Học sinh tập dựng lại câu chuyện theo các vai
khác nhau, bước đầu biết sử dụng các yếu tố phụ trợ trong giao tiếp như: nét
mặt, cử chỉ, điệu bộ
Nhìn chung, các bài tập trong SGK TV3 được biên soạn với nhiều kiểu
bài khác nhau. Các bài tập này có nội dung khá phong phú và hình thức bài
25