TRƯỜNG ĐẠI HỌC sư PHẠM HÀ NỘI 2 KHOA SINH - KTNN
===»T)CQG3===
Đồ THỊ NHÀN
XÂY DựNG VÀ SỬ DỤNG BẢN ĐỒ TƯ DUY
TRONG DẠY HỌC PHẦN BẢO QUẢN, CHÉ BIẾN
NÔNG, LÂM, THỦY SẢN CÔNG NGHỆ 10
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC • • •
•
Chuyên ngành: Phương pháp dạy học
Người hướng dẫn khoa học ThS. HOÀNG THỊ KIM HUYỀN
HÀ NỘI, 2015
LỜI CẢM ƠN
Khoá luận được hoàn thành tại khoa Sinh - KTNN, trường Đại học Sư phạm
Hà Nội 2.
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới cô hướng dẫn khoa học ThS. Hoàng
Thị Kim Huyền đã tận tình và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện khoá
luận.
Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy, cô trong khoa Sinh - KTNN đã quan tâm
tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình thực hiện khoá luận tốt nghiệp.
Tôi xin chân thành cảm ơn BGH cùng các thầy cô trong trường THPT Mỹ
Hào - Hưng Yên, THPT Xuân Hoà - Vĩnh Phúc, THPT Phúc Yên - Vĩnh Phúc đã
tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong thời gian hoàn thành khoá luận.
Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn gia đình, bạn bè đã luôn cổ vũ, động viện
tinh thần tôi trong thời gian hoàn thành khoá luận.
Hà Nội, tháng 5 năm 2015
Sinh viên
Đỗ Thi Nhàn
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan những nghiên cứu, tìm tòi và hoàn thành bài khoá luận
này là hoàn toàn do tôi thực hiện dưới sự hướng dẫn, chỉ bảo của ThS. Hoàng
Thị Kim Huyền.
kiến thức với nhau. Vì vậy, giáo viên cần hướng dẫn học sinh cách học, liên
kết kiến thức theo hệ thống là điều rất quan trọng trong quá trình dạy học.
Hiện nay, giáo viên đang xây dựng và sử dụng nhiều phương pháp dạy
học tích cực để từng bước chuyển dần cách dạy học từ chỗ trang bị kiến thức
cho học sinh sang dạy học sinh cách tiếp cận và tìm tòi kiến thức. Tù đó, vận
dụng kiến thức vào thực tiễn và biến đổi thành kĩ năng cho bản thân. Việc xây
dựng và sử dụng bản đồ tư duy kết họp phương pháp học nhóm, công nghệ
thông tin, .vào trong giảng dạy hiện nay đang là công cụ phù họp và đạt hiệu
quả cao.
Đặc biệt, môn CN10 là môn khoa học thực nghiệm gắn liền với đời sống
thực tiễn. Đây là môn học lí thú và bổ ích nhưng thực tế dạy học ở trường phổ
thông hiện nay chưa thu hút được nhiều học sinh yêu thích. Đó là do nội dung
còn nặng nề về mặt kiến thức, phương pháp giảng dạy chủ yếu là thuyết trình,
5
giảng giải chưa tạo sự hứng thú với học sinh. Chính vì thế, trong quá trình dạy
học CN10 phải đổi mới cách dạy với nhiều cách khác nhau, trong đó sử dụng
bản đồ tư duy sẽ là cách khắc phục tốt nhất.
Ngoài ra, phần Bảo quản, chế biến NLTS - CN10 có lượng kiến thức lớn,
các kiến thức có mối liên kết chặt chẽ với nhau, đặc biệt là kiến thức ứng dụng
vào thực tế bảo quản và chế biến nông, lâm, thuỷ sản. Việc xây dựng và sử
dụng bản đồ tư duy trong dạy chương này rất quan trọng bởi học sinh có thể
phát huy các năng lực sáng tạo và ứng dụng vào đời sống.
Với tất cả các lí do nêu trên cùng YỚi mong muốn góp phàn nhỏ bé của
mình nhằm nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo, chúng tôi đã quyết định
chọn nghiên cứu vấn đề “Xây dựng và sử dụng bản đồ tư duy trong dạy học
phần Bảo quản, chế biến nông, lâm, thuỷ sản - Công nghệ 10”.
2. Mục đích nghiên cứu
Đe xuất cách xây dựng bản đồ tư duy, cách tổ chức hoạt động dạy và học
với bản đồ tư duy nhằm nâng cao hiệu quả dạy học cũng như phát triển hoạt
động học tập tích cực của học sinh trong phần Bảo quản, chế biến NLTS -
7.1. Phương pháp nghiên cứu lý thuyết
Nghiên cứu các tài liệu liên quan làm cơ sở lý luận cho đề tài như: các tài
liệu hướng dẫn dạy học, các tài liệu về ứng dụng bản đồ tư duy trong dạy học,
các công trình khoa học liên quan,
7.2. Phương pháp điều tra
Gửi phiếu điều tra tới giáo viên THPT môn Công nghệ điều tra về việc xây
dựng và sử dụng BĐTD trong dạy học CN 10.
7
7.3. Phương pháp quan sát sư phạm
Dự giờ trao đổi với GV phổ thông về việc xây dựng và sử dụng BĐTD
trong CN10. Quan sát biểu hiện tích cực của HS trong giờ học sử dụng BĐTD
kích thích tư duy của HS.
7.4Phương pháp chuyên gia
Xin ý kiến nhận xét đánh giá của giáo viên phổ thông về chất lượng hệ
thống câu hỏi đã xây dựng, về tính khả thi, khả năng ứng dụng và hiệu quả sư
phạm của các các thiết kế bài giảng.
8. Đóng góp của đề tài
Góp phần làm sáng tỏ cơ sở khoa học của việc xây dựng và sử dụng
BĐTD vào tổ chức hoạt động học tập của học sinh.
Xây dựng được hệ thống BĐTD làm tư liệu tham khảo cho giáo viên công
nghệ THPT và các bạn sinh viên có nhu càu cần tìm hiểu về BĐTD vào dạy
học tích cực.
Thiết kế được một số giáo án cho phần Bảo quản, chế biến
NLTS - CN10 có sử dụng BĐTD làm phương tiện tổ chức dạy
học theo phương pháp tích cực.
PHẦN II. NỘI DUNG ■
CHƯƠNG 1. Cơ Sơ LÍ LUÂN VÀ THƯC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
• •
1.1. Cơ sở ỉý luận của đề tài
1.1.1. Day hoc tích cưc
Người dạy phải luôn làm cho người học có hứng thú với tri thức cần tiếp
nhận, phát huy tối đa tiềm năng hay sức sáng tạo của người học. Ngoài ra
người dạy phải hướng dẫn người học phương pháp tự học, tự tìm tòi và phát
9
hiện tri thức. Cùng với đó thì người dạy phải chỉ ra cái đích mà người học càn
đạt tới.
Người dạy phải biết sử dụng các phương pháp dạy một cách phù hợp nhất
đối với từng đối tượng, từng hoàn cảnh, từng cái đích mà người học đang
hướng đến.
Như vậy, sản phẩm của quá trình dạy học là: hình thành kiến thức, kỹ năng
và hoàn thiện nhân cách người học.
1.1.1.2. Phương pháp dạy học tích cực
PPDH tích cực là thuật ngữ rút gọn, được dùng ở nhiều nước, để chỉ những
phương pháp dạy học theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo
của người học.
Để đạt được mục tiêu dạy học thì cần chú ý đến PPDH. Và việc thay đổi
phương pháp từ dạy học truyền thống sang dạy học tích cực là việc cần làm
ngay đối với công tác giảng dạy hiện nay.
❖ Tình hình nghiên cứu và áp dụng của PPDH tích cực vào thực tiễn dạy
học.
Trên thế giới:
Từ năm 1920: Ở Anh đã hình thành nhà trường kiểu mới, chú ý đến sự
phát triển trí tuệ của HS, khuyến khích các hoạt động tự học, tự quản của HS.
Năm 1950: Tại Liên Xô, Đức, Ba Lan đã chú ý đến tích cực hoá hoạt động
học tập của HS.
Năm 1980: Ở Pháp các trường học kiểu mới, trong đó tại các lớp học diễn
ra tuỳ thuộc vào hứng thú của HS đã có mặt ở khắp mọi nơi trong nước.
Trong nước:
Năm 1960: Có khẩu hiệu biến quá trình đào tạo thành quá trình tự đào tạo.
1
rèn luyện phương pháp tự học, tự nghiên cứu. GV tạo điều kiện để HS tự tìm ra
tri thức bằng cách khuyến khích hoạt động khám phá tri thức, khéo léo định
hướng, tạo điều kiện để HS tự tìm tòi con đường khám phá kiến thức.
Dạy học cá thể hoá và hợp tác hoá: Tăng cường phối hợp học tập cá thể với
học tập hợp tác theo phương châm “tạo điều kiện cho HS nghĩ nhiều hơn, làm
nhiều hơn và thảo luận nhiều hơn”. DHTC kết hợp giữa việc tự học với học tập
theo nhóm dưới vai trò cố vấn, trọng tài của thầy.
Dạy học đề cao việc tự đánh giá và đánh giá: Chú trọng đánh giá kết quả
học tập theo mục tiêu bài học trong suốt tiến trình dạy học thông qua hệ thống
câu hỏi, bài tập. Chú trọng phát triển kỹ năng tự đánh giá và đánh giá lẫn nhau
của HS với nhiều hình thức như theo lời giải, theo hướng dẫn,
1.1.2. Phương tiện dạy học
1.1.2.1. Khái niệm
PTDH, theo Nguyễn Ngọc Quang, “bao gồm mọi thiết bị kỹ thuật từ đơn
giản đến phức tạp được dùng trong quá trình dạy học để làm dễ dàng cho sự
truyền đạt và tiếp thu kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo”
Theo tác giả Vũ Trọng Rỹ thì PTDH, đồ dùng dạy học là thuật ngữ chỉ một
đối tượng vật chất hoặc một tập hợp đối tượng vật chất mà người GV sử dụng
với tư cách là phương tiện điều khiển hoạt động nhận thức của HS, còn đối với
HS thì đó là nguồn tri thức, là phương tiện giúp HS lĩnh hội các khái niệm,
định luật, thuyết khoa học, hình thành ở họ các kỹ năng, kỹ xảo đảm bảo việc
thực hiện mục tiêu dạy học.
Trong tài liệu lý luận dạy học: PTDH đồng nghĩa với phương tiện trực
quan. Đó là những vật thật, vật tượng hình, tranh, hình, được sử dụng trong
dạy học.
1
2
Trong đề tài này chúng tôi coi Thiết bị dạy học hay còn là đồ dùng dạy
học, phương tiện dạy học là tất cả những phương tiện vật chất có khả năng
chứa đựng hay chuyển tải thông tin về nội dung dạy học nhằm hỗ trợ GV và
lực sáng tạo của người dạy và người học.
BĐTD là phương pháp được đưa ra như một phương tiện mạnh để tận
dụng khả năng ghi nhận hình ảnh của bộ não. Đây là cách để ghi nhớ chi tiết,
để tổng hợp, hay để phân tích một vấn đề ra thành một dạng của lược đồ phân
nhánh. Khác với máy tỉnh ngoài những khả năng ghi nhớ kiểu tuyến tính (ghi
nhớ theo một trình tự nhất định chẳng hạn như trình tự biến cố xuất hiện của
một câu chuyện) thì não bộ còn cỏ khả năng liên lạc, liên hệ các dữ kiện với
nhau. Phương pháp này khai thác cả hai khả năng này của bộ não, tạo hứng thú
học tập cho học sinh góp phần nhằm đổi mới và làm phong phú hơn cho các
phương pháp giảng dạy có tác dụng nhằm nâng cao chất lượng giáo dục.
BĐTD cỏ thể được vẽ trước ở nhà hoặc vẽ ngay ữên lớp và ngay ữong quá
trình dạy học.
Vỉ dụ: BĐTD tóm lược vấn đề đổi mới PPDH
1
4
Bản đồ tư duy là phương pháp kết nối mang tính đồ hoạ có tác dụng lưu
giữ, sắp xếp và xác lập ưu tiên đối với mỗi loại thông tin (thường là trên giấy)
bằng cách sử dụng từ hay hình ảnh then chốt hoặc gợi nhớ nhằm làm “bật lên”
những ký ức cụ thể và phát sinh các ý tưởng mới. Mỗi chi tiết gợi nhớ trong
BĐTD là chìa khoá khai mở các sự kiện, ý tưởng và thông tin, đồng thời khơi
nguồn tiềm năng của bộ não kỳ diệu.
Bí quyết hiệu quả của BĐTD nằm ở dạng linh hoạt của nó. BĐTD được vẽ
dưới dạng một tế bào não và có công dụng kích thích não làm việc nhanh
chóng, hiệu quả một cách tự nhiên.
BĐTD - một công cụ tổ chức tư duy nền tảng, có thể miêu tả nó là một kỹ
thuật hình hoạ với sự kết hợp giữa từ ngữ, hình ảnh, đường nét, màu sắc phù
hợp với cấu trúc, hoạt động và chức năng của bộ não giúp con người khai thác
1
5
tiềm năng vô tận của bộ não. Nó được coi là sự lựa chọn cho toàn bộ trí óc
của phát triển năng khiếu hội hoạ, sở thích của HS. Các em được khuyếnkhích
đóng góp ý kiến của mình, thuyết minh trước cả lớp làm cho các em HS ngày
càng mạnh dạn và tự tin.
BĐTD giúp cả GV và HS có cách ghi chép kiến thức một cách hiệu quả,
logic và mạch lạc, HS học được phương pháp học hiệu quả, phát triển tư duy.
Sử dụng BĐTD giúp giáo viên kiểm tra được sự chuẩn bị bài của học sinh
một cách nhanh nhất. Ngoài ra, nó còn đánh giá được năng lực nhận thức hay ý
thức học tập của từng học sinh, của toàn bộ lớp. Trên cơ sở đó có sự điều chỉnh
phương pháp giảng dạy cho phù họp với từng lớp, khối lớp.
1.1.3.5. Phân loại
BĐTD được phân loại theo nhiều cách khác nhau. Căn cứ vào mức độ tóm
lược kiến thức trên BĐTD dùng trong dạy học ta có các loại BĐTD sau:
- BĐTD theo đoạn văn: là loại BĐTD với nội dung theo từng đoạn văn
nhỏ trong sách.
- BĐTD theo đoạn văn: là loại BĐTD với nội dung theo từng đoạn văn
nhỏ trong sách. Mỗi BĐTD dùng để tóm tắt một đoạn văn hoặc một
trích đoạn trong sách. BĐTD theo đoạn văn giúp cho học sinh dễ dàng
nắm vững từng đoạn kiến thức nhỏ cũng như tiết kiệm thời gian ôn lại
những thông tin cần thiết mà không cần đọc lại đoạn văn đó.
- Những BĐTD loại này có thể được vẽ vào mẩu giấy nhỏ rồi đính chúng
trong SGK
- BĐTD theo chương, chủ đề, bài: Là loại BĐTD cho từng trang sách
riêng biệt hoặc cho các chủ đề khác nhau.
1
8
- BĐTD theo đề cương: dạng BĐTD này được tạo ra dựa trên bảng mục
lục trong sách, nó mang lại cái nhìn tổng quát cho toàn bộ môn học.
Thường dùng loại BĐTD này để HS ôn tập cho các kỳ thi hay kiểm tra
cuối năm. GV có thể dùng cho bài tổng kết cuối năm nhằm định hướng
việc ôn tập của học sinh.
Do đó, nên,
+ Mỗi từ khóa, hình ảnh nên được vẽ trên một đoạn gấp khúc riêng trên
nhánh. Trên mỗi khúc nên chỉ có tối đa một từ khóa. Việc này giúp từ khóa
mới và những ý khác được nối thêm vào các từ khóa sẵn có một cách dễ dàng
(bằng cách vẽ nối ra từ một khúc).
Bước 4: Bổ sung hình ảnh giúp các ý quan trọng thêm nổi bật, giúp lưu giữ
chúng vào trong trí nhớ.
1.1.3.7. Ưu điểm, nhược điểm của
BĐTD -Ưu điểm:
+ Tiết kiệm thời gian, công sức.
+ Cung cấp bức tranh tổng thể.
+ Tổ chức và phân loại suy nghĩ.
+ Ghi nhớ tốt.
+ Kích thích tiềm năng sáng tạo (hình dung, ghi nhớ, liên tưởng, sáng tạo)
- Nhược điểm'.
+ Dễ sa vào việc “trang trí, trau truất” vẽ những hình ảnh đẹp, sinh động
nên tốn rất thời gian.
1.1.4. Giới thiệu phần mền Mindmap vẽ bản đồ
tư duy Một số phần mềm tiêu biểu:
1.1.4.1. Phần mền Buzan ’ s ỉ Mỉndmap:
Đây là một phần mềm thương mại, tuy nhiên có thể tải phiên bản dùng
thử 30 ngày. Phần mềm do công ty Buzan Online Ltd thực hiện. Trang chủ tại
http://www.imindmap.com ■ Thư viện hình ảnh rộng lớn, giao diện vượt trội.
1.1.4.2. Phần mềm Inspiration
Là sản phẩm thương mại của công ty Inspiration Software, Inc. Sản phẩm
này có phiên bản dành cho trẻ em từ mẫu giáo đến lớp 5 rất dễ dùng và nhiều
2
1
màu sắc. Có thể dùng thử 30 ngày. Trang chủ tại http ://www■
inspiration. com.
Những thuận lợi và khó khăn khi ứng dụng BĐTD vào dạy - học phần Bảo
quản, chế biến NLTS - CN10.
1.2.3. Cách tiến hành
Chúng tôi đã tiến hành điều tra việc ứng dụng BĐTD vào dạy học phần
Bảo quản, chế biến NLTS - CN10 bằng phiếu điều tra YỚi các câu hỏi trắc
nghiệm và các câu hỏi mở (xem phiếu điều tra- phụ lục 1,2).
Tiến hành điều tra GV dạy Công nghệ và HS lớp 10 tại trường THPT Mỹ
Hào - Hưng Yên.
1.2.4. Kết quả điều tra
2
3
Bảng 1: Kết quả điều tra việc ỷ kiến GV trường THTP Mỹ Hào về Xây
dựng và sử dụng BĐTD vào thiết kế và dạy phần Bảo quản, chế biến NLTS -
CN10.
- GV chưa có điều kiện tiếp xúc nhiều với phương pháp BĐTD.
Sô
GV
được
điều
tra
ứng dụng thường xuyên
(2 = 40%)
Thỉnh thoảng ứng dụng (3
= 60%)
Chưa
bao giờ
sử dụng
Tính
khả
thi
CN10 vẫn chưa cao. Qua trao đổi với GV, chúng tôi thấy rằng nguyên nhân
chủ yếu của việc chưa ứng dụng nhiều là do:
- Sĩ số lớp đông khi thảo luận nhóm dễ gây ồn ào.
- Trình độ logic của HS còn hạn chế.
Bảng 2: Kết quả điều tra việc sử dụng BĐTD vào soạn và học phần Bảo
quản, chế biến NLTS— CN10 của HS lớp 10 trường THPT Mỹ Hào.
Sô học sinh
được điều
tra
Sử dụng thường
xuyên (9 = 15%)
Thỉnh thoảng
sử dụng (30 =
50%)
Chưa bao giờ
sử dụng (21 =
35%)
60 Kêt
quả
A 0 0
B 4
(6, 6%)
15
(25%)
c
5
(8,4%)
15
(25%)
Ưu A