TRƯỜNG ĐẠI HỌC sư PHẠM HÀ NỘI 2 KHOA HÓA HỌC
PHẠM THỊ NGUYỆT
XÂY DựNG BÀI TẬP TÌNH HUỐNG TRONG DẠY HỌC CHƯƠNG “NHÓM
HALOGEN”- SGK HÓA HỌC 10 NÂNG CAO
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC • • • •
Chuyên ngành: Phương pháp dạy học
Người hướng dẫn khoa học TS. ĐÀO THỊ
VIỆT ANH
HÀ NỘI-2015
Trong quá trình thực hiện đề tài tốt nghiệp, tôi đã được sự giúp đỡ nhiệt tình của các thầy cô
giáo và các bạn sinh viên khoa Hóa học.
Đặc biệt là sự giúp đỡ tận tình và chu đáo của cô Đào Thị Việt Anh giảng viên bộ môn
phương pháp dạy học khoa Hóa học trường ĐHSPHN2.
Tôi xin chân thành cảm ơn sâu sắc tới các thầy giáo, cô giáo trong khoa Hóa học Trường
ĐHSPHN2 đã tận tình dạy dỗ chúng tôi trong suốt những năm đại học.
Tôi luôn biết ơn bố mẹ, người thân và bạn bè luôn hỗ trợ giúp đỡ, động viên tôi trong suốt
thời gian học tập và hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 08 tháng 05 năm 2015 Sinh viên
Phạm Thị Nguyệt
LỜI CẢM
ĐHSP
Đại học sư phạm
ĐC
Đôi chứng
GV
Giáo viên
HĐH
Hiện đại hóa
HTTCDH
Hình thức tô chức dạy học
HS
Học sinh
KLSP
Kêt luận sư phạm
LLDH
QTDH
Quá trình dạy học
QTNT
Quá trình nhận thức
sv
Sinh viên
THDH
Tình huông dạy học
THPT
Trung học phô thông
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Đe đào tạo con người năng động, sáng tạo đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế xã
hội cần đổi mới phương pháp giáo dục đào tạo, khắc phục lối truyền thụ một chiều,
rèn luyện nếp tư duy sáng tạo của người học. Trên thực tế, thiết kế một bài giảng của
giáo viên vẫn theo phương pháp phổ biến là độc thoại nặng nề về lý thuyết, nhẹ về
thực hành. Việc sử dụng các phương pháp dạy học tích cực còn hạn chế. Do vậy khả
góp phần giúp sv nắm vững kiến thức, hình thành và rèn luyện kỹ năng dạy học, kỹ
năng giải BTTH, phát huy được tính tích cực học tập của sinh viên, nâng cao chất
lượng dạy học.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
-
Phân tích cơ sở lí luận, cơ sở thực tiễn của việc xây dựng hệ thống BTTH dạy học
chương “Nhóm halogen” - SGK hoá học 10 NC ở trường THPT, bao gồm các khái
niệm, các lý thuyết, phân loại, vai trò của BTTH, thực trạng xây dựng và sử dụng
BTTH ở trường THPT.
-
Đe xuất nguyên tắc và quy trình xây dựng BTTH.
-
Tổ chức xây dựng BTTH chương “Nhóm halogen” - SGK Hóa học 10 nâng cao.
-
Thực nghiệm sư phạm kiểm chứng hiệu quả của việc xây dựng và sử dụng BTTH
trong dạy học Hóa học.
6. Phương pháp nghiên cún
Đe giải quyết các nhiệm vụ nghiên cún của đề tài, tôi sử dụng kết hợp các nhóm
phương pháp nghiên cứu sau:
6.1.
6.4.
Phương pháp thực nghiệm sư phạm
7. Đóng góp mới của đề tài
7.1.
-
về lý luận
Góp phần làm sáng tỏ khái niệm, vai trò, phân loại BTTH, đồng thời chỉ ra các yếu tố
ảnh hưởng đến việc xây dựng BTTH.
-
Đe xuất nguyên tắc, quy trình, điều kiện xây dựng BTTH.
-
Phân tích các kỹ năng giải quyết BTTH.
7.2.
về mặt thực tiễn
-
Khảo sát, phân tích, đánh giá thực trạng xây dựng BTTH trong quá trình dạy học.
tác giả quan tâm.
Trong việc xây dựng bài tập ngoài việc phân loại bài tập thì các nguyên tắc,
quá trình xây dựng và đánh giá đối với mỗi dạng bài tập cũng rất quan trọng.
Từ đây tôi đưa ra cách phân loại BTTH, nguyên tắc, quy trình xây dựng BTTH
trong quá trình dạy học.
1.1.2.
Xây dựng BTTH trong quá trình dạy học
Xây dựng BTTH trong quá trình dạy học đang được rất nhiều tác giả quan tâm.
-
BTTH trong lĩnh vực quản lý giáo dục của Nguyễn Đình Chỉnh [7] đã đưa ra quy
trình rèn luyện kỹ năng giải quyết BTTH giáo dục.
-
BTTH trong lĩnh vục Sinh học của Phan Đức Duy [8] với công trình “Sử dụng BTTH
để rèn luyện cho sinh viên kỹ năng dạy học sinh học”.
-
BTTH trong lĩnh vực Hóa học của Đặng Thị Oanh [14] với công trình “Dùng bài toán
tình huống mô phỏng rèn luyện kỹ năng thiết kế công nghệ bài nghiên CÚ01 tài liệu
mới cho sinh viên khoa Hóa trường ĐHSP” nêu được khái niệm về bài toán mô
phỏng, biên soạn hệ thống các bài toán mô phỏng rèn luyện kỹ năng thiết kế công
nghệ bài Hóa học nghiên cún tài liệu mới cho sinh viên sư phạm.
đặt ra cho học sinh thực hiện, được trình bày dưới dạng câu hỏi, bài toán, tình huống
có vấn đề hay yêu cầu hoạt động, buộc học sinh tìm điều chưa biết trên cơ sở những
điều đã biết, qua đó nắm vũng tri thức, hình thành kỹ năng, kỹ xảo tương ứng” [10, tr.
17]. Theo khái niệm này thì bài tập mang những dấu hiệu sau:
-
Bài tập gồm những yếu tố đã biết và cần tìm những yếu tố chưa biết.
-
Bài tập giúp học sinh nắm vũng kiến thức, hình thành kỹ năng, kỹ xảo tương ứng.
Như vậy khái niệm của các tác giả đều thống nhất một dấu hiệu: Bài tập gồm
những điều kiện và những yêu cầu.
Tuy nhiên các khái niệm của tác giả còn có nhiều điểm khác nhau vì vậy cần
có một quan niệm mới.
Chúng ta có thể hiểu khái niệm bài tập như sau: Bài tập là một thông tin xác
định bao gồm những điều kiện và những yêu cầu được đưa ra trong QTDH, đòi hỏi
học sinh đưa ra lời giải đáp nhằm đê củng cố kiến thức; nam vững phương pháp học
tập; hệ thong hóa, khải quát hóa tri thức; hình thành những kỹ năng, kỹ xảo tương
ứng.
1.2.2.
Tình huống có vấn đề
Nói đến tình huống cần giải quyết là người ta nói đến tình huống có vấn đề.
Khái niệm tình huống có vấn đề được tác giả đưa ra nhiều ý kiến khác
nhau:
Tác giả Nguyễn Ngọc Bảo cho rằng: “Tình huống có vấn đề là trạng thái tâm
THCVĐ luôn chứa đựng một vấn đề cần được giải quyết (vd: một nội dung, một
nhiệm vụ, một khó khăn). Điều này sẽ kích thích chủ thể tìm tòi để chiếm lĩnh tri thức
mới hoặc phương hướng giải quyết mới.
-
THCVĐ được xuất hiện trong trạng thái tâm lý chủ thể trong khi giải quyết một vấn
đề không áp dụng được tri thức cũ mà cần đến tri thức mới, phương hướng mới.
-
THCVĐ được cấu thành bởi 3 yếu tố: Nhu cầu nhận thức hoặc hành động của người
học, sự tìm kiếm những tri thức và phương thức hành động chưa biết, khả năng của
chủ thể thể hiện ở năng lực và kinh nghiệm.
-
Đặc trưng cơ bản của tình huống có vấn đề là những lúng túng về lý thuyết và thực
hành để giải quyết. Trạng thái lúng túng xuất hiện trong quá trình nhận thức. Từ đó
chúng ta có thể hiểu THCVĐ là một trạng thái của chủ thể xuất hiện một cách chủ
quan trong quá trình tìm kiếm tri thức và phương thức mới.
1.2.3,
Bài tập tình huống trong dạy học
Khái niệm BTTH được các tác giả đưa ra nhiều ý kiến khác nhau:
Tác giả Nguyễn Như An cho rằng: “BTTH sư phạm là một dạng bài tập nêu
tình huống giả định hay thực tiễn trong ỌTDH - giáo dục, một tình huống khó khăn
căng thẳng về trí tuệ, đòi hỏi sinh viên nhận thức được và cảm thấy có nhu cầu giải
-
BTTH là một tình huống thực hoặc giả định.
-
BTTH phải chứa đựng mâu thuẫn.
-
Giải quyết BTTH là những giải pháp, những con đường thích hợp.
Tác giả Nguyễn Đức Duy cho rằng: “BTTH dạy học là nhũng tình
huống khác nhau đã, đang và có thể xảy ra trong QTDH, được cấu trúc lại dưới dạng
bài tập, khi sinh viên giải bài tập ấy vừa có tác dụng củng cố tri thức, vừa rèn luyện
được những kỹ năng dạy học cần thiết” [8, tr.26]. Theo khái niệm này thì BTTH có
những dấu hiệu sau:
-
BTTH là những tình huống khác nhau đã, đang và có thể xảy ra trong QTDH.
-
BTTH được cấu trúc dưới dạng bài tập.
-
Giải BTTH giúp sinh viên củng cố được kiến thức, rèn luyện được nhũng kỹ năng
dạy học cần thiết.
Từ việc phân tích khái niệm của các tác giả chúng ta có thể hiểu BTTH như
mà đạt được nhũng mục tiêu dạy học.
1.3.2,
Phương pháp dạy học tình huống
1.3.2.1.
Khái niệm phương pháp dạy học tình huống
Khái niêm phương pháp dạy học tình huống (hay phương pháp tình huống)
được các tác giả đưa ra nhiều ý kiến khác nhau:
Theo tác giả Nguyễn Ngọc Bảo cho rằng: “Phương pháp tình huống là phương
pháp dạy học nhằm giới thiệu cho học sinh một tình huống cụ thể hoặc có tính chất
hư cấu, đòi hỏi phải giải quyết như một bài toán hoặc một vấn đề. Các giải pháp tình
huống đó được người học và tập thể người học nêu lên và căn cứ vào nhũng nguyên
tắc nhất định được thảo ra và người ta cố gắng đưa ra một giải pháp kết hợp được tất
cả các ý kiến đó” [3, tr.86]. Vậy theo khái niệm của tác giả thì phương pháp tình
huống giới thiệu cho học sinh một tình huống, đòi hỏi họ phải giải quyết dựa trên
những nguyên tắc nhất định.
Theo tác giả Trần Thị Tuyết Oanh cho rằng: “Phương pháp tình huống là
phương pháp dạy học, trong đó giáo viên sử dụng những tình huống thực tiễn có chứa
đụng những vấn đề để học sinh giải quyết, qua đó giúp học sinh tìm ra kiến thức mới,
củng cố, vận dụng kiến thức” [12, tr.228]. Theo khái niệm của tác giả thì phương
pháp tình huống là phương pháp dạy học giúp học sinh củng cố kiến thức, vận dụng
kiến thức và hình thành kiến thức mới.
Từ những khái niệm của các tác giả chúng ta có thể hiểu phương pháp tình
huống như sau: “Phương pháp dạy học tình huống là phương pháp dạy học, giáo viên
đưa ra cho học một tình huống đòi hỏi người học tìm hiểu, phân tích và hành động
tình huống từ đó đưa ra lời giải đáp, dựa trên những nguyên tắc nhất định. Qua việc
Không khí lóp học sôi nổi tạo niềm đam mê và yêu thích môn học.
-
Rèn luyện đạo đức cả với thầy và với trò.
1.4.
1.4.1.
-
Phân ỉoạỉ bài tập tình huống
Phân loại bài tập tình huống trong học phần Lý luận dạy học
Căn cứ vào mục đích và yêu cầu sử dụng có thể phân loại thành: BTTH vận dụng
kiến thức LLDH để giải quyết thực tiễn dạy học ở trường THPT và loại BTTH làm
sáng tỏ lý luận dạy học.
-
Căn cứ vào nội dung học phần LLDH có thể phân loại thành các nhóm BTTH tương
ứng đó là BTTH dùng cho phần ỌTDH; BTTH dùng cho phần NTDH; BTTH dùng
cho phần NDDH; BTTH dùng cho phần PPDH; BTTH dùng cho phần PTDH; BTTH
dùng cho phần HTTCDH; BTTH dùng cho phần kiểm tra - đánh giá tri thức kỹ năng,
kỹ xảo.
1.4.2.
Phân loại bài tập tình huống dạy học hóa học phố thông
Trên cơ sở phân tích tổng họp, kế thừa có chọn lọc và phát triến những thành
trình dạy học nếu GV chỉ dạy lý thuyết suông mà không biết lồng ghép thực tiễn vào
bài học thì các em chỉ nhận thức một các hời hợt, nhận thức trở nên khô cứng. Đe
lồng ghép thực tiễn vào kiến thức bài học có nhiều con đường và trong đó có BTTH.
Việc giải quyết BTTH giúp sv lĩnh hội, củng cố các khái niệm, các nguyên tắc,
các nội dung lý luận có tính chất trùn tượng.
7.5.2.
Bài tập tình huống góp phần phát triến năng lực tư duy, rèn năng lực dạy học
BTTH là dạng bài tập chứa đựng mâu thuẫn trong nhận thức, buộc sv phải nỗ
lực tư duy mới giải quyết được. Những bài tập này kích thích sv suy nghĩ và hào hứng
đi tìm câu trả lời tạo nên sự hứng thú trong học tập bộ môn.
Sử dụng BTTH giúp sv phát triển khả năng tri giác. Khi đọc BTTH, sv phải ghi
nhớ được các tình tiết, tưởng tượng được tiến trình dạy học và phỏng đoán được
những yêu cầu có thể xảy ra của bài tập.
Khi giải quyết các BTTH, sv phải sử dụng các thao tác tư duy như phân tích,
tổng hợp, so sánh, đối chiếu, liên hệ... mới có thể trả lời đúng và đầy đủ bài tập. Việc
sử dụng lặp đi lặp lại các thao tác tư duy trên sẽ hình thành cho sinh viên các kỹ năng,
kỹ xảo.
BTTH có tác dụng bồi dưỡng khả năng diễn đạt, trau dồi ngôn ngữ nói và viết
cho sv, góp phần rèn luyện kỹ năng bộ môn, đặc biệt là kỹ năng dạy học và giáo dục
cho sv.
Khi giải quyết BTTH kỹ năng sư phạm sẽ được hình thành tù’ mức độ thấp đến
mức độ cao.
1.5.3.
Bài tập tình huống góp phần nâng cao ý thức, tình cảm, thái độ tích cực với
-
BTTH phải có tính khái quát, tính phát triển, tính đa dạng.
-
BTTH phải phát huy được tính tích cực, độc lập, sáng tạo của sinh viên.
-
BTTH phải gắn với thực tiễn dạy học ở trường THPT.
1.6.2,
Các yêu cầu xây dựng BTTH
Đẻ xây dựng được một BTTH cần phải đáp ứng các yêu cầu sau:
-
-
BTTH phải chứa đựng mâu thuẫn.
-
BTTH phải chứa đựng nội dung kiến thức và kỹ năng cần hình thành.
-
2. Căn cứ vào mục đích và yêu cầu sử dụng, BTTH có thể được phân chia thành 2 loại:
BTTH vận dụng kiến thức LLDH để giải quyết thực tiễn dạy học ở trường THPT và
loại BTTH làm sáng tỏ lí luận dạy học.
Căn cứ vào nội dung học phần LLDH, BTTH được phân loại thành các nhóm
sau: BTTH dùng cho phần ỌTDH; BTTH dùng cho phần NTDH; BTTH dùng cho
phần NDDH; BTTH dùng cho PPDH; BTTH dùng cho PTDH; BTTH dùng cho học
phần HTTCDH; BTTH dùng cho phần kiểm tra đánh giá tri thức, kỹ năng, kỹ xảo.
Trên cơ sở phân tích tổng hợp, kế thừa có chọn lọc và phát triến những thành
tựu nghiên CÚ11 về phân loại BTTH, BTTH trong học phần hóa học trường phổ thông
được chia thành các loại:
-
BTTH xác định mục tiêu bài học.
-
BTTH về kiến thức.
-
BTTH lựa chọn phương pháp dạy học.
-
BTTH sử dụng phương tiện dạy học.
Tuy BTTH được chia làm các loại khác nhau nhưng đều có vai trò để củng cố,
nắm vững kiến thức; hình thành và hoàn thiện kỹ năng, kỹ xảo, các nhân phẩm phẩm
chất, rèn năng lực dạy học cho sinh viên.
Tính chất của các đơn chất, họp chất và úng dụng của chúng trong cuộc
sống.
-
Cách điều chế các đơn chất, hợp chất.
Hiểu:
-
Tại sao các nguyên tố halogen lại có tính oxi hóa mạnh?
-
Nguyên tắc điều chế.
b. về kỹ năng
-
Dựa vào vị trí, cấu tạo giải thích được tính chất hóa học của các đơn chất cũng như
các hợp chất.
-
Rèn luyện kỹ năng giải bài tập và cân bằng hóa học.
-
chế clo.
-
Dự đoán, kiểm tra và kết luận được về tính chất hóa học cơ bản của clo và viết PTHH
minh họa.
-
Có ý thức bảo vệ môi trường.
Bài 31: Hiđro cỉorua - axit clohiđric
-
Biết được cấu tạo phân tử, tính chất vật lí, tính chất hóa học của axit
HC1.
-
Quan sát thí nghiệm, mô tả hiện tượng, giải thích và rút ra kết luận về tính chất hóa
học của axit HC1 và muối cloma.
-
Phương pháp điều chế HC1.
-
-
Củng cố kiến thức vật lí, hóa học đặc trung của clo, hợp chất của clo; phương pháp
điều chế clo và các họp chất của nó.
Bài 34, bài 35 và bài 36: Flo; Brom; lot
-
Tính chất vật lí, trạng thái tự’ nhiên, ứng dụng của flo, brom, iot.
-
Thành phân phân tử, tên gọi, tính chất cơ bản, một số ứng dụng, điều chế một số họp
chất của flo, brom, iot.
-
Tính chất hoá học cơ bản của flo, brom, iot là tính oxi hoá mạnh và giảm dần từ F2
đến Cl2, Br2, Ỉ2- Nguyên nhân tính oxi hoá giảm dần từ flo đến iot.
-
Viết được các PTHH chứng minh tính chất hoá học của flo, brom, iot và tính oxi hóa
giảm dần từ flo đến iot.
-
Giải được một số bài tập có nội dung liên quan đến tính chất, ứng dụng.
Tập lắp một bộ dụng cụ thí nghiệm đơn giản.
-
Củng cố các thao tác làm thí nghiệm an toàn hiệu quả, quan sát hiện tượng và viết
tường trình.
-
Khắc sâu hiểu biết về tính oxi hóa mạnh của halogen.
-
So sánh được khả năng oxi hóa của một sô halogen.
Bài 39: Bài thực hành số 4: Tỉnh chất các hợp chất của halogen
-
Củng cố kĩ năng làm thí nghiệm, quan sát và viết tường trình.
-
Làm quen với việc giải một bài tập thực nghiệm về nhận biết các dung
dịch.
-
Củng cố tính axit của axit HC1, tính tẩy màu của nước Gia-ven.
-
2.1.3.2.
Nghiên cứu clo và các họp chất của clo
Khi nghiên cún nội dung này ta cần làm rõ những vấn đề sau:
-
Clo là chất oxi hóa mạnh nhung vẫn thế hiện tính khử.
-
Giải thích tính tẩy màu của clo ẩm và nước Gia-ven nên giải thích bằng tính oxi hóa
mạnh của CIO' do nguyên tố clo có số oxi hóa là +1 không nên giải thích bằng tính
không bền, dễ phân hủy tạo ra oxi nguyên tử.
-
Giải thích lí do không nên để nước Gia-ven, clorua vôi lâu ngoài không
khí.
2.1.3.3.
Nghiên cứu tính chất của F2, Br2, ỉ2 và hợp chất
Khi nghiên cứu tính chất của F2, Br2, I2 có sự suy diễn tương tụ’ từ tính chất
của clo và có sự so sánh mức độ phản ứng thể hiện tính oxi hóa và tính khử của đơn
chất cũng như các hợp chất tương ứng của chúng.
Khi nghiên cứu về iot cần giải thích:
-
Tính chất —► ứng dụng và phương pháp điều chế
Ngoài ra, có thể dẫn dắt học sinh trên cơ sở vận dụng những kiến thức về tính
chất các chất để hoàn thiện phát triển kiến thức lý thuyết đã học, cung cấp kiến thức
mới cho học sinh.
Tích cực sử dụng thí nghiệm hóa học, tổ chức cho học sinh tham gia các hoạt
động nghiên cún tụ’ khám phá tính chất của các chất.
Đe tích cực hóa hoạt động của học sinh cần lựa chọn những nội dung thích họp
tổ chức cho học sinh phát hiện, GQVĐ. Với các vấn đề liên quan đến ứng dụng, chất
và vấn đề môi trường cần sử dụng phương pháp dạy học thích họp. Các nội dung học
tập được xây dựng thành các đề tài, dự án nhỏ để học sinh nghiên CÚ01.
Trên cơ sở nội dung những kiến thức cần truyền đạt, những kỹ năng cần rèn ta
có thể xây dựng nên các BTTH.
2.2.
-
Xây dựng bài tập tình huống trong dạy học chương “Nhóm halogen”
SGK Hóa học 10 nâng cao
2.2.1.
Bài tập tình huống xác định mục tiêu bài học
Bài 1: Một sinh viên khi soạn bài: “Hiđro clorua - axit clohiđric” đã xác định
mục tiêu dạy học như sau:
Kiến thức: - Làm cho HS nắm được cấu tạo phân tử HC1. Dung dịch HC1 là
một axit mạnh, HC1 có tính khử.
cho HS” trong mục tiêu về kiến thức đã nghiêng về phía giáo viên mà chưa chú ý đến
học sinh).
“Dự đoán, kiểm tra dự đoán, kết luận được về tính chất của axit HC1” đây thuộc
về phần kỹ năng.
Còn mục tiêu về thái độ sử dụng cụm tù' “HS biết được tính chất...”. Đây chính
là mục tiêu về kiến thức.
b. Cần sửa lại như sau:
Kiến thức'.
Biết: Học sinh biết được tính chất vật lí, tính chất hóa học và phương pháp điều
chế.
Hiểu: HS hiểu được cấu tạo phân tử HC1. Dung dịch HC1 là một axit mạnh,
HC1 có tính khử.
Kỹ năng: Dự đoán, kiểm tra dự đoán, kết luận được về tính chất của axit
HC1.
-
Viết được các PTHH chứng minh tính chất hoá học của axit HC1.
-
Phân biệt được dung dịch HC1 và muối clorua với dung dịch axit và muối khác.
-
Giải được một số bài tập tổng hợp có nội dung liên quan đến tính chất, ứng dụng và
điều chế HC1.
Thái độ: Tích cực học tập, có niềm đam mê với môn học
của phòng thí nghiệm”. Đây chính là mục tiêu về thái độ, nó thuộc ý thức trách
nhiệm.
b. Cần sửa lại như sau:
về kiến thức: Củng cố kiến thức về tính oxi hóa mạnh của các halogen. về kỹ
năng: Tập lắp một bộ dụng cụ đơn giản.
Rèn luyện kỹ năng làm thí nghiệm an toàn, hiệu quả, quan sát hiện tượng và
viết tường trình.
về thái độ: Chấp hành nghiêm túc các qui đinh của phòng thí nghiệm. Rèn tác
phong cẩn thận, tỉ mỉ, trung thực khi làm thí nghiệm. Xây dựng thái độ hợp tác khi
làm hoạt động nhóm, hào hứng trong học tập.
c. Các
tù’ để diễn tả mục tiêu bài học: về
kiến thức: Củng cố.
về kỹ năng: Lắp, rèn luyện, làm, quan sát, giải thích,..
về thái độ: Có hứng thú, nhiệt tình, tích cực, sôi nổi, cẩn thận...
2.2.2.
Bài tập tình huống về kiến thức
Bài 1: Khi dạy phần tính chất hóa học trong bài “Khái quát về nhóm halogen”
giáo viên hướng dẫn học sinh trả lời câu hỏi: “Trong các hợp chất flo chỉ có số OXH
là -1, còn các halogen khác ngoài số OXH là -1 còn có các số OXH là +1, +3, +5, +7.
Giải thích tại sao? Tại sao các số OXH lại là số lẻ và tối đa lại là +7?” như sau:
F(Z=9):ls22s22p5
lớp s, p có thể chuyển đến những obitan d còn trống và khi đó các nguyên tử clo,
brom, iot có thể có 3, 5, 7 e độc thân.
Bài 2: Sau khi học xong bài “Clo” một học sinh đứng lên hỏi: “Thưa cô vậy khi
sục khí clo vào nước thì xảy ra hiện tượng vật lí hay hiện tượng hóa học”.
Giáo viên trả lời: Đây là hiện tượng vật lí vì clo tan trong nước.
Câu hỏi: Theo anh (chị) câu trả lời của giáo viên đã đúng chưa? Vì sao?
Hướng dẫn giải quyết: Câu trả lời của giáo viên là chưa đúng bởi vì khi dẫn khí
clo vào trong nước thì một phần clo tan trong nước, một phần phản ứng với nước.
Như vậy vừa có hiện tượng vật lí vừa có hiện tượng hóa học.
Hiện tượng vật lí: Nước clo luôn có màu vàng nhạt, luôn bốc lên mùi xốc của
clo.
Hiện tượng hóa học: Clo tác dụng với nước tạo thành 2 axit:
H20 + C12^HC1 + HC10
Bài 3: Sau khi học xong bài “Clo” một học sinh đứng lên hỏi giáo viên: “Thưa
cô, tại sao khi luộc rau muống người ta thường cho thêm một chút muối ăn?”