Khoá luận tốt nghiệp ứng dụng bài tập sửa chữa sai lầm thường mắc giai đoạn chạy đà và giậm nhảy trong kỹ thuật nhảy xa kiểu ưỡn thân cho học sinh nữ khối 11 trường THPT bến tre phúc yên vĩnh phúc - Pdf 30

TRƯỜNG ĐẠI HỌC sư PHẠM HÀ NỘI 2 KHOA GIÁO DỤC THẺ CHẤT
LÀI THỊ MINH
ỨNG DUNG BÀI TÂP SỬA CHỮA SAI LẦM • •
THƯỜNG MẮC GIAI ĐOẠN CHẠY ĐÀ VÀ GIẬM
NHẢY TRONG KỸ THUẬT NHẢY XA KIỂU ƯỠN
THÂN CHO HỌC SINH NỮ KHỐI 11 TRƯỜNG
THPT BẾN TRE - PHÚC YÊN - VĨNH PHÚC
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: CNKHSP GDTC
Hướng dẫn khoa học
ThS. DƯƠNG VĂN vĩ HÀ NỘI -
2015
LỜI CAM ĐOAN
Tên tôi là: Lài Thị Minh ■
Sinh viên lớp: K37 - GDTC
Tôi xin cam đoan đề tài: “ủng dụng bài tập sửa chữa sai lầm thường mắc giai đoạn
chạy đà và giậm nhảy trong kỹ thuật nhảy xa kiểu ưỡn thân cho học sinh Nữ khối 11
trường THPT Bến Tre - Phúc Yên - Vĩnh Phúc”
là công trình của riêng tôi, đề tài này không trùng họp với kết quả của các tác giả khác.
Toàn bộ những vấn đề nêu ra trong đề tài là những vấn đề mang tính cấp thiết và đúng thực
tế khách quan của trường THPT Ben Tre - Phúc Yên - Vĩnh Phúc.
Hà Nội, ngày tháng năm 2015 Sinh viên
Lài Thị Minh
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
*
BBT-TW Ban Bí thư Trung ương
Cm Centimet
CT/TW Chỉ thị/ Trung ương
ĐC Đối chứng
GD-ĐT Giáo dục và đào tạo
GDTC Giáo dục thể chất

Bảng 3.2
Thực trạng cơ sở vật chât phục vụ cho giảng dạy và Học tập
môn GDTC
26
Bảng 3.3
Kêt quả phỏng vân thực trạng sử dụng các bài tập ở giai đoạn
chạy đà và giậm nhảy trong nhảy xa kiểu ưỡn thân (n= 20)
28
Bảng 3.4
Kêt quả phỏng vân những sai lâm thường măc phải ừong học
kỹ thuật giai đoạn chạy đà và giậm nhảy ừong nhảy xa kiểu
ưỡn thân (n= 20)
30
Bảng 3.5
Kêt quả quan sát sư phạm những sai lâm thường măc giai đoạn
chạy đà và giậm nhảy trong kỹ thuật nhảy xa kiểu ưỡn thân (n=
60)
32
Bảng 3.6 Kêt quả phỏng vân những nguyên nhân dân đên sai lâm 34
Bảng 3.7
Kêt quả phỏng vân lựa chọn một sô bài tập sửa chữa sai lầm
thường mắc trong học kỹ thuật nhảy xa ưỡn thân (n=20)
37
Bảng 3.8
Nội dung các bài tập sửa chữa sai lâm thường măc giai đoạn
chạy đà và giậm nhảy trong kỹ thuật nhảy xa kiểu ưỡn thân
39
Bảng 3.9
Kêt quả phỏng vân lựa chọn các test đánh giá hiệu quả bài tập
(n= 20)

đáp ứng với sự nghiệp của thời đại. Chính vì vậy, TDTT là một hoạt động
không thể thiếu được ừong đời sống xã hội loài người. Ngay từ khi mới ra đời,
TDTT đã ừở thành một bộ phận hữu cơ của nền văn hóa, xã hội, là phương tiện
GDTC góp phần phát triển toàn diện nhân cách, nâng cao sức khỏe, phục vụ
cho công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ Quốc.
Dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam, đất nước ta đang bước
vào thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa nhằm thực hiện mục tiêu: Dân giàu,
nước mạnh, xã hội công bằng dân chủ, văn minh. Đe thực hiện được mục tiêu
đó Đảng ta đã đề ra một hệ thống chính sách, cơ chế, biện pháp mang tính
đồng bộ, toàn diện và khoa học. Trong lĩnh vực TDTT chỉ thị 17/BBT - TW
của ban bí thư trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam “về phát triển phong trào
TDTT đến năm 2010” và phương hướng, nhiệm vụ đã được đại hội IX của
Đảng xác định: “Đẩy mạnh hoạt động TDTT, nâng cao thể trạng và tầm vóc của
người Việt Nam phát triển phong trào TDTT quần chúng với mạng lưới cơ sở rộng
khắp, đào tạo đội ngũ VĐV thể thao thành tích cao, đưa thể thao Việt Nam lên trình
độ chung trong khu vực Đông Nam Á và châu Ả có vị trí cao trong nhiều bộ môn.
Đẩy mạnh xã hội hóa, khuyển khích nhân dân và các tổ chức tham gia thiết thực, cỏ
hiệu quả các hoạt động văn hóa thể thao ”
[2] , Song để phát triển phong ừào TDTT thì không thể thiếu được vai trò của
GDTC ừong nhà trường tò các cấp, tò bậc mẫu giáo đến bậc đại học.
Vì vậy, công tác GDTC được quan tâm và được đưa vào giảng dạy ở
hầu hết trong trường học các cấp. Nội dung giáo dục rất phong phú, nhằm xây
dựng con người mới phát triển hài hòa, cân đối phù hợp với yêu cầu của xã
hội, các hình thức giáo dục không những nhằm nâng cao sức khỏe mà còn giúp
con người phòng chống bệnh tật.
7
Trong sự nghiệp phát triển TDTT và hệ thống GDTC thì Điền kinh giữ
một vị trí quan trọng. Điền kinh là môn thể thao có lịch sử lâu đời nhất được
ưa chuộng và phổ biến rộng rãi trên toàn thế giới, vi có thể dễ dàng lựa chọn
bài tập phù họp với đặc điểm cá nhân, lứa tuổi và giới tính, ngoài ra còn đơn

trường THPT Bến Tre - Phúc Yên - Vĩnh Phúc.
Một vấn đề xuất phát tò thực tế là làm thế nào để sửa chữa sai làm
thường mắc giai đoạn chạy đà và giậm nhảy trong học kỹ thuật nhảy xa, góp
phần nâng cao chất lượng và hiệu quả quá trình giảng dạy là việc làm cần thiết
và có ý nghĩa thực tiễn trong quá trình giảng dạy.
Trong nhiều năm qua, đã có nhiều công trình nghiên cứu khoa học về
môn nhảy xa ở trong và ngoài nước. Qua quá trình nghiên cứu tài liệu chúng
tôi thấy có một số đề tài nghiên cứu về nhảy xa như: Nguyễn Thị Bắc K30
GDTC - ĐHSP Hà Nội 2: “ứng dụng một sổ bài tập sửa chữa những sai lầm
thường mẳc trong học kỹ thuật nhảy xa ưỡn thân cho Nữ khối 11 trường THPTDương
Xá - Gia Lâm - Hà Nội”, Lê Xô Việt K32 GDTC - ĐHSP Hà Nội 2 với đề tài:
“ứng dụng một sổ bài tập bổ trợ nhằm nâng cao hiệu quả giậm nhảy của nhảy xa
cho Nữ học sinh khối 11 trường THPT Cao Bá Quát - Gia Lâm - Hà Nội”, Qua tìm
hiểu chúng tôi thấy chưa có đề tài nào nghiên cứu cho học sinh Nữ khối 11
trường THPT Bến Tre - Phúc Yên - Vĩnh Phúc.
Xuất phát từ thực tế trên, với mục đích là nâng cao hiệu quả kỹ thuật
nhảy xa kiểu ưỡn thân cho Nữ học sinh trường THPT Bến Tre - Phúc Yên -
Vĩnh Phúc. Chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “ửng dụng bài tập sửa chữa
sai lầm thường mắc giai đoạn chạy đà và giậm nhảy trong kỹ thuật nhảy xa
kiểu ưỡn thân cho học sinh Nữ khối 11 trường THPT Bến Tre - Phúc Yên -
Vĩnh Phúc”.
* Mục đích nghiền cứu: Qua kết quả nghiên cứu, giúp chứng tôi xác định chuẩn
xác những bài tập nhằm khắc phục những sai lầm thường mắc giai đoạn chạy
đà và giậm nhảy, ừên cơ sở đó xây dựng hệ thống các bài tập và biện pháp đảm
bảo tính khoa học có khoa học nhất đối với việc nâng cao thảnh tích môn nhảy
xa cho đối tượng học sinh không chuyên. Đồng thời có cơ sở để đưa vào áp
dụng trong thực tế đảm bảo kết quả giảng dạy cao hơn đối với trường THPT.
9
Giả thiết khoa học: Nếu các bài tập mà chúng tôi áp dụng là
đúng, thì sẽ được nâng cao được chất lượng và thành tích

tạo giáo viên TDTT tạo điều kiện cần thiết về cơ sở vật chất để thực hiện chế
độ GDTC ở tất cả các trường học ”
[3] . Ngày 7/3/1995 Thủ tướng chính phủ cũng ra chỉ thị 113/TTG về xây dựng và
quy hoạch phát triển ngành TDTT, về GDTC trong trường học. Trong hội nghị
GDTC trong trường phổ thông toàn quốc (Hải Phòng 08/1996), Phó thủ tướng
Nguyễn Khánh đã nói “Ước vọng của chúng ta là mỗi thanh niên cả nam và nữ đều
có thể lực cường tráng, cùng với tâm hồn trong sáng và trí tuệ phát triển ” [5].
Nhìn chung các chỉ thị, văn bản, nghị quyết của Đảng và Nhà nước liên
quan đến công tác TDTT và GDTC trong nhà trường đều có chung quan điểm
nhằm lãnh đạo, chỉ đạo để TDTT nước nhà ngày càng phát triển, phong trào
luyện tập TDTT phát triển rộng khắp, để mỗi người dân Việt Nam đều có sức
khỏe tốt phục vụ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
1.2. Ý nghĩa và vị trí môn Điền kinh trong hệ thống GDTC
Tập luyện điền kinh một cách có hệ thống và khoa học từ lâu đã được
các nhà khoa học khẳng định là có tác dụng tốt trong việc tăng cường và củng
cố sức khỏe cho con người. Một người đi bộ hoặc tập chạy thường xuyên, tim
co bóp khỏe hơn, thảnh mạch máu co giãn tốt hơn, hô hấp sâu hơn người không
tập luyện một cách rõ rệt. Các bài tập điền kinh chẳng những có tác dụng tốt
đối với sức khỏe mà còn là cơ sở để phát triển thể lực toàn diện, tạo điều kiên
nâng cao thành tích các môn thể thao khác.
Sự đa dạng của các bài tập điền kinh và mức độ tác động của lượng vận
động, đặc biệt trong đi bộ, chạy, nhảy, ném đẩy, giúp cho người tập dễ dàng
điều chỉnh và lựa chọn hình thức tập luyện phù hợp với lứa tuổi, giới tính, đặc
điểm cá nhân, Mặt khác, sự đơn giản về sân bãi, dụng cụ tập luyện là điều
kiện để môn điền kinh phổ cập trong quần chúng lao động.
Trong những năm qua, cùng vói việc nâng cao chất lượng giáo dục các
bộ môn văn hoá, Ngành Giáo dục và Đào tạo đã tăng cường các giải pháp giáo
dục thể chất cho học sinh trong các trường phổ thông. Hai giải pháp quan trọng
nhất là xây dựng cơ sở vật chất phục vụ giáo dục thể chất và đội ngũ giáo viên
thể dục trong nhà trường. Tuy chưa thật đày đủ, nhưng tất cả các nhà trường

Mục đích của chạy đà là tạo ra tốc độ tối đa theo phương nằm ngang
trước khi giậm nhảy và chuẩn bị tốt cho việc đặt chân giậm nhảy chính xác vào
1
ván giậm, số bước chạy đà ở các Vận động viên (VĐV) nam xuất sắc là 18-24
bước (khoảng 38 - 48m), còn ở các VĐV nữ: 16-24 bước (khoảng 32
- 42m). Số lượng bước chạy đà tối ưu phụ thuộc nhiều vào trình độ huấn luyện
chuyên môn về chạy của VĐV. Tính chuẩn xác của chạy đà phụ thuộc vào độ
dài chuẩn và nhịp điệu thực hiện các bước chạy trong đà.
Bắt đầu chạy đà tốt cũng đóng vai trò quan trọng, vì vậy VĐV cần có tư
thế ban đầu và động tác ổn định. Có một vài cách bắt đầu chạy đà: đứng tại
chỗ, đi bộ vài bước, chạy bước đệm vài bước Thông thường là VĐV đứng tại
chỗ, một chân đứng vào vạch giới hạn của cự ly đà, chân kia để ở phía sau,
hoặc bắt đầu chạy đà bằng vài bước đi bộ hay chạy nhẹ nhàng rồi tăng dàn tốc
độ. Đến khoảng giữa cự ly đà, độ ngả của thân trên giảm dần (chỉ còn 78 - 80),
tăng biên độ động tác của tay và chân. Kết thúc đà, ở những bước cuối cùng,
thân trên gần như thẳng đứng. Điều rất quan trọng là phải duy trì kỹ thuật chạy
đúng cho đến bước đà cuối cùng, có cảm giác về “độ nẩy” khi tiếp xúc đất và
kiểm ừa được các động tác của mình.
Hai phương án chạy đà thường được dùng là: tăng tốc độ đều trên toàn
đà và đạt tới tốc độ tối đa ở các bước cuối cùng (cách này phù hợp với những
người mới tập nhảy) cố gắng chạy nhanh ngay từ đầu, duy trì tốc độ cao trên
cự ly và lại cố gắng tăng tốc độ ở cuối cự ly. Dù theo phương án nào, VĐV
cũng cần đạt tới tốc độ chạy đà 9 - 10 m/giây với nữ và 10 - 11 m/giây với
nam. Để giậm nhảy chính xác ở mỗi VĐV cần xác định vạch báo hiệu 2 (nơi
bắt đầu vào 4-6 bước cuối cùng). Nếu chạy đà không càn điều chỉnh nhịp điệu,
dộ dài bước chạy mà vẫn có độ dài 4 - 6 bước cuối theo dự kiến thì mới đảm
bảo giậm nhảy đúng ván giậm với tốc độ tối ưu.
Thông thường độ dài bước cuối nên ngắn hơn bước trước đó 15 - 20 cm
(nữ là 5 - 10 cm). Tuy vậy cũng có VĐV có độ dài 2 bước cuối như nhau và
thậm chí có trường hợp bước cuối dài hơn bước trước đó.

cát có ý nghĩa rất lớn. Không ít VĐV do có kỹ thuật này kém nên đã không đạt
được thành tích tốt nhất của mình. Trong tất cả các kiểu nhảy, việc thu chân
chuẩn bị rơi xuống cát được bắt đàu khi tổng trọng tâm cơ thể ở cách mặt cát
ngang với mức khi họ kết thúc giậm nhảy.
1
Để chuẩn bị cho việc rơi xuống cát, đầu tiên cần nâng đùi, đưa 2 đầu gối
lên sát ngực và gập thân trên nhiều về trước, cẳng chân lúc này được hạ xuống
dưới, hai tay chuyển từ trên cao ra phía trước. Tiếp đó là duỗi chân, nâng cẳng
chân để gót chân chỉ thấp hơn mông một chút. Thân trên lúc này không nên
gập về trước quá nhiều vì sẽ gây khó khăn cho việc nâng chân lên cao. Tay lúc
này hơi gấp ở khuỷu và được hạ xuống theo hướng xuống dưới và ra sau. Sau
khi 2 gót chân chạm cát cần gập chân ở khớp gối để giảm chấn động và tạo
điều kiện chuyển trọng tâm cơ thể xuống dưới - ra trước vượt qua điểm chạm
cát của gót. Thân trên lúc này cũng cố gập về trước để giúp không đổ người về
sau làm ảnh hưởng đến thành tích.
1.3.2. Đặc điểm kỹ thuật giai đoạn chạy đà và giậm nhảy trong nhảy
xa.
Các kết quả nghiên cứu khoa học TDTT nói chung và nhảy xa nói riêng
có ý nghĩa và tác dụng to lớn, kỹ thuật chủ yếu khi thực hiện nhảy xa là giai
đoạn giậm nhảy có hiệu quả khi đang chạy đà với tốc độ lớn. Chạy đà và giậm
nhảy quyết định chủ yếu đến hiệu quả của lần nhảy và kỹ thuật giậm nhảy đạt
hiệu quả dựa trên cơ sở giải quyết tốt giai đoạn chạy đà và khả năng phối hợp
trong giai đoạn giậm nhảy.
Nhiệm vụ của giai đoạn chạy đà là tạo tốc độ nằm ngang lớn nhất, chuẩn
bị tích cực cho giai đoạn giậm nhảy. Cự ly chạy đà phụ thuộc vào đặc điểm của
người nhảy như khả năng bắt tốc độ nhanh hay chậm khi chạy đà, trình độ kỹ
thuật, thể lực, Song thông thường với nam khoảng 40 - 45m (20
- 24 bước chạy), nữ 30 - 35m (18-20 bước chạy). Để thực hiện chạy đà được ổn
định, chính xác, hiệu quả càn thiết phải có tư thế chuẩn bị phù họp, ổn định và
đạt được tốc độ cao nhất ở giai đoạn cuối trước lúc giậm nhảy.

s =
g
Trong đó: S: Là độ xa của 1 lần nhảy
Vo: Tốc độ bay ban đầu a: Là
góc độ bay g: Là gia tốc rơi tự
do (g=9,8m/s)
Như vậy xét về mặt lý thuyết: Thành tích nhảy xa phụ thuộc vào độ lớn,
tốc độ bay ban đầy, góc bay và độ cao khi bay ra của trọng tâm cơ thể. Tính
hiệu quả của chạy đà được xác định băng khả năng tạo ra tốc độ cao nhất ở 2 -
1
4 bước cuối và biết cách duy trì khả năng đó đến khi giậm nhảy. Tốc độ chạy
đà có ảnh hưởng quyết định đến thành tích. Trong giậm nhảy tính hiệu quả của
kỹ thuật được đặc trưng bởi khả năng thay đổi hướng chuyển động của cơ thể
lên góc độ nhất định (trong giới hạn 20 - 22 độ) mà vẫn giữ được tốc độ bay
ban đầu.
Qua quá trình phân tích tổng họp các tài liệu chuyên môn kết hợp với
quan sát thực tế huấn luyện giảng dạy cho thấy, khi người thực hiện chưa hoàn
thiện kỹ thuật chạy đà và giậm nhảy thường có những biểu hiện sau:
- Nhịp điệu các bước không họp lý.
- Không tạo được tư thế chuẩn bị cho giậm nhảy.
- Giậm nhảy không hết.
- Giậm nhảy bị lao (góc độ giậm nhảy quá nhỏ).
- Bước cuối cùng hạ thấp trọng tâm ít
-Giậm nhảy bước bộ không chuẩn, không thuận lợi cho giai đoạn trên
không.
Hiệu quả khắc phục những biểu hiện sai làm trên phụ thuộc nhiều vào
trình độ chuyên môn của người giáo viên, HLV trong việc lựa chọn sử dụng
các bài tập và phương pháp huấn luyện kỹ thuật nhảy xa.
1.4.2. Yếu tố thể lưc
Thành tích nhảy xa dựa ừên sự hoàn thiện kỹ thuật và thể lực đó là yếu

đà, giậm nhảy, trên không và tiếp đất. Nếu không có sự phối hợp nhịp nhàng và
họp lý thì rất khó cho việc hình thành kỹ thuật chuẩn xác. Cùng với sự nâng
cao không ngừng của thành tích nhảy xa cũng như việc duy trì trình độ chuyên
môn thì trong mỗi giai đoạn kỹ thuật khác nhau sẽ xuất hiện các yếu tố đa dạng
và phức tạp như: Di truyền, thể lực, tâm lý, kỹ thuật, điều kiện tự nhiên,
Trong đó, yếu tố kỹ thuật và thể lực ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả của giai
đoạn chạy đà và giậm nhảy. Những sai lầm ừong giai đoạn này là do kỹ thuật
và thể lực chưa đáp ứng. Do vậy, để nâng cao hiệu quả chạy đà và giậm nhảy
cần khắc phục nguyên nhân dẫn đến sai lầm đó.
1.5. Đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi học sinh THPT
1.5.1. Đặc điểm tâm lý lứa tuổi học sinh THPT
1
về mặt tâm lý, các em thích chứng tỏ mình là người lớn, muốn để mọi
người tôn trọng mình, đã có trình độ hiểu biết nhất định, có khả năng phân tích,
tổng họp, muốn hiểu biết nhiều, có nhiều hoài bão nhưng còn nhiều nhược
điểm và thiếu kinh nghiệm ừong cuộc sống.
Tuổi này chủ yếu là hình thảnh thế giới quan, tự ý thức, hình thảnh tính
cách và hướng về tương lai. Đó cũng là tuổi lãng mạn, mơ ước độc đáo mong
cho cuộc sống tốt đẹp hơn.
Hứng thú: Các em đã có thái độ tự giác tích cực trong học tập xuất phát
từ động cơ học tập đúng đắn và hướng tới việc lựa chọn nghề phù họp với
mình sau khi đa học xong THPT. Song hứng thú học tập cũng còn do nhiều
động cơ khác nhau: Giữ lời hứa với bạn bè, đôi khi do tự ái, hiếu danh. Vì vậy,
giáo viên cần định hướng cho các em xây dựng động cơ đúng đắn để các em có
được hứng thú bền vững trong học tập nói chung và trong GDTC nói riêng.
Tình cảm: So với học sinh cấp tiểu học và THCS, học sinh THPT biểu lộ
rõ rệt tình cảm gắn bó và yêu quý mái trường mà các em sắp chia tay, đặc biệt
đối với những giáo viên giảng dạy các em (yêu, ghét rõ ràng). Việc giáo viên
gây được thiện cảm và sự tôn trọng là một trong những thành công trong sự
nghiệp trồng người. Điều đó giúp cho giáo viên thuận lợi trong quá trình giảng

môn thể thao mà các em tập luyện và đạt đến trình độ cao.
1.5.2.2. Hê thần kinh
m
Hệ thần kinh tiếp tục được phát triển và đi đến hoàn thiện, kích thích não
và hành tủy đạt đến mức con người trưởng thành. Các em đã có khả năng tư
duy, phân tích, tổng hợp và trừu tượng hóa được phát triển tạo thuận lợi cho
việc hình thành nhanh chóng tiếp thu và hoàn thiện kỹ thuật động tác.
Lứa tuổi này học sinh có thể tiếp thu được kỹ thuật động tác một cách
nhanh chóng, tuy nhiên nếu bài tập đưa ra không gây hứng thú hoặc đơn điệu
thì các em dễ chán và gây cảm giác mệt mỏi. Do đó, cần đưa ra những hình
thức tập luyện đa dạng, phong phú, phù họp, gây hứng thú cho học sinh.
Ngoài ra, sự hoạt động mạnh của tuyến giáp, tuyến sinh dục, tuyến yên
làm cho tính hưng phấn của hệ thần kinh chiếm ưu thế, giữa hưng phấn và ức
chế không cân bằng đã ảnh hưởng đến hoạt động thể lực. Vì vậy, GV và HLV
2
cần chú ý tới đặc điểm cơ thể của từng học sinh để có thể đưa ra các bài tập,
cách tập luyện phù họp và đem lại hiệu quả cao.
1.5.2.3. Hê vân đông
• ĩ • o
Hệ xương: Hệ xương đã phát triển tương đối hoàn thiện và bắt đầu giảm
tốc độ phát triển, sụn ở hai đầu xương còn dài nhưng sụn chuyển thành xương
ít. Đối với các em nữ mỗi năm cao thêm từ 0,5 - lcm, nam cao thêm tò lcm -
3cm. Tập luyện TDTT một cách thường xuyên, liên tục làm cho bộ xương khỏe
mạnh hơn. Lứa tuổi học sinh phổ thông, các xương nhỏ như xương cổ tay, bàn
tay đã hoàn thiện nên các em có thể tập luyện một số động tác treo, chống,
mang vác nặng mà không làm tổn hại hoặc không làm phát triển lệch lạc cấu
trúc cơ thể. Cột sống đã ổn định hình dáng nhưng chưa hoàn thiện, vẫn có thể
bị cong vẹo nên việc bồi dưỡng tư thế chính xác thông qua hệ thống bài tập
như đi, chạy, nhảy, thể dục nhịp điệu, cho các em là rất cần thiết và không thể
xem nhẹ được.

Nhiệm vụ 1: Đánh giá thực trạng công tác GDTC và những sai lầm
thường mắc giai đoạn chạy đà và giậm nhảy trong kỹ thuật nhảy xa kiểu “Ưỡn
thân” của học sinh Nữ khối 11 trường THPT Bến Tre.
Nhiệm vụ 2: Lựa chọn, ứng dụng và đánh giá hiệu quả các bài tập sửa
chữa sai lầm thường mắc giai đoạn chạy đà và giậm nhảy trong kỹ thuật nhảy
xa kiểu “ưỡn thân” cho các em học sinh Nữ khối 11 trường THPT Bến Tre.
2.2. Phưong pháp nghiền cứu
Chúng tôi sử dụng các phương pháp sau, để giải quyết các nhiệm vụ đã đề ra:
2.2.1. Phương pháp phân tích và tổng hợp tài liệu
Trong quá trình nghiên cứu chúng tôi sử dụng phương pháp này nhằm
mục đích tổng họp, thống kê hệ thống hóa các nguồn kiến thức có liên quan
đến vấn đề nghiên cứu.
Phương pháp này thực chất là việc tham khảo, tìm hiểu các tài liệu
chuyên môn có liên quan nhằm tìm hiểu nguyên nhân dẫn đến những sai lầm
và tìm ra được các bài tập có hiệu quả tốt nhất để sửa chữa những sai lầm đó,
chúng tôi tìm đọc những tài liệu có liên quan. Một số tài liệu chúng tôi tìm hiểu
2
như: Lỉ luận và phương pháp TDTT (Tạ Danh Tốn), Giáo trình Điền kinh (Dương
Nghiệp Chí), Sinh ỉỷ học TDTT(Hoàng Thị Ái Khuê),
2.2.2. Phương pháp quan sát sư phạm
Sử dụng phương pháp này đề điều tra thực trạng cụ thể, tiến hành theo
dõi trực tiếp các buổi tập của học sinh khối 11, đặc biệt là 60 em học sinh nữ.
Thông qua phương pháp này thu thập số liệu xác định các nguyên nhân dẫn
đến những sai làm và đánh giá hiệu quả kỹ thuật giai đoạn chạy đà và giậm
nhảy. Qua đó ứng dụng các phương pháp, sử dụng các bài tập chuyên môn sao
cho phù họp trong quá trình thực nghiệm.
2.2.3. Phương pháp phỏng vấn
Là phương pháp chứng tôi sử dụng thông qua trao đổi, phỏng vấn bằng
phiếu phỏng vấn một số giáo viên, huấn luyện viên Điền kinh có kinh nghiệm
các nội dung sau:

thuật theo chương trình giảng dạy của giáo viên Thể dục đang áp dụng hiện
hành ở trường.
- Nhóm thực nghiệm (Nhóm B): Gồm 30 Nữ học sinh lóp 11 AI và 11A2 học kỹ
thuật nhảy xa ưỡn thân theo biện pháp giảng dạy mà đề tài đã lựa chọn.
Thực nghiệm được tiến hành ừong điều kiện 2 nhóm thực nghiệm có độ
tuổi, sức khỏe, thành tích, sân bãi, dụng cụ tập luyện và điều kiện tập luyện
như nhau. Các phương tiện sử dụng trong quá trình nghiên cứu gồm: Hố nhảy
xa, đường chạy, thước dây, và một số trang thiết bị khác phục vụ cho môn
học nhảy xa.
2.2.6. Phương pháp toán thống kê
Chúng tôi đưa vào phương pháp này để tính toán và sử lí số liệu có liên
quan như:
- Công thức tính số trung bình cộng (X):
n
t
x

X =-*£
n
2
Công thức tính phương sai:
ơ = (n>30)
n-1
Công thức tính độ lệch chuẩn: ơ = .[ơ
X V X
Công thức so sánh hai số trung bình quan sát:
X - X
Trong đó:
X : Là số trung bình cộng.
X

___B_
n n

Trích đoạn Do tâm lý, ý chí, sự nô lực Lựa chọn một sổ bài tập nhằm khắc phục những sai lầm thường mắc khi học kỹ ửng dụng các bài tập vào thực nghiệm.
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status