TRƯỜNG ĐẠI HỌC sư PHẠM HÀ NỘI 2 KHOA SINH - KTNN
===£OC3G8===
NGUYỄN THỊ HOA
NGHIÊN CỨU VỀ THÀNH PHẦN CÔN TRÙNG BÁT
MỒI TRÊN CÂY RAU HỌ HOA THẬP Tự
VÀ ĐẶC ĐIỂM HÌNH THÁI, SINH HỌC CỦA LOÀI
BỌ ĐUÔI KÌM CHÂN KHOANG BẮT MÒI
EUBORRELLIA ANNULIPES (LUCAS, 1847) TẠI
PHƯỜNG XUÂN HÒA - THỊ XÃ PHÚC YÊN
TỈNH VĨNH PHÚC
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC • • • •
Chuyên ngành: Động vật học
Người hướng dẫn khoa học
PGS. TS. TRƯƠNG XUÂN LAM
HÀ NỘI, 2015
LỜI CẢM ƠN
Bằng tấm lòng biết ơn và sự kính trọng em xin gửi tới:
PGS. TS. Trương Xuân Lam - Trưởng phòng Côn trùng học thực nghiệm
Viện sinh thái và Tài nguyên sinh vật đã tận tình và nghiêm túc trong suốt quá
trinh hướng dẫn em hoàn thành luận văn này.
Em xin tỏ lòng biết om chân thành tói các thầy cô giảng dạy tại Khoa sinh kỹ thuật
nông nghiệp, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2, cán bộ nghiên cứu tai phòng côn trùng
thực nghiệm của Viện Sinh Thái và Tài Nguyên Sinh Vật trong thời gian qua đã tận tình
giúp đỡ em trong quá trình học tập, nhiệt tình góp ý và chia sẻ nhiều kinh nghiệm quý trong
nghiên cứu giúp em thực hiện đề tài này.
Em xỉn chân thành cảm ơn!
Hà Nội, tháng 5 năm 2015 Sinh YỈên
Nguyễn Thị Hoa
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu, kết quả
nêu trong luận văn là trung thực và không sao chép từ bất cứ công trình nghiên cứu khoa
khỏe con người và môi trường là hướng ưu tiên hàng đầu của ngành nông nghiệp từ
rất sớm của những năm đầu của thế kỉ XX, trong đó rau xanh là sản phẩm được quan
tâm đặc biệt về vệ sinh an toàn thực phẩm. Quy trình kĩ thuật trồng rau sạch, rau an
toàn cho phép kiểm soát tốt hơn nguyên liệu đầu vào, làm tăng năng suất, cho phép
mùa canh tác dài hơn, cung cấp sản phẩm an toàn hơn. Gần đây, để chuẩn hóa tiêu
chuẩn về an toàn trong quy trình sản xuất nông nghiệp, tổ chức những người bán lẻ
và cung cấp ở châu Âu EUREP (European Retail Products) đã công bố tiêu chuẩn
EUREP GAP (European Retail Products Good Agriculture Practice) cho thị trường
này và hàng hóa của các nước muốn vào những nước châu Âu phải tuân thủ theo tiêu
chuẩn này.
Việt Nam đã gia nhập AFTA và WTO. Thách thức lớn nhất trong thời đại chúng
ta là sản xuất và bán ra thực phẩm an toàn đáp ứng nhu cầu cao trong nước và xuất
khẩu ra thế giới, trong đó rau xanh là mặt hàng hết sức quan trọng. Nhưng trên thực
tế thì các sản phẩm rau không an toàn vẫn chiếm tỉ lệ cao trong tổng sản lượng rau
được tổ chức sản xuất trên địa bàn Hà Nội, một số nguyên nhân chính là do chưa có
quy hoạch vùng chuyên trồng rau, trồng rau theo lối truyền thống tự phát, đặc biệt là
việc lạm dụng thuốc, phân hóa học và chất kích thích sinh trưởng để ữồng rau. Việc
quy hoạch xây dựng các khu chuyên sản xuất rau sạch, rau an toàn là một bước đột
phá mới trong việc phát triển nông nghiệp - nông thôn, đồng thời thúc đẩy việc áp
dụng các quy trình kỹ thuật tiên tiến vào sản xuất rau an toàn đấp ứng được tiêu
chuẩn của GAP (Good Agriculture Practice - sản xuất nông nghiệp tốt) là những
nguyên tắc được thiết lập nhằm an toàn cho thực phẩm, an toàn cho người sản xuất,
bảo yệ môi trường, truy nguyên được nguồn gốc sản phẩm, đồng thời sản phẩm phải
được đảm bảo an toàn từ ngoài đồng đến khi sử dụng.
Trường ĐHSP Hà Nội 2 Khóa luận tốt nghiệp
Nguyễn Thị Hoa 4 K37B - SP Sinh
Nước ta là một nước nông nghiệp với 80% dân số làm nông nghiệp nên năng
suất và chất lượng sản phẩm nông nghiệp là vấn đề cốt lõi. Hiện nay, tình hình sâu
bệnh gây hại cho cây trồng đã làm đau đầu người nông dân cũng như các nhà khoa
học nông nghiệp. Đe bảo vệ cây trồng, đầu tư chăm sóc cho cây trồng đạt năng suất
nghiên cứu đặc điểm sinh học, sinh thái học của loài phổ biến, nhất là những nghiên
cứu nhân nuôi để sử dụng chúng trên cánh đồng chưa được chú trọng và quan tâm.
Nhằm đáp ứng một số yêu cầu cần thiết và góp phần làm phong phú dẫn liệu
khoa học cho những vấn đề nói trên. Vì vậy, tôi tiến hành thực hiên đề tài: “Nghiên
cứu về thành phần côn trùng bắt mồi trên cây rau họ hoa thập tự và đặc điểm hình
thái, sinh học của loài bọ đuôi kìm chân khoang bắt mồi Euborrellia annulỉpes
(Lucas, 1847) tại phường Xuân Hòa - Thị xã Phúc Yên - Tỉnh Vĩnh Phúc”.
2. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu về thành phần loài côn trùng bắt mồi trên cây rau họ hoa thập tự và
đặc điểm hình thái, sinh học của loài bọ đuôi kìm chân khoang bắt mồi nhằm làm cơ
sở khoa học để sử dụng loài bọ đuôi kìm chân khoang bắt mồi trong phòng trừ sâu
hại, giảm thiểu việc sử dụng thuốc trừ sâu trên cây rau họ hoa thập tự.
3. Nội dung nghiên cứu
- Điều tra thành phần côn trùng bắt mồi trên rau họ hoa thập tự ở các điểm trồng
rau theo cách truyền thống tại Xuân Hòa - Phúc Yên - Vĩnh Phúc.
-Nghiên cứu đặc điểm hình thái, sinh học của loài bọ đuôi kìm chân khoang bắt
mồi Euborrellỉa annulipes (Lucas)
Anh hưởng của thuốc trừ sâu lên loài bọ đuôi kìm chân khoang
bắt mồi Euborrellia annulipes (Lucas) tại cùng trồng rau an toàn ở
Xuân Hòa - Phúc Yên - Vĩnh Phúc.
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN cứu
1.1. Tình hình nghiên cứu ở ngoài nước
Trường ĐHSP Hà Nội 2 Khóa luận tốt nghiệp
Nguyễn Thị Hoa 6 K37B - SP Sinh
1.1.1. Các nghiên cứu về thành phần loài côn trùng bắt mồi
Thành phần của thiên địch rất phong phú bao gồm các loài côn trùng bắt mồi,
ong ký sinh, nhện bắt mồi, nấm, vi khuẩn, virus. Việc xác định thành phần thiên
địch , sự biến động số lượng, đánh giá vai trò của chúng là cơ sở khoa học trong việc
sử dụng chúng để phòng trừ dịch hại. Ở các vùng sinh thái khác nhau, số lượng các
loài thiên địch đã phát hiện được cũng khác nhau. Theo Blackman (1984), trong số
Chrysoperla sp. (Leung, 2004) [21].
Nhìn chung thành phần loài côn trùng bắt mồi của các loài sâu hại trên rau ít
phun thuốc họ hoa thập tự rất phong phú với hơn 60 loài bắt mồi phổ biến ghi nhận
được như bọ rùa bắt mồi Propylea japónica, Harmonía axyridis, Scymnus hojfmanni,
ruồi ăn rệp M. corollae và p. quadrifaasciatus, bọ mắt vàng Chrysoperla carnea và
Chrysopa oculata, bọ xít bắt mồi Orỉorus sp. , Coranus sp., Sycanus spp., cánh cứng
bắt mồi Cheilomenes spp., bọ đuôi kìm bắt mồi, ong vàng bắt mồi w nhiều loài đã
được nhân nuôi và sử dụng trong phòng trừ sinh học sâu hại rau ở nhiều nước trên thế
giới.
1.1.2. Các nghiên cứu về biến động sổ lượng của một sổ loài côn trùng bắt
_____A •
môi
Việc điều tra, nghiên cứu về biến động số lượng của các loài côn trùng bắt mồi
trên đồng ruộng có ý nghĩa rất lớn trong việc dự tính dự báo sự phát sinh, phát triển
của chúng, từ đó làm cơ sở cho việc lựa chon biện pháp phòng trừ thích họp. Trong
các loài côn trùng bắt mồi của sâu tơ thì bọ xít bắt mồi là đối tượng phổ biến nhất. Nó
có mặt ừên cánh đồng và hiệu quả diệt sâu tơ cũng khá cao như ở Malaysia tỷ lệ diệt
29,5%, ở Nhật Bản cao nhất vào tháng 10 tỷ lệ diệt tói 50% Riley, 1883) [22].
De Back (1974), đã nghiên cứu biến động số lượng ttong thành và thiếu trùng
của 7 loài bọ xít thuộc 3 họ bao gồm: Acanthaspis pedestris, Edocla slateri,
Catamiarus brevipennis, Haematoưhophus nigro violaceous, Neohaematorrhophus
Trường ĐHSP Hà Nội 2 Khóa luận tốt nghiệp
Nguyễn Thị Hoa 8 K37B - SP Sinh
therasii, Rhinocoris fuscipes và loài R. margỉnatus trên cánh đồng ở Tamil. Trong
thời gian nghiên cứu từ tháng 9 năm 1984 đến tháng 7 năm 1986 các tác giả nhận
thấy rằng biến động số lượng của các loài bọ xít bắt mồi này có mối quan hệ với số
lượng của vật mồi và phụ thuộc vào nhiệt độ, lượng mưa, gió. số lượng của loài bọ
xít Acanthaspis pedestrỉs thường đạt mật độ cao trong tháng 9/1984 và tháng 3/1985.
số lượng của loài bọ xít Edocla slateri đạt mật độ cao ở tháng 11/1984 và tháng
3/1985. Đối vói các loài Catamiarus brevipennỉs đạt mật độ cao vào tháng 4 hàng
vật mồi và việc sử dụng một sổ loài côn trùng bắt mồi
Từ lâu nhiều nhà khoa học đã quan tâm nghiên cứu và ứng dụng về thiên địch
trong phòng chống sâu hại. Biện pháp này tuy không mang lại hiệu quả tức thời như
biên pháp hóa học, nhưng về lâu dài lại ổn định hơn và còn bảo vệ được con người và
môi trường sống. Ở châu Mỹ các loài bắt mồi ăn thịt có thể làm giảm mật độ trứng và
sâu non sâu xanh bướm trắng từ 51 - 79%. Ngoài ra còn xác định được hai loài ong
ăn trứng sâu xanh bướm trắng là p. vulgaris và Compsỉlura consỉnata, nhưng hai loài
này có tỷ kệ thấp (dẫn theo Ha Quang Trung, 2002).
Jim Chaput 2000, đã ghi nhận có thể sử dụng các loài bắt mồi Diglyphus sp. và
Dacmusa spp để phòng trừ sinh học sâu vẽ bùa. Ferguson (2000), đã mô tả, nghiên
cứu và phát triển một số loài như ruồi ăn rệp Ảphidoletes aphidimyza, bọ rùa bắt mồi
Hippodamia convergens,Harmonia axyrỉdỉs và bọ mắt vàng
Chrysoperla sp. . Trong nhà kính để phòng trừ rệp đào Myzus pesicae, rệp bông
Aphis gossypii, rệp khoai tây Macrosiphum eupphorbiaend, và rệp cây mao
Aulacorthum solani thì biện pháp phòng trừ sinh học được ưu tiên và sử dụng với
việc thả một số loài mồi ăn rệp Aphỉdoletes aphidimyza và bọ rùa bắt mồi
Hỉppodamỉa convergens,Harmonía axyridỉs (Jamie Intosh, 2008). Trong công trình
phòng chống bọ tñ hại cây trồng trên rau ít phun thuốc thì có thể sử dụng loài bọ xít
Trường ĐHSP Hà Nội 2 Khóa luận tốt nghiệp
Nguyễn Thị Hoa 10 K37B - SP Sinh
nhỏ thuộc họ Anthocorỉdae và giun tròn Heterorhabditỉs bacterìophora (Risk and
Brian, 1995). Lane Greer (2000) đã ghi nhận 7 loài bắt mồi quan trọng trên rau trong
nhà kính gồm Chrysoperla carnea, Crufilabris, Chrysopa spp. , mồi ăn rệp
Aphỉdoletes aphydimyza, ong ăn rệp Aphidius colemani, Aphidius matrỉcarỉae và bọ
rùa bắt mồi Hippodamia convergens. Các loài thiên địch này là những tác nhân quan
trọng và hiệu quả trong phòng trừ rệp hại. Nhân nuôi và thả các loài mồi ăn rệp
Aphidoletes aphidimyza và bọ rùa bắt mồi Hỉppodamia convergens tốt nhất là vào
thời gian nhiệt độ lạnh (dẫn theo Ha Quang Trung, 2002).
Việc nhân nuôi và sử dụng các loài côn trùng bắt mồi trong phòng trừ sinh học
để giảm bớt hay loại trừ côn trùng hại cây trồng cũng đã được áp dụng ở nhiều nước
hàng triệu ha cây trồng mang lại hiệu quả cao trên 70% sau 7 ngày thả. Trên sâu non
ngài gạo được thả trong nhà kính phòng trừ sâu hại trên rau và nhiều loại cây trồng
khác. Bọ mắt vàng Chrysopa sp. là loài bắt mồi ăn trứng và cả sâu non của nhiều lọai
sâu hại rau, loài này có thể làm giảm trên 80% số lượng rệp sáp hại rau màu ở nhiều
nước châu Âu và châu Á. Ong đen kén trắng Cotesia plutellae được sử dụng ở Hàn
Quốc, Đài Loan và Trung Quốc phòng trừ sâu tơ hại rau rất hiệu quả và hiện nay
nhiều nước trên thế giớ như Trung Quốc, Philippin, Nhật Bản, Pháp .w đã có quy
trình công nghệ sản xuất ong đen kén trắng trên quy mô lớn (dẫn theo Ha Quang
Trung, 2002).
Thành công lớn nhất trong phòng trừ sâu hại rau họ hoa thập tự là việc nghiên
cứu, sản xuất quy mô công nghiệp và sử dụng rộng rãi các chế phẩm sinh học như
NPV, GV đặc biệt là chế phẩm Bt. Một trong những nghiên cứu biện pháp sinh học
được quan tâm nhiều nhất là nhân thả các loài côn trùng hiệu quả cao ttong khống chế
sâu hại, việc nhân thả các loài bắt mồi được tiến hành dưới hai phương thức: nhân thả
tràn ngập với số lượng đủ gây áp lực khống chế số lượng quần thể sâu hại. Nhân thả
bổ sung nhằm tạo lập quần thể tự nhiên (Lane Greer, 2000) [20].
Trường ĐHSP Hà Nội 2 Khóa luận tốt nghiệp
Nguyễn Thị Hoa 12 K37B - SP Sinh
1.2. Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam
Bọ đuôi kìm thuộc bộ cánh da (Dermaptera), là bộ côn trùng biến thái không
hoàn toàn, có phần phụ miệng kiểu nghiêng, mắt kép phát triển, chân bò. Phần cuối
bụng có phần đuôi dạng kìm rất khỏe dùng để tự yệ, tấn công kẻ thù hoặc giúp việc
gấp cánh. Đôi cánh trước ngắn, kitin hóa, cánh da, đôi cánh sau mỏng trong suốt. Đã
thống kê ở Việt Nam có khoảng 200 loài. Bọ đuôi kìm ăn tạp phế thải động yật, thực
vật, côn trùng nhỏ, cá thể cái có hoạt động ấp trứng sau khi đẻ.
Theo phân loại bọ đuôi kìm thuộc:
Lớp côn trùng ựnsecta)
Lớp phụ có cánh (Pterygota)
Tổng bộ biến thái không hoàn toàn (Hemimetaboỉa)
Bộ cánh da ịDerma ptera)
Trung tâm BVTV miền Trung (2008) [14] đã điều tra tại Quảng Ngãi năm
2008 ghi nhận có 4 loại bọ đuôi kìm hiện diện trên cây dừa là loài Chelisoches
variegatus (đuôi kìm màu vàng), loài Chelisoches morio (đuôi kìm màu đen), loài
đuôi kìm cỡ vừa ( chưa xác định tên), loài đuôi kìm cỡ nhỏ (chưa xác định tên).
Trong đó loài đuôi kìm màu vàng rất phổ biến trên các vườn dừa Quảng
Ngãi, hai loài còn lại chưa định danh được có kích cỡ nhỏ xuất hiện với mật độ rất
thấp. Kết quả nghiên cứu cho thấy vòng đời của Chelisoches variegatus khoảng 67
ngày, trong đó giai đoạn trứng trung bình 6,9 ngày, ấu trùng trung bình 40,7 ngày,
thiếu trùng ttải qua 3 lần lột xác với 4 tuổi. Tuổi 1 trung bình 7,4 ngày, tuổi 2 trung
bình 7,7 ngày, tuổi 3 trung bình 10,3 ngày, tuổi 4 trung bình 15,4 ngày, từ thành
trùng đến khi đẻ trừng trung bình 19,9 ngày, số trứng trung bình 72,5 quả/ổ, số ấu
trùng nở trong một ổ trung bình là 56,7 con. Tỷ lệ sống sót trong khi nuôi ở thiếu
trùng tuổi 1 trung bình 85,0%, ấu trùng tuổi 2 trung bình 90,6%, ấu trùng tuổi 3 trung
Trường ĐHSP Hà Nội 2 Khóa luận tốt nghiệp
Nguyễn Thị Hoa 14 K37B - SP Sinh
bình 95,4%, ấu trùng tuổi 4 trung bình 97,8%. Khả năng nhận nuôi tập thể đối với
loài Chelỉsoches variegatus khá tốt tỷ lệ nuôi đạt 16,64- 27,75 lần. Tỷ lệ nuôi cao
nhất với thùng nuôi 10 cặp bọ đuôi kìm/thừng 15 lít. Khả năng ăn mồi loài
Chelỉsoches varìegatus mạnh nhất ở tuổi 4 và trửơng thành. Sau đó phóng thích
100% cây dừa có bọ đuôi kìm và xuất hiện ấu trùng bọ đuôi kìm, như vậy chứng tỏ
bọ đuôi kìm đã tồn tại và thích ứng tạo quàn thể mới trên cây dừa.
Trung tâm chuyển giao quy trình nhân nuôi bọ đuôi kìm cho các hộ tham gia.
Việc nhân nuôi bọ đuôi kìm bằng thức ăn tổng họp + sâu non bọ dừa hoặc sâu non
ngài gạo rất thuận lợi, có thể nhân ra số lượng lớn bọ đuôi kìm rất nhanh. Hai tháng
nuôi thì cứ 2 tuần/lần chọn bọ đuôi kìm trưởng thành để phóng thích ra các vườn dừa,
mỗi cây dừa phóng thích 20 cặp bọ đuôi kìm.
Nghiên cứu của trung tâm BVTV khu 4 (2008) [13] cho thấy loài bọ đuôi kìm
màu đen Euborellỉa sp. trên cây cà chua và cây cải bắp năm 2008 ở Nghệ An xuất
hiện trên cây lạc, cây cà tím, cây mướp đắng, cây rau họ hoa thập tự. Kết quả nuôi bọ
đuôi kìm tại đây đạt hệ số nhân 8,1-8,8 lần còn tại hộ nông dân chỉ đạt 6,3-6,5 lần.
không có thức ăn tươi sống thì thay bằng cám mèo. Thường xuyên đảm bảo độ ẩm
hỗn họp trong hộp nuôi 70-75%, sau 2-2,5 tháng thu hoạch bọ đuôi kìm và thả ra
ngoài đồng ruộng để trừ sâu hại.
Trung tâm BVTV phía Bắc (2008) [16] điều tra thành phàn và mức độ phổ
biến của bọ đuôi kìm trên ruộng cải bắp, su hào sau thu hoạch, mộng cà chua hoa -
quả non, mộng lúa đã thu hoạch, ruộng ngô giai đoạn 3-4 lá cho thấy bọ đuôi kìm có
2 loài màu đen và màu nâu (chưa định danh), loài bọ đuôi kìm màu nâu phổ biến hơn
loài màu đen. Chúng xuất hiện tất cả các hệ sinh thái trên nhưng ừên ruộng rau bắp
cải, su hào phổ biến hơn. Vì là loài ăn đêm nên ban ngày rất ít điều tra thấy chúng
trên rau, ban ngay bọ đuôi kìm ẩn nấp dưới đất, dưới các đống lá già tàn dư trên
ruộng.
Trường ĐHSP Hà Nội 2 Khóa luận tốt nghiệp
Nguyễn Thị Hoa 16 K37B - SP Sinh
Kết quả nghiên cứu đặc điểm sinh học bước đầu tại trung tâm BVTV phía Bắc
cho thấy thời gian pha trứng của bọ đuôi kìm đen 12-13 ngày, bọ đuôi kìm nâu 15-18
ngày. Pha ấu trùng bọ đuôi kìm đen 55-63 ngày, bọ đuôi kìm nâu 65- 68 ngày. Pha
trưởng thành bọ đuôi kìm đen sống 21-25 ngày, bọ đuôi kìm nâu sống 25-27 ngày.
Kết quả nhân nuôi bọ đuôi kìm tại trung tâm BVTV phía Bắc hệ số nhân đạt
cao nhất 8, 9 lần. Ket quả nhân nuôi bọ đuôi kìm của nhóm nông dân Ngô Xuyên,
Như Quỳnh (Văn Lâm- Hưng Yên) hệ số thấp hơn (6,3 lần). Thí nghiệm phòng trừ
sâu đục quả đậu đũa bằng bọ đuôi kìm cho kết quả rất tốt, tỷ hại ở công thức thả bọ
đuôi kìm và tuốt hoa 2,4% trong khi ở công thức phun thuốc Tập kỳ 1,8 Ec là 4,2%
còn ở công thức độ chứng 30,7% sau xử lý 14 ngày. Kết quả cũng cho thấy có thể sử
dụng bọ đuôi kìm để trừ dệp và sâu tơ, sâu xanh bướm trắng hại rau, sâu đục quả đậu
đũa khi tuổi còn nhỏ.
Trung tâm cũng bố trí thí nghiệm sử dụng bọ đuôi kìm để phòng trừ sâu hại rau
họ hoa thập tự. Mật độ thả bọ đuôi kìm 1,4-2 c/m
2
trừ rệp, sâu tơ hại súp lơ, cải ngọt
tại thôn Ngô Xuyên và thị trấn Như Quỳnh kết quả tỷ lệ, chỉ số hại thấp hơn nhiều so
yực điều tra. Điểm nghiên cứu phải cách bờ ít nhất 2m.
Để xác định thành phần loài của nhóm bọ đuôi kìm tôi sử dụng vợt côn trùng có
đường kính từ 35-40 cm bắt con trưởng thành và thiếu trùng bọ đuôi kìm trên cây ,
dưới đất bắt bằng tay, có thể thu bắt bằng bẫy hố. Đe thu trứng tiến hành bới đất xung
quanh gốc cây khoảng 10 cm, sâu 2-5 cm hoặc lật các lá rau tàn dư để tìm trừng.
Thu bắt toàn bộ các loài bọ đuôi kìm bắt gặp ttên cây trồng ở điểm đã chọn.
Mẩu bọ đuôi kìm thu được cho vào hộp nuôi để nơi khô và thoáng mát theo dõi trong
phòng thí nghiệm; một phần được bảo quản ttong các ống nghiệm nhựa nhỏ có nút và
được bảo quản trong cồn 70°. Tất cả các mẫu đều được ghi nhãn đầy đủ theo tiêu
chuẩn phân loại quy định.
Trường ĐHSP Hà Nội 2 Khóa luận tốt nghiệp
Nguyễn Thị Hoa 18 K37B - SP Sinh
Tiến hành quan sát, theo dõi ngoài tự nhiên và ghi chép để xác định yật mồi
của chúng và những tập tính sinh học, sinh thái của các loài bọ đuôi kìm có ý nghĩa
để từ đó đưa ra các phương pháp và điều kiện thích hợp khi nuôi chúng trong phòng
thí nghiệm.
Để xác định được diễn biến mật độ của một số loài bọ đuôi kìm ừên rau họ hoa
thập tự, tôi tiến hành điều ừa định kỳ 5-7 ngày/lần tại các địa điểm đã chọn theo tính
ngẫu nhiên trong từng vụ cây trồng. Đơn vị điều tra là 25- 30m
2
/điểm, điều tra các
điểm làn sau không trùng với các điểm làn trước. Đơn yị tính mật độ của các loài bọ
đuôi kìm là con/m
2
.
Điều tra bằng bẫy hố: Điều tra 10 điểm ngẫu nhiên trên đường chép góc của
khu vực điều tra. Mỗi điểm một bẫy hố (kích thước 20x20x5 cm), hố được làm bằng
cách trộn tàn dư cây rau, cỏ dại với đất ẩm.
Bọ đuôi kìm sẽ được bắt tại địa điểm nghiên cứu: Vùng trồng rau màu của
Xuân Hòa.
Xác định thòi gian phát dục cũng như số lượng trứng và thòi gian sống của một
con cái trưởng thành (1 con đực + 1 con cái), (1 con đực + 2 con cái) và theo dõi thời
gian từ khi cá thể cái đẻ ổ trứng đầu tiên cho đến khi cá thể chết YÌ sinh lý. Các thí
nghiệm được nhắc lại ít nhất 3 lần. Thức ăn chủ yếu của bộ đuôi kìm là cám mèo.
Tiếp đó chúng tôi nuôi tập thể ấu trùng tuổi 1 (mới nở từ trứng) trong một hộp
thí nghiệm để xác định khả năng sống trong tập thể của bọ đuôi kìm phục vụ cho quá
trình nhân nuôi bọ đuôi kìm. Hàng ngày theo dõi thức ăn, bông thấm nước, theo dõi
thời gian lột xác của thiếu trùng, thu xác đã lột (để xác định tuổi) và thường xuyên
ghi lại nhiệt độ, ẩm độ ở trong phòng.
Trường ĐHSP Hà Nội 2 Khóa luận tốt nghiệp
Nguyễn Thị Hoa 20 K37B - SP Sinh
2.3.3. Điều tra thành phần loài côn trùng bắt mồi và vật mồi
của chúng trên rau họ hoa thập tự
a) Điều tra thu thập mẫu côn trùng Tại mỗi điểm điều tra tiến hành điều tra sơ bộ
để xác định và chọn lựa các điểm điều tta có tính chất đại diên cho vùng
nghiên cứu. Chọn các điểm ngẫu nhiên tại các khu vực điều tra. Tiến hành thu
mẫu theo cùng một phương pháp trong tất cả các điểm diều ưa. Tiến hành thu
thập sâu hại, côn trùng bắt mồi, kí sinh ở tất cả các giai đoạn phát triển của
chúng (trứng, thiếu trùng, trưởng thành) trên lá, thân cây rau, dưới đất và khu
vực xung quanh. Ghi chép các thông tin và chụp ảnh các nơi thu mẫu cũng
như sinh cảnh sống của chúng. Việc thu bắt mẫu theo phương pháp thu mẫu
côn trùng thông thường gồm: thu mẫu bằng tay, sử dụng ống hút côn trùng và
sử dụng vợt côn trùng (đường kính: 40 cm, dài: 2m) để thu bắt. Tiến hành thu
thập mẫu côn trùng bắt mồi và vật mồi trên rau vào thời điểm nhất định trong
ngày từ 5h30 - 8h30, tò 17h - 19h.Trước khi thu bắt quan sát hoạt động bắt
mồi, gây hại và các hoạt động khác trên mộng rau.
Điều tra chi tiết:
- Chọn mộng điều tra
- Thu mẫu bằng tay hoặc bằng dụng cụ như panh, kẹp: Quan sát trên thân, lá,
gốc của cây rau và dưới đất. Ghi chép các thông tin: Ngày tháng điều tra, vụ
d) Phương pháp phân loại bằng hình thái
Phân loại học truyền thống bằng hình thái của các loài côn trùng hại và thiên
địch của chúng trên rau họ hoa thập tự theo các tài liệu phân loại côn trùng của các
tác giả: Ivo Hodek, 1973; De Back, 1974; Kenneth A. Sorensen, 1995 VV. Các loài
khó xác định tên tiến hành nhờ kiểm định và so sánh mẫu vật.
2.4. Xác định sự ảnh hưởng của môt số yếu tố sinh thái
Nghiên cứu ảnh hưởng của thời vụ cnh tác rau đến sự xuất hiện và biến động
mật độ của một số loài côn trùng bắt mồi phổ biến ttên rau ít phun thuốc và rau phun
thuốc nhiều tại Phúc Yên với các công thức thử nghiệm bao gồm: Công thức 1 là
công thức rau được trồng quanh năm (rau ít phun thuốc), công thức 2 là công thức rau
trồng theo thòi vụ (rau phun thuốc nhiều). Mỗi công thức được chọn với diện tích
1000 m
2
. Điều tra diễn biến mật độ (con/m
2
) của loài côn trùng bắt mồi phổ biến
(nhóm bọ xít bắt mồi, bọ đuôi kim bắt mồi, bọ cánh cộc 3 khoang và nhóm bọ rùa bắt
Trường ĐHSP Hà Nội 2 Khóa luận tốt nghiệp
Nguyễn Thị Hoa 22 K37B - SP Sinh
mồi). Điều tra định kì 7 - 10 ngày/1 lần, đơn vị điều ưa la 1 m
2
, tiến hành điều ừa như
điều tr biến động số lượng.
Nghiên cứu ảnh hưởng của việc sử dụng thuốc trừ sâu đến sự xuất hiện và biến
động mật độ của một số loài côn trùng bắt mồi phổ biến trên rau ít phun thuốc và rau
phun thuốc nhiều trong vụ đông xuân năm 2014-2015 tại Phúc Yên vái công thức thử
nghiệm bao gồm: Công thức 1 là công thức rau phun ít thuốc 1-2 làn/vụ (rau ít phun
thuốc), công thức 2 là công thức rau phun nhiều thuốc > 3 lần/vụ (rau phun thuốc
nhiều). Mỗi công thức được chọn vói diện tích 500 m
2
Xị: Thời gian phát triển của cá thể bọ đuôi kìm thứ i
ĩiị: Số cá thể bọ đuôi kìm có cùng thời gian phát triển
N: Tổng số bọ đuôi kìm thí nghiệm
Trường ĐHSP Hà Nội 2 Khóa luận tốt nghiệp
Nguyễn Thị Hoa 24 K37B - SP Sinh
Tổng số làn bắt gặp Tần số bắt gặp (%) = ____ X 100
7
r
rp A _ _ _ Ậ 1 Ậ 4 • A _
. _ _
Tông sô lân điêu tra
Ký hiệu Mức độ phổ biến Tần suất xuất hiện
+++ Rất phổ biến >50%
++ Phổ biến 26-50%
+ ít phổ biến 6-25%
-
Rất ít phổ biến 0-5%
•Tỷ lệ trứng nở (%) = Số trứng nở
xioo
9
r
Tông sô trứng theo dõi
ĩii: Số cá thể sống đến ngày thứ i
X ' t r
T = — ai: Thời gian sông của cá thê đên ngày thứ i
N
r
7
N : Tổng số cá thể thí nghiệm
►Kích thước trung bình từng pha phát dục của bọ đuôi kìm (mm): X