VIỆC PHÁT TRIỀN VÀ sử DỤNG NGUỒN NHÂN Lực ĐỂ PHÁT TRIỂN KINH TỂ TRONG THỜI KỲ QUÁ ĐỘ LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI - Pdf 28

Trong thời đại ngày nay, khi loài người đã bước sang cuộc cách mạng
khoa học kỳ thuật lần thứ 3 thì khoa học kỹ thuật đã thực sự trở thành lực lượng
sản xuất trực tiếp như lời Mác đã tiên đoán. Với sự phát triển mạnh mẽ của
nhiều ngành khoa học và công nghệ hiện đại, với hàm lượng chất xám chiếm tỷ
lệ ngày càng cao trong các sản phẩm làm ra, con người càng tỏ rõ vai trò quyết
định của mình trong tiến trình phát triển của xã hội, của lịch sử nhân loại. Biện
chứng của sự phát triển trong thời đại ngày nay đòi hỏi con người phải bộc lộ
đầy đủ hom nữa "sức mạnh của bản chất con người" của mình một cách hiện
thực và sinh động hơn, phong phú và đa dạng hơn, vãn hoá và trí tuệ với những
cá tính độc đáo và những phẩm chất năng động, sáng tạo của con người hiện
đại. Nguồn nhân lực là yếu tố quan họng nhất, có tính chất quyết định đối với
sự phát triển kinh tế của mỗi quốc gia.
Ngày nay, trong công cuộc công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước mục
tiêu quan trọng nhất trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta thì
nguồn nhân lực chính là chìa khoá của sự thành công. Nguồn nhân lực với trình
độ tiên tiến sẽ chính là nhân tố đẩy nhanh quá trình công nghiệp hoá - hiện đại
hoá đất nước. Với một nước đang ở trình độ thấp kém phát triển như nước ta
hiện nay không thể không xây dựng một chính sách phát triển lâu bền, nâng cao
dần chất lượng của người lao động, phát huy nhân tố con người để phục vụ tốt
nhất cho mục tiêu lớn lao của toàn dân tộc, đưa nước ta tiến lên chủ nghĩa xã
hội.
L Cơ SỞ LỶ LUẬN CỦA VIỆC PHÁT TRIỀN VÀ sử DỤNG NGUỒN NHÂN Lực ĐỂ
PHÁT TRIỂN KINH TỂ TRONG THỜI KỲ QUÁ ĐỘ LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI.
1. Biện chứng của sự phát triển lực lượng sản xuất vổl sự phát triển
kỉnh tế xã hôi.
a. Mối quan hệ biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất
Sản xuất là hoạt động đặc trưng của con người và xã hội loài người. Sản
xuất xã hội bao gồm: sản xuất vật chất, sản xuất tinh thần và sản xuất ra bản
thân con người. Ba quá trình đó gắn bó chặt chẽ với nhau, tác động qua lại với
nhau trong đó sản xuất vật chất là cơ sở tồn tại và phát triển của xã hội. Sản
xuất vật chất được tiến hành bằng phương thức sản xuất nhất định. Phương

và rộng rãi vào sản xuất tri thức khoa học cũng là một bộ phận quan trọng trong
kinh nghiệm, kỹ năng của người lao động. Các yếu tố của lực lượng sản xuất có
quan hệ tác động biện chứng lẫn nhau, trong đó người lao động đóng vai trò
quan trọng hàng đầu.
Trong quá trình sản xuất vật chất, ngoài quan hệ giữa con người với tự
nhiên còn là mối quan hệ giữa người với người. Đó chính là quan hệ sản xuất.
Quan hệ này được phân tích theo hai giác độ
Xét trong quá trình tái sản xuất xã hội đó là mối quan hệ giữa người với
người trong quá trình sản xuất phân phối trao đổi và tiêu dùng.
Nếu phân tích trên 3 lớp quan hệ đó là quan hệ sở hữu đối với tư liệu sản
xuất, quan hệ trong tổ chức - quản lý sản xuất quan hệ trong phân phối sản
phẩm lao động. Ba quan hệ này có tư liệu sản xuất giữ vai trò quyết định.
Cũng như lực lượng sản xuất, quan hệ sản xuất thuộc lĩnh vực đời sống
vật chất của đời sống xã hội. Tính vật chất của quan hệ sản xuất thể hiện ở chỗ,
chúng tồn tại khách quan độc lập với ý muốn chủ quan của con người.
- Lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất là hai mặt thống nhất biện
chứng trong mỗi quá trình sản xuất. Trong mối quan hệ đó vai trò quyết định
thuộc về lực lượng sản xuất bởi vì nó là nội dung vật chất của quá trình đó.
Tính quyết định đó thể hiện là tương ứng với một trình độ phát triển của lực
lượng sản xuất hiện có thì cũng cần có một hệ thống quan hệ sản xuất phù hợp
nhằm bảo tồn, khai thác, sử dụng và phát triển lực lượng sản xuất. Đồng thời
những biến đổi trong nội dung vật chất của lực lượng sản xuất tất yếu dẫn đến
khả năng biến đổi của các quan hệ sản xuất.
Với tư cách hình thức kinh tế của quá trình sản xuất thì quan hệ sản xuất
lại có vai trò ảnh hưởng trở lại với lực lượng sản xuất. Sự tác động này biểu
hiện trên hai khả năng với nhu cầu khách quan của việc bảo tồn, sử dụng và
2
khai thác có hiệu quả các lực lượng sản xuất và do đó có tác dụng thúc đẩy lực
lượng sản xuất phát triển. Trong trường hợp ngược lại thì nó lại kìm hãm sự
phát triển của lực lượng sản xuất.

và những vũ khí bằng đá. Việc sử dụng và sáng tạo những tư liệu lao động tuy
đã có mầm mống ở một vài loài vật nào đó nhưng vẫn là đặc trưng nổi bật nhất
của lao động con người. Con người đã phát triển tư liệu lao động lên một trình
độ cao hom, ngày càng đáp ứng tốt hom quá trình sản xuất. Sản xuất phát triển
trong tất cả các ngành làm cho sức lao động của con người có khả năng sản
xuất được nhiều tư liệu hom số tư liệu cần thiết cho sinh hoạt của họ, làm tăng
sản lượng lao động hàng ngày mà mỗi thành viên của thị tộc, của công xã gia
đình hoặc 1 vợ 1 chồng.
Trong lúc của cải làm ra nhiều, mở rộng phạm vi sản xuất, tư hữu xuất
hiện thì ở những điều kiện lịch sử nhất định sự phân công lao động xã hội lớn
3
đầu tiên tất nhiên sẽ đưa đến chế độ nô lệ. Trong xã hội chiếm hữu nô lệ hình
thành 2 giai cấp chủ nô và nô lệ. Kiểu sản xuất tập thể hay hợp tác theo lối
nguyên thủy rõ ràng là sự tất yếu của từng cá nhân riêng lẻ chứ không do xã hội
hóa tư liệu sản xuất.
Sự phát triển phi thường của công nghiệp và quá trình tập trung cực kỳ
nhanh chóng của sản xuất trong các xí nghiệp ngày càng lớn, là một trong
những đặc tính đặc sắc nhất của chủ nghĩa tư bản. Giai cấp tư sản trong quá
trình thống nhất giai cấp chưa đầy một thế kỷ đã tạo ra một lực lượng sản xuất
bằng tất cả những lực lượng sản xuất của các thế hệ trước cộng lại. Chính giai
cấp tư sản là giai cấp đầu tiên đã cho chúng ta thấy hoạt động của loài người có
khả năng đến mức nào. Nó tạo ra các kỳ quan khác hẳn thời kỳ cổ đại. Giai cấp
tư sản không thể tồn tại nếu không luôn luôn cánh mạng hóa công cụ sản xuất
do đó cách mạng hóa quan hệ sản xuất. Điều này trái với tất cả các giai cấp
thống trị trước kia thì việc duy trì nguyên vẹn phát triển sản xuất cũ là điều kiện
đầu tiên cho sự tồn tại của họ.
Chủ nghĩa xã hội là hình thái kinh tế xã hội cao nhất trong lịch sử. Giai
cấp công nhân đại diện cho lực lượng sản xuất tiên tiến giữa vai trò lãnh đạo xã
hội. Khi lực lượng sản xuất đạt đến trình độ xã hội hóa cao thì quan hệ sản xuất
tư bản chủ nghĩa trở lên lỗi thời kìm hãm sự phát triển của lực lượng sản xuất.

xuất đã quyết định, làm thay đổi quan hệ sản xuất. Đến lượt mình quan hệ sản
xuất thay đổi sẽ làm cho kiến trúc thượng tầng thay đổi và do đó phưcmg thức
sản xuất cũ được thay thế bằng phương thức sản xuất mới tiến bộ hơn, hình thái
kinh tế - xã hội cũ được thay thế bằng hình thái kinh tế xã hội mới cao hơn, tiến
bộ hơn. Quá trình này diễn ra một cách khách quan không phụ thuộc vào ý
muốn chủ quan.
3. Nguồn nhân lực trong phát triển kỉnh tế thòi kỳ quá độ lên chủ
nghĩa xã hội.
a. Khái niệm
Hiện nay nhiều khái niệm khác nhau về nguồn nhân lực. Ngân hàng thế
giới cho rằng: nguồn nhân lực là toàn bộ vốn người (thể lực, trí lực, kỹ năng,
nghề nghiệp ) mà mỗi cá nhân sở hữu, có thể huy động đuợc trong quá trình
sản xuất, kinh doanh, hay trong một hoạt động nào đó.
Chúng ta có thể hiểu, nguồn lực con nguời là tổng thể những yếu tố
thuộc về chất, tinh thần, đạo đức, phẩm chất, trình độ tri thức vị thế xã hội tạo
nên năng lực của nguời, của cộng đồng nguời có thể sử dụng, phát huy trong
quá trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nuớc và trong những hoạt động xã
hội.
Khi ta nói tới nguồn lực con nguời là ta nói tới con nguời với tu cách là
chủ thể hoạt động sáng tạo tham gia cải tạo tự nhiên, làm biến đổi xã hội.
Trong các nguồn lực có thể khai thác nhu nguồn lực tụ nhiên, nguồn lực
khoa học - công nghệ, nguồn lực con nguời thì nguồn lục con nguời là quyết
định nhất, bởi lẽ những nguồn lục khác chỉ có thể khai thác có hiệu quả khi
nguồn lực con nguời đuợc phát huy. Những nguồn lục khác ngày càng cạn kiệt,
nguợc lại nguồn lực con nguời ngày càng đa dạng và phong phú. Xã hội muốn
phát triển nhanh và bền vững phải quan tâm đào tạo nguồn lục con nguời và có
chất luợng ngày càng cao. Muốn thục hiện đuợc điều đó, cần có sự quan tâm
ngay trong quá trình đào tạo, ừong quá trình sử dụng và phân công lao động xã
hội.
- Thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội đây là giai đoạn xây dụng cơ sở

triển bằng những ứng dụng thành tựu khoa học vào sản xuất. Yếu tố trí lực
trong sức lao động đặc trưng cho lao động hiện đại không còn là thói quan,
kinh nghiệm của họ và là tri thức khoa học.
Chủ nghĩa xã hội có được xây dựng thành công hay không, tùy thuộc
vào chúng ta có phát huy tốt nguồn lực con người hay không? Khi Việt Nam
bước vào sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội, Hồ Chí Minh đã khẳng định
"Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội, trước hết cần có những con người xã hội
chủ nghĩa".
[Hồ Chí Minh: toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, t.10,
tr.310]. Trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xây dựng trên lĩnh vực kinh tế,
người lao động đã trở thành người làm chủ đất nước làm chủ trong quá trình tổ
chức quản lý sản xuất, từ việc xây dựng kế hoạch sản xuất kinh doanh tới tổ
chức sản xuất kinh doanh và làm chủ trong quá trình phân phối sản phẩm. Điều
đó tạo ra điều kiện để phát huy nguồn lực con người, phát triển kinh tế - xã hội
nhanh và bền vững, làm cho đất nước ngày càng giàu đẹp.
II. VIỆC PHÁT TRIỂN VÀ SỬ DỤNG NGUỒN NHÂN Lực TRONG sự NGHIỆP
CÔNG NGHIỆP HÓA - HIỆN ĐẠI HÓA CỦA VIỆT NAM HIỆN NAY
1. Vai trò của nguồn nhân lực trong sự nghiệp công nghiệp hóa -
hiên đai hóa đất nước
• •
a. Công nghiệp hóa - hiện đại hóa là nhiệm vụ trung tâm suốt thời kỳ
6
quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.
Theo quan điểm của Đảng ta xác định công nghiệp hóa là quá trình
chuyển đổi căn bản, toàn diện các hoạt động sản xuất kinh doanh dịch vụ và
quản lý kinh tế xã hội từ sử dụng lao động thủ công là chính sang sử dụng một
cách phổ biến sức lao động cùng khoa học công nghệ tiên tiến hiện đại tạo ra
năng suất lao động xã hội cao.
Công nghiệp hóa ở nước ta có đặc điểm phải gắn liền với hiện đại hóa
bởi vì cuộc cách mạng khoa học hiện đại đã và đang diễn ra một số nước phát

nguồn nhân lực với tư cách là lực lượng sản xuất hàng đầu của xã hội. Chính là
yếu tố quyết định nhất, động lực cơ bản nhất. Thực tế đã chứng minh nguyên
nhân dẫn đến sự thành công của các quốc gia vùng lãnh thổ có nền công nghiệp
phát triển ở Châu Á. Họ đã có chính sách ưu tiên phát triển giáo dục hợp lý tạo
ra nguồn nhân lực có tay nghề, chuyên môn kỹ thuật cao đáp ứng tốt cho công
7
nghiệp hóa. Nếu như công nghiệp hóa của các nước Châu Âu kéo dài gần 100
năm thì các nước Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan, Hồng Kông, Singapo chỉ mất
hai ba mươi năm đã xây dựng được một nền công nghiệp hiện đại. Rò ràng
nguồn nhân lực trở thành yếu tố quan trọng nhất ảnh hưởng mang tính quyết
định nhất đối với sự phồn thịnh của quốc gia.
Đảng ta xác định nhân tố con người chính xác là vốn con người, vốn
nhân lực bao gồm cả sức lao động, trí tuệ và tinh thần gắn với truyền thống của
dân tộc là vốn quý nhất, quyết định sự phát triển của đất nước trong thời kỳ đẩy
mạnh công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước để xây dựng chủ nghĩa xã hội.
Vì thế giải phóng tiềm năng con người, để phát huy tối đa nguồn nhân lực trong
sự nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại hóa là một trong những quan điểm đổi
mới có tính đột phá trong đường lối phát triển kinh tế - xã hội của Đảng ta
trong thời kỳ đổi mới. Con người Việt Nam trong giai đoạn cách mạng đã được
Nghị quyết Hội nghị lần thứ 5 - Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII
xác định xây dựng với những đức tính "Lao động chăm chỉ với lương tâm nghề
nghiệp, có kỹ thuật sáng tạo, năng suất cao. Vì lợi ích của bản thân, gia đình,
tập thể và xã hội, thường xuyên học tập, nâng cao hiểu biết, trình độ chuyên
môn, trình độ thẩm mỹ và thể lực".
2. Tính tất yếu khách quan phải phát triển và sử dụng nguồn nhân
lực có hiệu quả ở nước ta hiện nay
a. Yêu cầu ưu tiên phát triển lực lượng sản xuất đồng thời xây dựng
quan hệ sản xuất phù họp theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
Nước ta đi lên chủ nghĩa xã hội từ điều kiện một nền kinh tế thấp kém,
chủ yếu là sản xuất nông nghiệp, bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa. Dù miền Bắc

Chất lượng thì đã vậy, lại kết hợp thêm việc phân bổ, sử dụng nguồn
nhân lực bất cập, thiếu đồng bộ càng tăng thêm mâu thuẫn về cung cầu nguồn
nhân lực cả về số lượng và chất lượng ở các vùng miền núi, vùng sâu, vùng xa
thừa lao động giản đơn nhưng lại thiếu nghiêm họng lao động có trình độ, gây
rất nhiều khó khăn cho việc phát triển về nhiều mặt ở vùng này. Những nơi cần
thì không có, còn những nơi đã có nhiều rồi như ở các thành phố lớn thì lại
càng nhiều thêm gây ra một sự lãng phí rất lớn cho xã hội.
Trước thực trạng đó việc phát triển và sử dụng nguồn nhân lực có hiệu
quả cao là một vấn đề bức thiết. Nguồn nhân lực chính là yếu tố quyết định
thành công của công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước, nhất là trong thời đại
của khoa học công nghệ hiện nay. Người lao động nước ta có động lực học tập
tốt, thông minh, tự tin cao, khéo léo, có thể thành giỏi nếu được giáo dục, tự tin
và cần có một môi trường thuận lợi để phát huy.
b. Phát triển và sử dụng nguồn nhân lực cũng là yêu cầu và xu thế chung
của thế giới.
Ngày nay khi loài người đã bước vào cuộc cách mạng khoa học công
nghệ lần thứ 3 thì nhân tố con người trong quá trình phát hiển kinh tế đóng vai
trò đặc biệt quan trọng. Các nước công nghiệp phát triển đã chuyển từ nền kinh
tế nông nghiệp sang nền kinh tế tri thức. Hàm lượng chất xám trong các sản
phẩm làm ra ngày càng tăng lên. Khoa học công nghệ phát triển như vũ bão,
nhanh chóng được ứng dụng vào quá trình sản xuất tạo ra khối lượng sản phẩm
đồ sộ. Các sản phẩm này ngày càng tiến tới phục vụ tối đa cho nhu cầu của con
người. Nhiều ngành sản xuất mới, máy móc thiết bị, công nghệ mới, các nguồn
năng lượng mới ra đời tạo bước phát triển nhảy vọt cho lực lượng sản xuất.
Suy đến cùng những thành tựu ấy đều ra con người sáng tạo ra, con người đóng
vai trò chủ thể.
Chính vì thế xu thế phát huy yếu tố, nguồn nhân lực là xu thế chung toàn
cầu. Nguồn nhân lực có chất lượng cao về trí tuệ và tay nghề ngày càng trở
thảnh một lợi thế cạnh tranh cho mỗi quốc gia. Nếu nguồn nhân lực chỉ hàm
chứa lao động giản đom thì sẽ là một sức ép đối với quá trình tăng trưởng và

quyền vào Trung Quốc không cần visa.
Trước xu thế chung của thế giới, chúng ta không thể đứng ngoài cuộc.
Trong công cuộc công nghiệp hóa - hiện đại hóa phát triển kinh tế đất nước
chúng ta cần hội nhập vào nền kinh tế thế giới. Nước ta tham gia vào rất nhiều
các tổ chức kinh tế như ASEAN, APEC và đặc biệt khi gia nhập vào tổ chức
thương mại thế giới WTO thì tính cạnh tranh của nền kinh tế phải được nâng
cao. Do đó việc nắm được khoa học kỹ thuật công nghệ hiện đại để chủ động
trong quá trình sản xuất, kinh tế đối ngoại rất quan trọng, chúng ta phải xác
định rõ ràng những chính sách thích hợp để nâng cao chất lượng nguồn nhân
lực.
3. Những giải pháp để phát triển và sử dụng nguồn nhân lực nước
ta hiện nay
a. Giảm tỷ lệ gia tăng dân số tạo điều kiện để nguồn nhân lực phát huy
tốt
Hội nghị lần thứ 4 Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa VII nhận định
"Gia tăng dân số quá nhanh là một trong những nguyên nhân quan trọng cản trở
tốc độ phát triển kinh tế - xã hội, gây khó khăn lớn cho việc cải thiện đời sống,
1
hạn chế phát triển về trí tuệ, văn hóa và thể lực của giống nòi. Nếu xu hướng
này cứ tiếp tục diễn ra thì ừong tương lai không xa đất nước ta sẽ đứng trước
những khó khăn rất lớn, thậm chí những nguy cơ về nhiều mặt".
Trong những năm qua tốc độ gia tăng dân số ở nước ta đã giảm chỉ còn
dưới 2%. Nhà nước thực hiện kế hoạch hóa gia đình, mỗi gia đình chỉ có 1-2
con để nuôi dạy cho tốt. Thế nhưng từ năm 2003 dân số nước ta lại có dấu hiệu
tăng nhanh trở lại, vì vậy trong giai đoạn tới chúng ta vẫn phải tiếp tục thực
hiện chính sách kế hoạch hóa dân số và gia đình để trong tương lai đảm bảo tốc
độ tăng dân số trong độ tuổi lao động hàng năm hợp lý, hình thành nguồn nhân
lực chất lượng cao, tiến tới cân bằng cung và cầu lao động.
b. Nâng cao hiệu quả của hệ thống giáo dụcđào tạo
Phát triển giáo dục, đào tạo lao động giải pháp có tính chiến lược lâu dài

trường thuận lợi cho các khu vực kinh tế phát triển, khuyến khích khu vực kinh
1
tế tư nhân làm giàu chính đáng. Đặc biệt là tạo môi trường đầu tư, chuyển giao
công nghệ, họp tác quốc tế để phát triển một bộ phận lớn doanh nghiệp vừa và
nhỏ với công nghệ hiện đại. Thực hiện định hướng của Chính phủ là đến năm
2010, cả nước có khoảng 500 nghìn doanh nghiệp, giải quyết được nhiều việc
làm cho người lao động.
Tiếp tục cải cách khu vực kinh tế Nhà nước, tạo môi trường kinh doanh
bình đẳng, thúc đẩy các doanh nghiệp Nhà nước làm ăn có hiệu quả, tạo mở
thêm việc làm cho người lao động, phát triển các tập đoàn kinh tế Nhà nước
trong những ngành sản xuất, dịch vụ quan trọng, kinh doanh ở phạm vi toàn
cầu như: hàng không, dầu khí, điện lực, viễn thông vận tải viễn dương, ngân
hàng, bảo hiểm,., để tạo sự thu hút lao động chuyên môn kỹ thuật.
Đẩy mạnh các hoạt động thu hút vốn đầu tư nước ngoài (FDI, ODA )
để đổi mới công nghệ, tạo ra thêm nhiều việc làm nâng cao trình độ tay nghề
của người lao động. Khuyến khích Việt kiều chuyển tiền về nước để tăng thêm
vốn đầu tư cho sản xuất kinh doanh, tạo mở thêm việc làm cho người lao động.
Thực tế đã cho thấy rằng nguồn vốn này khá lớn, năm 2004 số tiền việt kiều
chuyển về nước gần ngang bằng vốn đầu tư nước ngoài vào nước ta.
Bên cạnh việc tạo mở thêm việc làm cho người lao động, đồng thời cũng
đi đôi với nâng cao chất lượng cuộc sống cho người lao động. Người lao động
được quan tâm đến cả đời sống vật chất và tinh thần. Họ cần được quan tâm
chăm lo cho việc ăn, việc ở ngày càng tốt hơn, các doanh nghiệp khám bệnh
cho người lao động định kỳ để đảm bảo tốt sức khỏe có thể lao động tốt. Người
lao động có thời gian vui chơi, giải trí để tái sản xuất sức lao động. Khi mà
những nhu cầu về chất, tinh thần của họ được đảm bảo thì họ có thể chuyên tâm
vào hoạt động sáng tạo, đảm nhiệm tốt công việc của mình.
1
Hiện nay tình trạng chảy máu chất xám ở nước ta rất đáng lo ngại. Nhân tài
đang có xu hướng muốn làm việc ở các nước có nền kinh tế phát triển, ở đó họ

nghĩa xã hội.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status