Báo cáo thực tập Tâm lý giáo dục - Nhóm 1
MỤC LỤC
NỘI DUNG TRANG
MỞ ĐẦU 1
1. Tính cấp thiết của đề tài...........................................................................1
2. Mục đích nghiên cứu................................................................................2
3. Đối tượng nghiên cứu..............................................................................2
4. Giả thuyết nghiên cứu..............................................................................2
5. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu............................................................3
5.1. Nghiên cứu lí luận...........................................................................3
5.2. Nghiên cứu thực tiễn.......................................................................3
6. Khách thể và phạm vi nghiên cứu............................................................3
6.1. Khách thể nghiên cứu......................................................................3
6.2. Phạm vi nghiên cứu.........................................................................3
7. Phương pháp nghiên cứu..........................................................................3
8. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài.....................................................4
8.1. Ý nghĩa lý luận................................................................................4
8.2. Ý nghĩa thực tiễn.............................................................................5
Chương 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN ................................................................6
1.1. Sơ lược lịch sử nghiên cứu vấn đề........................................................6
1.1.1. Nước ngoài...................................................................................6
1.1.2. Trong nước...................................................................................8
1.2. Các khái niệm cơ bản............................................................................10
1.2.1. Khái niệm động cơ.......................................................................10
1.2.2. Phân loại động cơ.........................................................................11
1.2.3. Khái niệm về động cơ học tập......................................................12
1.2.4. Đặc điểm động cơ học tập............................................................13
1.2.5. Sự hình thành động cơ học tập.....................................................14
1.2.6. Vai trò của động cơ đối với hoạt động học tập của học sinh.......16
1.3. Đặc điểm tâm sinh lý của học sinh THPT.............................................16
1.3.1. Vị trí, ý nghĩa của lứa tuổi của học sinh THPT............................16
2.3.6. Bạn bè...........................................................................................50
2.3.7. Giáo viên......................................................................................53
GVHD: Th.S Nguyễn Thị Anh Thư
Báo cáo thực tập Tâm lý giáo dục - Nhóm 1
2.3.7.1. Nhận thức của giáo viên về vai trò của
phương pháp giảng dạy với động cơ học tập của học sinh...............53
2.3.7.2. Thái độ của học sinh đối với việc tổ chức
giảng dạy của giáo viên....................................................................56
2.3.8. Văn hóa - xã hội...........................................................................58
CHƯƠNG 3. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ.........................................62
3.1. Kết luận...........................................................................................62
3.2. Kiến nghị.........................................................................................62
GVHD: Th.S Nguyễn Thị Anh Thư
Báo cáo thực tập Tâm lý giáo dục - Nhóm 1
BẢNG PHÂN CÔNG CÔNG VIỆC THỰC TẬP
NGÀY
NỘI DUNG
CÔNG VIỆC
THỜI GIAN,
ĐỊA ĐIỂM
ĐỐI TƯỢNG
THAM GIA
PHỤ TRÁCH CÔNG TÁC
PHỐI HỢP
21/02/2011
Trao đổi về kế
hoạch thực tập tại
trường PTDTNT
- THPT tỉnh Trà
Vinh trong 2 tuần
Công tác sinh
hoạt
chủ nhiệm lớp
* 15 phút đầu
giờ (từ 6h15
đến 6h30)
* Các tiết 5 của
ngày thứ 7 và
các tiết trống
(từ 10h15 đến
11h05)
Sinh hoạt tại
phòng học của
các lớp
chủ nhiệm
Tất cả học sinh
của các lớp 10B,
10D, 11C, 11D,
các học sinh sinh
hoạt theo lớp
mình
Các thực tập
sinh trong
đoàn thực tập
được chia đều
cho
các lớp 10B,
10D, 11C, 11D
Giáo viên
chủ nhiệm
và kết thúc
vào ngày
28/02/2011
môn học khác
nhau
* Tiết 3 từ
8h30 đến 9h15
dự giờ các lớp
10B, 10C,
10D, 11A,
11B, 11C và
11D
sinh trong
đoàn thực tập
sinh dự giờ
25/02/2011 Chương trình
Giáo dục giới
tính với chủ đề:
“Bạn biết gì về
cơ thể mình”
Được tổ chức
vào lúc 15h00
đến 17h00 tại
nhà
Đa Năng của
trường
Tất cả các học
sinh nữ của cả 3
khối 10, 11
và 12
trong đoàn
thực tập
28/02/2011 Chương trình
Giáo dục kỹ năng
sống với
chủ đề: “Kỹ
năng
lắng nghe”
Được tổ chức
vào lúc 14h00
đến 15h30 tại
nhà Đa Năng
của trường
Toàn bộ học sinh
khối 10
Nhóm
Kỹ năng sống
(Trưởng
nhóm-Phạm
Mỹ Lành)
* Đoàn
trường
* Các thực
tập sinh
trong đoàn
thực tập
Mở phòng
Tham vấn
và bắt đầu
trực từ
hỗ trợ phòng
Tham vấn và
các thiết bị
để trang trí
phòng
GVHD: Th.S Nguyễn Thị Anh Thư
Báo cáo thực tập Tâm lý giáo dục - Nhóm 1
vào ngày
04/03/2011
đến 17h00
* Tham vấn tại
văn phòng
Đoàn trường
thư Tham vấn thành những
nhóm nhỏ và
thay nhau trực
và trả lời thư
Tham vấn của
các em
04/03/2011 Chương trình
biểu diễn thời
trang với chủ đề:
“Đêm hội thời
trang Rộn ràng
sắc xuân”
Được tổ chức
vào lúc 19h00
đến 21h00 tại
nhà Đa Năng
của trường
Vinh
Buổi báo cáo
được tổ chức
vào lúc 8h00
đến ……..tại
phòng họp của
trường
BGH nhà trường,
Bí thư và phó Bí
thư Đoàn trường,
các Giáo viên chủ
nhiệm của 4 lớp
có Thực tập sinh
chủ nhiệm
* Giáo viên
hướng dẫn đoàn
thực tập và 12
Thực tập sinh
Nguyễn Thị
Biển-nhóm
trưởng
Trần Thanh
Thái-nhóm
phó
Giáo viên
hướng dẫn
đoàn thực tập
và các Thực
tập sinh
BẢNG BÁO CÁO CÔNG VIỆC THỰC TẬP
13h45 - 16h00 tại
trường PTDTNT
-THPT tỉnh
Trà Vinh
Nguyễn Thị Biển
-nhóm trưởng
Nắm bắt được một số vấn đề cơ
bản về tình hình giáo dục tại
trường PTDTNT-THPT tỉnh Trà
Vinh
Từ ngày
22/02/2011
đến ngày
05/03/2011
Công tác
sinh hoạt
chủ nhiệm lớp
* 15 phút đầu giờ
(từ 6h15 đến 6h30)
* Các tiết 5 của
ngày thứ 7 và các
tiết trống (từ 10h15
đến 11h05)
Sinh hoạt tại phòng
học của các lớp
chủ nhiệm
Các thực tập sinh
trong đoàn thực tập
được chia đều cho
các lớp 10B, 10D,
10B, 10C, 10D,
11A, 11B, 11C và
11D
(Nhóm trưởng và
2 nhóm phó)
Các thực tập sinh
trong đoàn thực tập
* Các Thực tập sinh tham gia dự
giờ các tiết học đầy đủ, đúng giờ
* Nhận thấy được một số khác biệt
trong thái độ, ý thức học tập của
học sinh
* Học hỏi được các phương pháp
giảng dạy, phong cách đứng lớp
của các Giáo viên
GVHD: Th.S Nguyễn Thị Anh Thư
Báo cáo thực tập Tâm lý giáo dục - Nhóm 1
* Nhận biết một số biểu hiện Tâm
lý học sinh
Ngày
25/02/2011
Chương trình Giáo
dục giới tính với
chủ đề:
“Bạn biết gì về
cơ thể mình”
Được tổ chức vào
lúc 15h00 đến
17h00 tại nhà
Đa Năng của trường
trò chơi
* Tạo được niềm vui cho học sinh,
tinh thần đoàn kết giữa các thực
tập sinh và học sinh
Ngày
28/02/2011
Chương trình Giáo
dục kỹ năng sống
với chủ đề:
“Kỹ năng
lắng nghe”
Được tổ chức vào
lúc 14h00 đến
15h30 tại nhà Đa
Năng của trường
Nhóm
Kỹ năng sống
(Trưởng nhóm -
Phạm Mỹ Lành)
* Tất cả các Thực tập sinh cùng
nhau cộng tác để chuẩn bị cho
chương trình
* Nhóm đã sáng tạo trong việc đưa
ra những hoạt động, trò chơi lồng
vào nội dung bài học
* Chương trình diễn ra tốt đẹp theo
như dự kiến nhóm đưa ra
* Học sinh nhận được những kiến
thức liên quan đến kỹ năng lắng
nghe
những nhóm nhỏ
và thay nhau trực
và trả lời thư Tham
vấn của các em
* Sẵn sàng và cởi mở khi tiếp xúc
và tham vấn cho học sinh
* Đã sắp xếp thời gian để trả lời
thư cho học sinh
* Học sinh nhận được niềm vui,
tinh thần thoải mái, niềm tin và sức
mạnh để bước tiếp con đường của
mình sau những khúc mắc khó xử
trong đời sống
* Học sinh được định hướng để tự
giải quyết những khó khăn của
mình trong học tập cũng như trong
cuộc sống
Ngày
04/03/2011
Chương trình biểu
diễn thời trang với
chủ đề: “Đêm hội
thời trang Rộn
ràng sắc xuân”
Được tổ chức vào
lúc 19h00 đến
21h00 tại nhà Đa
Năng của trường
Ban văn nghệ
(Trưởng ban-
Báo cáo thực tập Tâm lý giáo dục - Nhóm 1
hợp cùng nhà
trường trong 2
tuần thực tập và
kết quả bài
Nghiên cứu
khoa học mà nhóm
thực tập đã nghiên
cứu tại trường
8h00 đến ……..tại
phòng họp của
trường
Trần Thanh Thái-
nhóm phó
tổng hợp và làm bài báo cáo
* Nhóm trưởng gửi Giấy mời đến
BGH nhà trường, Đoàn trường và
các Giáo viên chủ nhiệm của các
lớp có Thực tập sinh chủ nhiệm
* Tiến hành báo cáo kết quả các
hoạt động phối hợp cùng nhà
trường và kết quả bài nghiên cứu
khoa học mà nhóm thực tập đã
thực hiện nghiên cứu tại trường
ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÌ MINH SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO
TẠO TỈNH TRÀ VINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
TRƯỜNG PTDTNT - THPT TỈNH TRÀ VINH
KHOA GIÁO DỤC - - -oOo- - -
- - -oOo- - -
ĐÁNH GIÁ CHÉO GIỮA CÁC SINH VIÊN TRONG
1. Tính cấp thiết của đề tài
Theo “Chương trình phát triển của Liên Hợp Quốc”, giáo dục và đào tạo là một trong năm
nhân tố “phát năng” của phát triển nguồn nhân lực (giáo dục và đào tạo, sức khỏe và dinh dưỡng, môi
trường, việc làm và giải phóng con người), trong đó giáo dục và đào tạo là cơ sở của tất cả các nhân
tố khác. Ở Việt Nam, Đảng và Nhà nước đã khẳng định vai trò quan trọng của giáo dục và đào tạo đối
với sự phát triển đất nước trong giai đoạn hiện nay. Văn kiện Đại hội Đảng Cộng Sản Việt Nam lần
thứ VIII đã xác định: “Cùng với khoa học công nghệ, giáo dục là quốc sách hàng đầu”. Nghị quyết
Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX khẳng định: “Phát triển giáo dục và đào tạo là một trong những
động lực quan trọng thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hóa và hiện đại hóa, là điều kiện để phát huy
nguồn lực con người, yếu tố cơ bản để phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững”.
Định hướng xây dựng xã hội công bằng, văn minh trong đó trước hết là thực hiện công bằng xã
hội trong giáo dục là một trong những tư tưởng chủ đạo của chiến lược phát triển giáo dục nước ta
trong thời kỳ công nghiệp hóa hiện đại hóa.
Thời đại ngày nay, sự phát triển của nền khoa học công nghệ làm biến đổi về chất toàn bộ đời
sống xã hội. Tại hội nghị bộ trưởng giáo dục Á - Âu lần 2 năm 2009, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng
khẳng định Việt Nam luôn coi giáo dục là quốc sách hàng đầu và một trong những yêu cầu đặt ra cho
nền giáo dục Việt Nam là sự phát triển tương xứng về chất lượng giáo dục giữa các vùng, miền. Một
quốc gia có nền kinh tế phát triển vững mạnh khi và chỉ khi quốc gia ấy có một đội ngũ nhân lực dồi
GVHD: Th.S Nguyễn Thị Anh Thư
Báo cáo thực tập Tâm lý giáo dục - Nhóm 1
dào và trình độ dân trí không ngừng được nâng cao. Chính vì thế, học sinh có vai trò to lớn trong sự
nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc. Để đảm nhận trọng trách của mình, trước hết người học phải học
tập thật tốt và học tập là hoạt động cơ bản nhất của học sinh - sinh viên. Và chất lượng học tập chịu
tác động bởi nhiều yếu tố. Trong đó, động cơ học tập là một trong những yếu tố quan trọng nhất hình
thành thái độ học tập tích cực cho học sinh. Việc nghiên cứu “Tìm hiểu về động cơ học tập của học
sinh trường PTDTNT THPT tỉnh Trà Vinh” giúp chúng tôi thấy được tình hình học tập hiện nay
cũng như những yếu tố ảnh hưởng đến động cơ học tập từ đó có những đề xuất, kiến nghị lên nhà
trường để tăng cường các chính sách hỗ trợ cho các em học sinh trường PTDTNT THPT tỉnh Trà
Vinh nói riêng và cho các trường DTNT nói chung nhằm nâng cao chất lượng dạy và học trong trường
góp phần đào tạo đội ngũ tri thức trong thời hiện đại.
6. Khách thể và phạm vi nghiên cứu
6.1. Khách thể nghiên cứu
Với đề tài nghiên cứu về động cơ học tập của học sinh trường PTDTNT THPT tỉnh Trà Vinh,
chúng tôi đã tiến hành phát bảng hỏi cho 30 giáo viên và 233 học sinh THPT về các vấn đề liên quan
đến động cơ học tập của học sinh.
Phỏng vấn sâu 24 học sinh và 6 giáo viên của trường PTDTNT THPT tỉnh Trà Vinh.
6.2. Phạm vi nghiên cứu
Trong đề tài của chúng tôi đề cập đến một số vấn đề về động cơ học tập của học sinh: Nhận
thức của học sinh về tầm quan trọng của việc học, những yếu tố ảnh hưởng đến động cơ học tập của
các em học sinh trường PTDTNT THPT tỉnh Trà Vinh.
7. Phương pháp nghiên cứu
Đề tài chúng tôi sẽ sử dụng phối hợp hệ thống các phương pháp sau:
7.1. Phương pháp nghiên cứu, phân tích và tổng hợp các tài liệu liên quan đến đề tài
Sưu tầm chọn lọc và nghiên cứu các tài liệu sách báo, tạp chí, luận văn liên quan đến vấn đề
động cơ học tập của học sinh.
7.2. Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi
Bảng hỏi được đưa ra dưới dạng phiếu khảo sát ý kiến gồm 27câu.
Các dạng câu hỏi: câu hỏi đóng và câu hỏi mở.
Thang đo được sử dụng trong bảng hỏi gồm: Thang đo định danh, thang đo khoảng cách và thang
đo thứ bậc.
GVHD: Th.S Nguyễn Thị Anh Thư
Báo cáo thực tập Tâm lý giáo dục - Nhóm 1
7.3. Phương pháp phỏng vấn sâu
Phỏng vấn sâu 24 học sinh đại diện 3 khối lớp 10, 11, 12 và 6 giáo viên đại diện cho các tổ
chuyên môn trường PTDTNT THPT tỉnh Trà Vinh về những vấn đề cơ bản của đề tài.
Các cuộc phỏng vấn trên được ghi băng và được gỡ ra thành các biên bản phỏng vấn. Kết quả
được sử dụng phối hợp với các dữ kiện định lượng khi phân tích các vấn đề.
7.4. Phương pháp xử lý thông tin
Các thông tin tư liệu được tổng hợp theo các chủ đề để trình bầy khái quát về lịch sử nghiên
cứu và cơ sở lý luận của đề tài.
một trường hợp) đôi khi lại rất khác nhau (nghịch lý La Piere). Kết luận của La Piere đã làm cho các
nhà tâm lý học phương Tây hoài nghi, từ đó làm giảm bớt sự quan tâm của họ đối với các vấn đề về
thái độ. Sau đó cùng với tác động của cuộc chiến tranh thế giới thứ hai, các nhà nghiên cứu về thái độ
giảm đi nhiều. Chỉ sau khi chiến tranh kết thúc, việc nghiên cứu về thái độ mới thực sự được quan
tâm.
GVHD: Th.S Nguyễn Thị Anh Thư
Báo cáo thực tập Tâm lý giáo dục - Nhóm 1
Năm 1957, có một nghiên cứu đã lý giải tại sao “Hành vi lại ảnh hưởng tới thái độ của con
người” là “thuyết bất đồng nhận thức” của Leon Festinger. Ngoài các vấn đề được đề cập trên, các
nhà tâm lý học phương Tây còn nghiên cứu, xem xét nhiều khía cạnh khác của thái độ, nhất là các vấn
đề về vai trò, chức năng, cấu trúc, như các nghiên cứu của M.Rokeach (1968), T.M.Ostrom (1969),
U.J.Mc.Guire (1969) và J.R.Rempell (1988).
Đến năm 1972, cũng có một học thuyết nghiên cứu về mối quan hệ giữa thái độ và hành vi của
con người. Đó là thuyết “Tự nhận thức” của Daryl Bem. Hai học thuyết của Leon Festinger và Daryl
Bem đã có ảnh hưởng khá lớn tới các nghiên cứu sau này. Không những thế các nhà nghiên cứu cũng
đưa ra phương pháp nghiên cứu hình thành, thay đổi thái độ như phương pháp “đường ống giả vờ”
cho phép đo các thái độ của con người do Edward Jones và Harold Sigall (1971) đề ra cùng “kỹ thuật
lấn từng bước một” của Janathan Freedman và Scott Fraer (1966).
Như vậy, có thể thấy rằng trong suốt thời kỳ từ đầu thế kỉ XX cho đến nay, ở phương Tây, đã
có rất nhiều công trình nghiên cứu về thái độ và cùng với nó cũng xuất hiện nhiều phương pháp
nghiên cứu mới về hiện tượng tâm lý đặc biệt này.
Trong nghiên cứu tâm lý học giáo dục phương Tây, các tác giả thường coi thái độ học tập là
một trong những nhân tố đóng vai trò là động cơ thúc đẩy tính tích cực của học sinh với giáo viên, với
môn học, cũng như thái độ trong từng giai đoạn học tập. Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu đó lại
dựa vào “Thuyết hành vi” đề cao vai trò của các yếu tố do con người tạo nên, như thưởng, phạt mà
không chú ý nhiều đến các yếu tố môi trường, chủ thể trong việc hình thành tri thức, kĩ năng.
Ở Cộng hòa dân chủ Đức trước đây cũng đã có một số công trình nghiên cứu tiêu biểu về thái
độ do một số nhà tâm lý học xã hội như V.Nayze, M.Phovec…tiến hành. Ngoài những vấn đề được
nghiên cứu một cách truyền thống, thì các nhà tâm lý học Đức còn đề cập đến nhiều vấn đề khác như
các cơ chế hình thành thái độ, sự định hình thái độ (cơ chế bắt chước, luyện tập, hướng dẫn) do
rèn luyện kĩ năng, kĩ xảo.
Thái độ học tập là một trong những biểu hiện của động cơ học tập.
Sự hình thành động cơ học tập của học sinh chịu sự chi phối của nhiều nhân tố trong đó có
quan niệm, thái độ của gia đình đối với việc học tập của con cái, thái độ, sự đánh giá của xã hội đối
với việc học tập nói chung và thành tích học tập nói riêng.
Từ những quan niệm cũng như thực tiễn về việc nghiên cứu thái độ, động cơ học tập tại nước
ta, đã có một số đề tài liên quan đến vấn đề này của học sinh, sinh viên đã được nghiên cứu:
Tính tích cực nhận thức như là thái độ.
Những khó khăn chủ quan cũng như khách quan kìm hãm tính tích cực học tập của sinh viên.
Thực trạng động cơ học tập, các nguyên nhân ảnh hưởng đến tính tích cực học tập của sinh
viên.
GVHD: Th.S Nguyễn Thị Anh Thư
Báo cáo thực tập Tâm lý giáo dục - Nhóm 1
Quan hệ giữa tự đánh giá của học sinh với thái độ học tập và động cơ học tập.
Vấn đề kích thích tính tích cực học tập của sinh viên.
Trong tạp chí dạy và học ngày nay (số 1-3, 7-8/ 2005), Trần Thiên Thu có bài viết “Đi tìm
nguyên nhân học sinh chán học”, bài viết có đề cập những nguyên nhân khiến học sinh chán học, đó
là chương trình quá nặng, các hoạt động dồn nén không chỉ làm cho học sinh mệt mỏi mà còn làm
chúng không thể xử lý tốt, thậm chí không đủ thời gian để kịp làm bài hoặc tiêu hóa kiến thức thu
được, cha mẹ muốn con đạt điểm cao nhưng lại quên rằng chúng có đủ khả năng, đủ sức hay không.
Năm 2009, nghiên cứu của Trung tâm đánh giá và kiểm định chất lượng giáo dục TP.HCM
được thực hiện ở 4 thành phố lớn: TP.HCM, Hà Nội, Đà Nẵng và Cần Thơ, với 981 học sinh phổ
thông, 322 sinh viên cao đẳng và 697 sinh viên đại học. Kết quả nghiên cứu cho thấy động cơ học tập
của học sinh, sinh viên không đúng đã dẫn đến hiện tượng quá tải, quá thiên về lý thuyết như hiện
nay.
Trong tạp chí giáo dục số 246 kỳ 2 tháng 9/2010, TS. Phan Thị Tố Oanh và Trần Thị Ngọc
Anh có nghiên cứu về thái độ học tập môn giáo dục công dân của học sinh trường THPT tại Phan
Thiết (Bình Thuận), qua khảo sát có hai nguyên nhân chính ảnh hưởng đến động cơ học tập của học
sinh là phương pháp giảng dạy của giáo viên và khả năng nhận thức của học sinh. Từ đó đưa ra giải
pháp: học sinh cần được hướng dẫn về phương pháp học tập, giáo dục ý thức cho học sinh tự vươn lên
đối tượng có khả năng thỏa mãn thì trở thành động cơ. Động cơ là sự biểu hiện chủ quan có nhu cầu.
1.2.2. Phân loại động cơ
Có nhiều cách phân loại động cơ: Động cơ ham thích và động cơ nghĩa vụ; động cơ quá trình
và động cơ kết quả; động cơ gần và động cơ xa; động cơ cá nhân, động cơ xã hội, động cơ công việc;
động cơ bên trong và động cơ bên ngoài; động cơ tạo ý và động cơ kích thích. Ngoài ra, cũng có nhiều
cách hiểu nữa về động cơ:
X.L. Rubinstein viết: “Động cơ của con người được tạo ra từ những nhu cầu, hứng thú được
hình thành ở con người trong quá trình sống”.
Người đại diện cho chủ nghĩa Freud hiểu động cơ là những năng lượng sinh học đặc biệt, năng
lượng này được tạo ra bởi những bản năng của con người, trong đó quan trọng nhất là bản năng tình
dục.
Bên cạnh đó, tâm lý học Mácxit cho rằng: Những động cơ hoạt động của con người cực kỳ đa
dạng, nảy sinh từ những nhu cầu, hứng thú khác nhau: động cơ không phải là sự trải nghiệm của nhu
cầu mà là đối tượng thỏa mãn nhu cầu của chủ thể. Một hoạt động có thể có nhiều động cơ thúc đẩy
và trong cấu trúc của hoạt động, những động cơ này được sắp xếp theo một hệ thống có thứ bậc.
GVHD: Th.S Nguyễn Thị Anh Thư
Báo cáo thực tập Tâm lý giáo dục - Nhóm 1
Khi muốn tìm hiểu, nghiên cứu hoạt động của con người thì không thể không xét đến động cơ
của hành động đó. Đã là hành động tâm lý thì phải có động cơ phù hợp. Không thể có một hành động
nào mà không có động cơ, hành động “không có động cơ” không phải là hành động thiếu động cơ mà
là hành động với một động cơ ẩn giấu về mặt chủ quan và về mặt khách quan. Có thể nói động cơ
chính là bản chất của hành động, nó quy định hoạt động của con người. Và động cơ chính là sự thúc
đẩy suy nghĩ, mong muốn trong đầu con người ra bên ngoài hành động.
Điều quan trọng về lý luận và thực tiễn là: động cơ tâm lý không phải thuần túy tinh thần bên
trong cá thể. Động cơ không có khả năng tồn tại tự thân, nó phải hiện thân vào một thực thể khác là
đối tượng của hoạt động. Đối tượng này có thể ở bên ngoài hoặc bên trong tâm lý.
Ngoài ra, các nhà Tâm lý học cũng đã phân biệt:
Động cơ bên trong: Động cơ có thể xuất phát từ chính nhu cầu hiểu biết của người học, sở
thích, hứng thú và động cơ thực hiện hoạt động.
Đông cơ bên ngoài: Động cơ dành điểm tốt hoặc được phần thưởng nào đó.
hoàn cảnh, điều kiện xác định nào đó của dạy và học thì loại động cơ nào được hình thành mạnh mẽ
hơn, nổi lên hàng đầu và chiếm vị trí ưu thế trong sự sắp xếp thứ bậc của hệ thống các động cơ.
1.2.4. Đặc điểm động cơ học tập
Theo lý thuyết hoạt động, động cơ là nhu cầu đã được ý thức và xuất hiện khi chủ thể quyết
định chọn một đối tượng khách quan làm mục đích hoạt động của mình. Trong sự học tập, việc thực
hiện nhiệm vụ trí - đức dục của một bài học chính là mục đích khách quan của sự học tập của học
sinh. Khi học sinh ý thức được nhiệm vụ học tập đó như một mục đích tự giác của bản thân thì lúc đó
ở học sinh xuất hiện động cơ học tập. Động cơ học tập chính là động lực của hoạt động học tập.
Động cơ học tập là một trạng thái nội tâm lâu dài có hiệu lực giúp học sinh duy trì hứng thú và
ham muốn học hỏi tìm tòi, vượt qua những trở ngại để có thể giải quyết những khó khăn trong học
tập. Nhiều nhà tâm lý giáo dục nghiên cứu về động cơ đã đặt ra một số câu hỏi quan trọng. Câu hỏi
thứ nhất, Tại sao có nhiều học sinh khởi sự làm bài tập ngay khi giáo viên cho họ đề tài? (liên quan
đến thái độ học tập). Tại sao có nhiều học sinh đợi đến giây phút cuối cùng mới khởi sự và có một vài
học sinh quên hẳn bài vở? Câu hỏi thứ hai là mỗi khi đến trường, học sinh mở cặp và khởi sự đặt
trọng tâm cho việc học của mình hay chỉ là mở cặp theo thói quen? Câu hỏi thứ ba là lý do nào đã
khiến học sinh tập trung vào việc học hay đã đầu hàng sau năm ba phút? Học sinh chăm chú đọc một
chương sách để làm bài hay chỉ đọc một hai trang lướt qua? Để trả lời các câu hỏi trên, chúng ta tìm
hiểu về động cơ nội tâm và ngoại thức.
Học sinh có động cơ học tập cảm thấy có hứng thú, có nghị lực học bài, làm bài để thực hiện
mục đích nhận được kiến thức qua bài làm, bài học. Nguồn sinh lực nào đã thúc đẩy thái độ học tập
của học sinh? Đó chính là nhu cầu học tập, sáng kiến cá nhân, mục đích học tập, áp lực xã hội, tự tin,
GVHD: Th.S Nguyễn Thị Anh Thư
Báo cáo thực tập Tâm lý giáo dục - Nhóm 1
óc tò mò, nhận định được thành công và thất bại, lòng tin tưởng, hiểu được giá trị của giáo dục, kỳ
vọng vào tương lai…Một số nhà tâm lý giáo dục đã nhận định động cơ là thái độ đặc biệt bẩm sinh
hay cá tính. Học sinh có khả năng bẩm sinh tự nhiên đặt nhiều nỗ lực vào việc học tập để hoàn thành
nhiệm vụ. Một số nhà tâm lý khác nhận định động cơ là một thái độ đối phó với lý bài vở sắp đến hay
với khuyến khích của giáo viên, phụ huynh. Như vậy, một số học sinh có sẵn động cơ thúc đẩy để tiếp
nhận kiến thức; một số khác có động cơ vì lý do ngoại cảnh.
Động cơ do bản năng, do cá tính bẩm sinh để thỏa mãn nhu cầu học hỏi, để thỏa mãn óc tò mò
Nhưng trên thực tế còn có động cơ quan hệ xã hội. Nó “bám vào”, “hiện thân” trên động cơ hoàn
thiện tri thức, trở thành một bộ phận của động cơ hoàn thiện tri thức. Khi động cơ hoàn thiện tri thức
được đáp ứng thì đồng nghĩa với nó là động cơ quan hệ xã hội cũng được thoả mãn. Cả hai loại động
cơ này đều xuất hiện trong quá trình học tập và trong từng hoàn cảnh cụ thể, điều kiện nào đó mà
động cơ này hay động cơ kia chiếm vị trí quan trọng hơn, nổi lên và chiếm ưu thế trong thứ bậc động
cơ.
Ngoài ra các yếu tố bên ngoài như kinh tế gia đình, quan hệ thầy cô, bạn bè, cơ sở vật chất nhà
trường … cũng có ảnh hưởng đến động cơ học tập của học sinh.Vậy khi xem xét động cơ học tập
không thể bỏ qua các yếu tố này.
1.2.6. Vai trò của động cơ đối với hoạt động học tập của học sinh
Dựa theo định nghĩa và cấu trúc của hoạt động học ta có thể thấy rõ vai trò rất quan trọng của
động cơ học tập. Nó là động lực và là định hướng cho hoạt động học tập diễn ra và đi đúng hướng.
Thiếu động cơ thì hoạt động học tập không thể diễn ra được. Có nhiều loại động cơ và mỗi loại sẽ có
vai trò nhất định trong hoạt động học tập của con người.
Trong đề tài này chúng tôi tìm hiểu động cơ học tập của học sinh dưới góc độ của tâm lý học
họat động vì thế mà động cơ học tập được phân thành hai loại theo L.I. Bozovik, A.K.Dusaviski…là
động cơ học tập mang tính xã hội và động cơ mang tính nhận thức.
Động cơ hoàn thiện tri thức (động lực mang tính nhận thức): là mong muốn khao khát chiếm
lĩnh, mở rộng tri thức, say mê với việc học tập…, bản thân tri thức và phương pháp dành tri thức có
sức hấp dẫn, lôi cuốn học sinh. Loại động cơ này giúp người học luôn nỗ lực ý chí, khắc phục trở ngại
từ bên ngoài để đạt nguyện vọng bên trong. Nó giúp học sinh duy trì hứng thú và ham muốn học hỏi,
tìm tòi, vượt qua những trở ngại khó khăn để đạt được những mục tiêu trong học tập.
Động cơ quan hệ xã hội: học sinh học bởi sự lôi cuốn hấp dẫn của các yếu tố khác như: đáp
ứng mong đợi của cha mẹ, cần có bằng cấp vì lợi ích tương lai, lòng hiếu danh hay sự khâm phục của
bạn bè, … đây là những mối quan hệ xã hội cá nhân được hiện thân ở đối tượng học. Tuy loại động cơ
GVHD: Th.S Nguyễn Thị Anh Thư
Báo cáo thực tập Tâm lý giáo dục - Nhóm 1
này có mang tính tiêu cực nhưng nó cũng góp phần vào việc kích thích, tạo hứng thú và nhu cầu cho
người học chiếm lĩnh tri thức, kỹ năng, kỹ xảo.
Tóm lại, động cơ học tập có vai trò rất quan trọng, nó là nguồn động lực và là kim chỉ nam cho
u
đó cho ta
thấy rằng thanh niên là một hiện tượng tâm lý xã hội.
1.3.2. Các yếu tố ảnh hưởng tới sự phát triển của học sinh THPT
GVHD: Th.S Nguyễn Thị Anh Thư
Báo cáo thực tập Tâm lý giáo dục - Nhóm 1
1.3.2.1. Đặc điểm về sự phát triển thể chất
Tuổi học sinh trung học phổ thông là thời kỳ đạt được sự trưởng thành về mặt cơ thể. Sự
phát triển thể chất đã bước vào thời kỳ phát triển bình thường, hài hòa, cân đối. Cơ thể của các em
đã đạt tới mức phát triển của người trưởng thành, nhưng sự phát triển của các em còn kém so với
người lớn.
Ở thời kỳ này, quá trình phát triển thể chất đã hoàn thành về căn bản, các cơ quan, các bộ
phận của cơ thể cũng như các chức năng của nó dần dần trở nên cân đối hoàn thiện. Điề
u
đó được
biểu hiện ở các đặc điểm sau: Chiều cao và trọng lượng đang tiếp tục phát triển nhưng tốc độ đã
bắt đầu chậm lại. Hệ cơ và hệ xương đã được cốt hóa và phát triển ở mức độ cao nên cơ thể các em
trở nên rắn chắc, nở nang, cân đối trông rất khỏe mạnh (ở các em nữ biểu hiện rõ rệt nhất).
Do cơ thể phát triển mạnh gần như người lớn nên các em có thể làm được những công việc
nặng của người lớn.
Hệ tuần hoàn đi vào thời kỳ hoạt động bình thường, sự mất cân đối giữa tim và mạch đã
chấm dứt. Trọng lượng và chức năng hoạt động của não bộ đã đạt tới mức phát triển tương đương
như não người lớn nên hoạt động trí tuệ của các em có thể phát triển tới mức cao. Khả năng hưng
phấn và ức chế ở vỏ não tăng lên rõ rệt có thể hình thành mối liên hệ thần kinh tạm thời phức tạp
hơn. Tư duy, ngôn ngữ và những phẩm chất ý chí có điều kiện phát triển mạnh.
Tuổi đầu thanh niên đa số đã qua thời kỳ phát dục, giới tính các em biểu hiện rõ rệt về cả
hình thể bên ngoài lẫn chức năng bên trong. Nhưng ở một số em do sự phát dục kéo dài nên cơ thể
các em phát triển chậm hơn so với các em khác (thể hiện nhiều ở các em nam).
Ở tuổi đầu thanh niên vẫn còn tính dễ bị kích thích và sự biểu hiện của nó cũng giống như ở
tuổi thiếu niên. Tuy nhiên, tính dễ bị kích thích ở tuổi thanh niên không phải chỉ do nguyên nhân sinh