luận văn chuyên ngành thuế HVTC đề tài Giải pháp nâng cao công tác quản lý sử dụng hóa đơn tại Chi cục thuế quận Thanh Xuân. - Pdf 28

LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan bản luận văn là công trình nghiên cứu của tôi.
Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực xuất phát từ tình
hình thực tế tại đơn vị thực tập.
TÁC GIẢ LUẬN VĂN

Định
Phạm Thị Định
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Trong quá trình phát triển và hội nhập nền kinh tế thị trường Việt Nam
với nền kinh tế của các nước trong khu vực và trên thế giới, thuế đã thể hiện
được vai trò quan trọng là nguồn thu ổn định của nhà nước và là công cụ điều
tiết vĩ mô nền kinh tế.
Cùng với sự phát triển mạnh mẽ cũng như nhu cầu hội nhập của nền kinh
tế nước ta hiện nay việc sử dụng và quản lý hóa đơn cũng trở nên cấp thiết
hơn. Những ưu điểm và thuận lợi mà việc sử dụng hóa đơn mang lại là rất rõ
rệt không chỉ đối với các cơ quan nhà nước trong việc thu NSNN cũng như
kiểm tra, giám sát các hoạt động kinh tế của từng cơ sở kinh doanh nói riêng
và cả nền kinh tế nói chung mà nó còn là một công cụ rất hữu ích và quan
trọng đối với các cơ sở kinh tế và những người sử dụng hóa đơn.
Tuy nhiên do mặt trái của nền kinh tế, việc quản lý hóa đơn trở nên vô
cùng phức tạp. Kinh tế ngày càng phát triển các mối quan hệ kinh tế nảy sinh
rất đa dạng và phong phú kéo theo đó hàng loạt các khuyết điểm của nền kinh
tế thịtrường cũng xảy ra đòi hỏi cần có sự can thiệp sâu sắc của nhà nước
trong việc quản lý hóa đơn. Với mục đích tìm kiếm và tối đa hóa lợi nhuận là
nguồn gốc làm nảy sinh những hành vi luồn lách, sai phạm trong việc sử dụng
hóa đơn dẫn đến kê khai sai, nhiều đơn vị muốn trốn tránh, xâm phạm tiền
thuế của nhà nước cũng như các nghĩa vụ khác. Những sai phạm trở nên phổ
biến hơn, phát triển theo chiều hướng đa dạng và phức tạp hơn.
Xuất phát từ các cơ sở đó, , trong thời gian thực tập ở Đội Tuyên truyền

Thanh Xuân trong thời gian qua
Chương 3: Giải pháp nâng cao công tác quản lý sử dụng hóa đơn tại Chi cục
thuế quận Thanh Xuân.
CHƯƠNG 1
LÝ LUẬN CHUNG VỀ HÓA ĐƠN VÀ QUẢN LÝ SỬ DỤNG HÓA ĐƠN
1.1. LÝ LUẬN CHUNG VỀ HÓA ĐƠN
1.1.1. Khái niệm hóa đơn
Hóa đơn là một loại chứng từ có ý nghĩa quan trọng trong các hoạt động kinh
tế, không chỉ đối với người bán hàng, người mua hàng, nó còn là công cụ cần
thiết trong quản lý kinh tế của Nhà nước. Trên thế giới, người ta định nghĩa
về hóa đơn như sau:
Ở các nước Châu Âu, hóa đơn được hiểu là một chứng từ thương mại do
người bán phát hành giao cho người mua, trong đó thể hiện một giao dịch bán
hàng hóa hay cung cấp dịch vụ, có ghi rõ tên hàng hóa (dịch vụ), số lượng
cung cấp và giá thanh toán (“An invoice, bill or tab is a commercial document
issued by a seller to a buyer, relating to a sale transaction and indicating the
products, quantities, and agreed prices for products or services the seller has
provided the buyer” - theo Wikipedia).
Ở Úc và New Zealand, hóa đơn là một chứng từ do người bán lập, trong
đó có định rõ về số lượng hàng hóa (dịch vụ) cung ứng và số tiền thanh toán
và số thuế người bán phải trả (“Invoice specifying tax is a document issued by
a supplier which stipulates the amount charged for goods or services as well
as the amount of goods and services Tax payble” – theo trang Qfinance.com).
Và ở Việt Nam hiện nay, Ttheo Nghị định số 51/2010/NĐ-CP, hóa đơn
được định nghĩa như sau: “Hóa đơn là chứng từ do người bán lập, ghi nhận
thông tin bán hàng hoá, dịch vụ theo quy định của pháp luật”.
Nói cách khácNhư vậy, khái niệm hóa đơn ở Việt Nam và các nước trên
thế giới gần như tương tự nhau. nó Nói chung, có thể hiểu đơn giản hóa đơn
là một giấy tờ yêu cầu thanh toán các mặt hàng với số lượng và đơn giá liệt kê
trong đó. Sau khi bên mua thanh toán, bên bán xác nhận vào hóa đơn. Khi đó,

Hóa đơn được thể hiện bằng các hình thức sau:
• Hóa đơn tự in là hóa đơn do các tổ chức kinh doanh tự in trên các thiết bị
tin học, máy tính tiền, các loại máy khác khi bán hàng hóa, dịch vụ;
• Hóa đơn điện tử là tập hợp các thông điệp dữ liệu điện tử về bán hàng
hóa, dịch vụ, được khởi tạo, lập, gửi, nhận, lưu trữ và quản lý theo quy định
tại Luật giao dịch điện tử và các văn bản hướng dẫn thi hành ;
• Hóa đơn đặt in là hóa đơn do các tổ chức kinh doanh đặt in theo mẫu để
sử dụng cho hoạt động kinh doanh hàng hóa, dịch vụ, hoặc do cơ quan thuế
đặt in theo mẫu để cấp, bán cho các tổ chức, cá nhân.
1.1.4. Vai trò của hóa đơn
1.1.4.1. Đối với cơ quan thuế
Thông qua các chỉ tiêu trên tờ khaihóa đơn thuế , cán bộ thuế có thể
kiểm soát các hành vi trao đổi, mua bán, giữa các chủ thể trong nền kinh tế
khá chính xác, đảm bảo thu đúng, thu đủ, làm việc có hiệu quả, điều này vừa
có lợi cho cơ quan thuế, vừa có lợi cho đối tượng chịu thuế. Bên cạnh đó, việc
kiểm soát hoá đơn giúp cơ quan thuế nắm bắt được tình hình hoạt động sản
xuất kinh doanh của doanh nghiệp một cách hiệu quả hơn, đồng thời xác định
chính xác nghĩa vụ thuế của DN đối với Nhà nước, và cũng là cơ sở cho việc
phát hiện ra những trường hợp gian lận thuế cùa các đối tượng, từ đó cơ quan
thuế sẽ tìm ra được những biện pháp xử lý kịp thời.
1.1.4.2. Đối với các đơn vị sản xuất kinh doanh
Mỗi DN dù thuộc bất kể loại hình DN nào đi nữa, nhưng để thực sự
đứng vững được trong sự phát triển của xã hội, sự phát triển của nền kinh tế,
sự cạnh tranh khốc liệt của thị trường đều buộc họ phải định hướng được
phương thức, chiến lược sản xuất kinh doanh của mình ngay từ ngày đầu
thành lập. Hầu hết các DN đều muốn tối thiều hóa chi phí, tối đa hoá doanh
thu, cho nên đòi hỏi trong quá trình hoạt động DN cần hạch toán chính xác
chi phí, lợi nhuận, lỗ lãi,… từ đó đưa ra phương hướng hoạt động cho kỳ sau.
Để làm được như vậy DN cần có một quy trình hạch toán, kế toán chính xác
và không có gì khác ngoài hoá đơn, chứng từ - nơi thứ lưu giữ tốt nhất những

1.2.2.1. Quy định về in hóa đơn
1.2.2.1.1. Đối với hóa đơn đặt in, tự in do cơ quan thuế phát hành
Trước đây, để có hóa đơn sử dụng và bán cho các đối tượng, Cục thuế
phải tiến hành nhập hóa đơn từ Tổng cục, tức là việc đặt in hóa đơn đều do
Tồng cục thuế quản lý, quy trình quản lý cơ bản theo phương pháp cấp phát.
Từ Kkhi Nghị định 51/2010/NĐ-CP ra đờiđược triển khai, các Cục thuế được
giao quyền tự chủ trong việc đặt in và sử dụng tùy vào tình hình của đơn vị
mình. Cụ thể :
 Đối với hóa đơn đặt in (bán cho các tổ chức, hộ, cá nhân đủ điều kiện mua
của cơ quan thuế): Tổng cục thuế xây dựng danh mục loại hoá đơn sử dụng
thống nhất cho Cục thuế các tỉnh thành phố. Căn cứ vào đó, Cục thuế xây
dựng danh mục ký hiệu mẫu hoá đơn sử dụng chung cho Cục thuế và các Chi
cục trực thuộc, xác định nhu cầu sử dụng của từng loại hóa đơn lập kế hoạch
in hóa đơn, sau đó phê duyệt triển khai in và quản lý hợp đồng in theo các quy
định của pháp luật và các văn bản hướng dẫn của Tổng cục thuế.
 Đối với hóa đơn tự in (dùng để bán ấn chỉ thuế )
- Tổng cục thuế tiến hành Thiết kế mẫu và tạo Hóa đơn bán hàng tự in (dùng
để bán ấn chỉ thuế), ký hiệu mẫu: 02GTTT3/002 trên chương trình Quản lý
hóa đơn để dùng chung cho toàn ngành Thuế; phân mã hóa đơn để xác định
ký hiệu hóa đơn theo từng tỉnh, thành phố trực thuộc TW theo Phụ lục 2 ban
hành kèm theo Thông tư số 153/2010/TT-BTC của Bộ Tài chính. Mã hóa đơn
tự in của Tổng cục Thuế gồm hai ký tự: 00 trước ký hiệu hóa đơn.
- Các Cục thuế và Chi cục thuế tiến hành sử dụng hóa đơn tự in khi thực hiện
bán ấn chỉ của cơ quan thuế. Khi bán hóa đơn, hóa đơn bán ấn chỉ được tự
động in ra trên phần mềm bán hóa đơn.
1.2.2.1.2. Đối với hóa đơn tự in, đặt in của các tổ chức
Theo quy định hiện hành, các đối tượng có nhu cầu sử dụng hóa đơn
được chủ động tiến hành tự tạo hóa đơn cho riêng mình. Có 3 hình thức tạo
hóa đơn: đặt in, tự in, khởi tạo hóa đơn điện tử.
Đối với đặt in hóa đơn các tổ chức kinh doanh chỉ cần được cấp mã số

Kể từ ngày lập, trong vòng 10 ngày đối với hóa đơn đặt in hoặc 5 ngày
đối với hóa đơn tự in, tờ Thông báo phát hành hóa đơn phải được niêm yết tại
trụ sở cơ quan thuế, được nhập vào hệ thống quản lý hóa đơn và công bố rộng
rãi toàn ngành thuế. Sau đó, cơ quan thuế tiến hành cấp, bán hóa đơn cho các
đơn vị (đủ điều kiện và có nhu cầu sử dụng hóa đơn).
Đối với hóa đơn tự in của cơ quan thuế - dùng để bán ấn chỉ, được in
trực tiếp từ máy in. Ký hiệu và mẫu hóa đơn do Cục thuế quy định.
1.2.2.2.2. Phát hành hóa đơn của tổ chức, hộ, cá nhân kinh doanh
Tổ chức, hộ, cá nhân kinh doanh phải lập và gửi Thông báo phát hành
hóa đơn, hóa đơn mẫu (nếu sử dụng hóa đơn lần đầu) cho cơ quan thuế quản
lý trực tiếp chậm nhất 5 ngày trước khi bắt đầu sử dụng hóa đơn và trong thời
hạn 10 ngày kể từ ngày ký Thông báo phát hành. Thông báo phát hành và hóa
đơn mẫu phải được niêm yết tại công khai tại địa điếm kinh doanh trong suốt
quá trình sử dụng. Nội dung tờ Thông báo gồm tên, mã số thuế các đơn vị liên
quan, địa chỉ, điện thoại, các loại hoá đơn phát hành, ngày lập Thông báo phát
hành, tên, chữ ký của người đại diện theo pháp luật và dấu của đơn vị phát
hành hóa đơn.
1.2.3. Quy định về sử dụng hóa đơn
1.2.3.1. Quy định về lập hóa đơn
Hầu hết các hoạt động bán hàng, dịch vụ kể cả trường hợp khuyến mại,
quảng cáo, biếu tặng có giá trị từ 200.000 đồng trở lên mỗi lần giao dịch đều
phải lập hóa đơn chứng từ hợp lệ cho khách hàng (trường hợp dưới 200.000
đồng mà người mua có yêu cầu thì vẫn phải lập hóa đơn). Nếu không thực
hiện đúng sẽ bị xử phạt vi phạm hành chính theo quy định.
Hóa đơn được lập một lần thành nhiều liên, lập theo thứ tự từ số nhỏ đến
số lớn. Nội dung trên đó phải đúng nghiệp vụ kinh tế phát sinh và được thống
nhất trên các liên hóa đơn có cùng một số, ngày lập là ngày vừa hoàn thành
giao dịch.
Đối với các hàng hóa, dịch vụ bán không cần lập hóa đơn thì phải lập
bảng kê bán lẻ cuối mỗi ngày, ghi tổng số tiền bán hàng hóa, dịch vụ, ký tên

hàng tháng bộ phận Ấn chỉ phải tiến hành lập báo cáo tình hình nhập, xuất
hóa đơn gửi lãnh đạo Cục thuế; đồng thời bảo quản, lưu giữ hóa đơn theo
đúng quy định pháp luật.
- Quản lý tình hình sử dụng hóa đơn của người nộp thuế: cơ quan thuế nhận,
nhập thông báo phát hành, các báo cáo về tình hình sử dụng, mất hỏng, hóa
đơn của người nộp thuế; thực hiện theo dõi kiểm tra số liệu báo cáo nhằm xác
định và xử lý những sai sót, sai phạm liên quan đến việc quản lý, sử dụng hóa
đơn của người nộp thuế. Song song với đó, cơ quan thuế cũng phải tiến hành
kiểm tra việc in, phát hành, quản lý, sử dụng hoá đơn của người nộp thuế.
1.2.4.2. Đối với các DN, tổồ chức, cá nhân
Hàng quý, tổ chức, hộ, cá nhân kinh doanh (trừ đối tượng được cơ quan
thuế cấp hóa đơn) phải nộp báo cáo sử dụng hóa đơn cho cơ quan thuế, chậm
nhất là ngày 30 của tháng đầu quý tiếp theo. Trong báo cáo phải ghi rõ chính
xác số lượng, tên, ký hiệu số hóa đơn đã sử dụng, tổn thất, số còn tồn để cơ
quan thuế kiểm tra. Riêng các loại hóa đơn thu phí dịch vụ, tem, vé, thẻ,… thì
không phải báo cáo đến từng số hóa đơn mà chỉ ghi theo tổng số hóa đơn.
Phải tiến hành lưu trữ, bảo quản hóa đơn của đơn vị mình theo đúng quy
định. Cụ thể :
+ Đối với hóa đơn chưa lập: hóa đơn tự in được lưu trữ trong hệ thống máy
tính theo chế độ bảo mật thông tin, còn hóa đơn đặt in thì được bảo quản
trong kho theo chế độ lưu trữ bảo quản chứng từ có giá.
+ Đối với hóa đơn đã lập,ở các đơn vị kế toán được lưu trữ theo quy định lưu
trữ, bảo quản chứng từ kế toán, nhưng ở các tồ chức, hộ, cá nhân khác thì
được lưu trữ và bảo quản như tài sản riêng của tổ chức, cá nhân đó.
Khi hóa đơn đặt in bị in sai, in thừa, hết giá trị sử dụng, số hóa đơn bị
mất tổ chức, hộ, cá nhân kinh doanh phải hủy những hóa đơn đó. Trước khi
hủy, đơn vị phải chuẩn bị đầy đủ bộ hồ sơ hủy (riêng đối với tổ chức thì phải
thành lập thêm Hội đồng hủy hóa đơn). Sau đó, tiến hành hủy hóa đơn theo
quy định (cắt góc, ngâm hóa chất ) và phải nộp báo cáo lại cho cơ quan thuế
chậm nhất 05 ngày kể từ ngày thanh hủy.

dụng hóa đơn khi bán hành hóa, dịch vụ.
- Phạt tiền từ 2-50 triệu đồng đối với các hành vi vi phạm quy định về sử
dụng hóa đơn của người mua
- Phạt tiền từ 200.000 đồng đến 8 triệu đồng đối với hành vi vi phạm quy
định về lập, gửi thông báo và báo cáo (trừ Thông báo phát hành hóa đơn) cho
cơ quan thuế. Đơn vị phải gửi lại các thông báo, báo cáo đúng quy định.
1.2.5.3. Thẩm quyền xử lý vi phạm
- Cơ quan thuế các cấp, cơ quan thanh tra chuyên ngành tài chính được quyền
thanh tra, kiểm tra các tổ chức, cá nhân trong việc chấp hành các quy định tại
Nghị định 51/2010/NĐ-CP.
- Thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính về hóa đơn được thực hiện theo
quy định tại các Điều 29, 30, 36 và 38 Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính.
Theo đó, các cơ quan có thẩm quyền xử phạt bao gồm Chủ tịch UBND cấp
huyện, cấp tỉnh, Thanh tra chuyên ngành và cơ quan Thuế
- Trường hợp vi phạm hành chính về hoá đơn mà dẫn đến hành vi khai sai làm
thiếu số tiền thuế phải nộp hoặc tăng số tiền thuế được hoàn hoặc dẫn đến
hành vi gian lận trốn thuế thì xử phạt theo quy định tại Luật Quản lý thuế.
- Trường hợp vi phạm có liên quan đến hoạt động in hóa đơn giả đến mức
truy cứu trách nhiệm hình sự thì chuyển hồ sơ đến cơ quan có thẩm quyền để
khởi tố theo quy định.
- Cơ quan tiến hành tố tụng có trách nhiệm thông báo kết quả xử lý hành vi vi
phạm về hoá đơn cho cơ quan đã đề nghị truy cứu trách nhiệm hình sự.
- Đối với trường hợp đã ra quyết định xử phạt, nếu sau đó phát hiện hành vi
vi phạm có dấu hiệu tội phạm mà chưa hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm
hình sự thì người đã ra quyết định xử phạt phải hủy quyết định đó và trong
thời hạn 3 ngày, kể từ ngày hủy quyết định xử phạt, phải chuyển hồ sơ vụ vi
phạm cho cơ quan tiến hành tố tụng hình sự có thẩm quyền.
1.3. Sự cần thiết phải tăng cường công tác quản lý sử dụng hóa đơn
Hóa đơn là loại chứng từ kế toán đặc biệt. Do không giới hạn về mệnh
giá nên những tổn thất gian lận hay sai sót về hóa đơn gây ra rất lớn,

pháp luật thuế (nhất là về lĩnh vực hóa đơn) đã được Nhà nước quan tâm sửa
đổi thường xuyên cho phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội trong từng thời
kỳ, nhưng hàng năm tình trạng thất thu NSNN do các hành vi vi phạm và cố
tình vi phạm của các đơn vị kinh doanh trong lĩnh vực hóa đơn vẫn xảy ra và
trở thành mối quan tâm không chỉ của riêng Nhà nước mà còn đối với cả các
DN khác. Với mục đích tìm kiếm và tối đa hóa lợi nhuận, nhiều đơn vị kinh
doanh đã bán hàng không xuất hóa đơn, gian lận hóa đơn, làm giả, thất thoát
hóa đơn, sử dụng bất hợp pháp hóa đơn nhằm trốn tránh nghĩa vụ thuế; lừa
đảo, chiếm đoạt tiền thuế của Nhà nước. Và càng cấp thiết hơn khi Ttình
trạng đó đang diễn ra ngày càng nhiều hơn trên phạm vi cả nước, đòi hỏi cần
có sự can thiệp sâu sắc hơn của Nhà nước.
CHƯƠNG 2
THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ SỬ DỤNG HÓA ĐƠN TRÊN ĐỊA
BÀN QUẬN THANH XUÂN
2.1. KHÁI QUÁT VỀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ THU THUẾ TÊN ĐỊA BÀN
QUẬN THANH XUÂN
2.1.1. Khái quát tình hình kinh tế - xã hội ở quận Thanh Xuân
Quận Thanh Xuân được thành lập theo Nghị định số 74/NĐ – CP của
chính phủ và chính thức đi vào hoạt động từ ngày 01/01/1997. Địa giới hành
chính của quận bao gồm một số phường được tách ra từ Quận Đống Đa cùng
với một số xã của hai Quận Thanh Xuân và Huyện Thanh Trì chuyển sang.
Hiện nay, quận có tổng diện tích là 9,11 km2, chia làm 11 đơn vị hành chính
trực thuộc gồm các phường: Thanh Xuân Trung, Thượng Đình, Kim Giang,
Phương Liệt, Thanh Xuân Nam, Thanh Xuân Bắc, Khương Mai, Khương
Trung, Khương Đình, Hạ Đình, Nhân Chính với dân số toàn quận trên
218.560 người (năm 2012). Điều đó phần lớn cho thấy Quận Thanh Xuân có
lực lượng lao động mạnh mẽ và dồi dào. Đây là điều kiện tốt để cung cấp
nguồn lao động cho sản xuất, kinh doanh cũng như tạo ra một thị trường lớn
cho việc tiêu thụ hàng hóa, dịch vụ.
Thanh Xuân hiện đang là một trong các khu vực trung tâm quan trọng

thách thức lớn, ảnh hưởng đến tình hình sản xuất kinh doanh của DN, khiến
nhiều DN vừa và nhỏ ngừng hoạt động, thậm chí phải giải thể. Do đó, đến
cuối năm 2013, số DN trên địa bàn có 8.669 DN, trong đó chiếm tỷ lệ nhiều
nhất là các công ty cổ phần với 4.633 DN (53,44%) và các công ty TNHH với
3.824 DN (44,11%), và thực trạng năm 2013 đã ảnh hưởng lớn đến kết quả
thu NSNN, cho nên việc thực hiện dự toán thu NSNN năm 2013 đạt kết quả
chưa cao cùng với con số 1.552 tỷ đồng.
Năm 2014, tiếp tục thực hiện kế hoạch phát triển Kinh tế - xã hội giai
đoạn 2011 – 2015. Quận Thanh Xuân đẩy mạnh tăng trưởng kinh tế và phát
triển xã hội, nâng cao chất lượng cuộc sống. Để triển khai thực hiện thắng lợi
các mục tiêu kinh tế - xã hội lớn thì cần động viên nguồn tài chính không nhỏ
vào NSNN. Do đó, nhiệm vụ thu được giao hết sức nặng nề, cơ quan thuế và
các ban ngành liên quan cần có sự phối hợp đồng bộ để hoàn thiện và nâng
cao hiệu quả công tác quản lí thuế trên địa bàn quận Thanh Xuân.
2.1.2. Tổ chức bộ máy quản lý tại Chi cục thuế quận Thanh Xuân.
Chi cục thuế quận Thanh Xuân được thành lập theo quyết định số
1174/QĐ-TCT/TCCB ngày 21/12/1996 của bộ trưởng Bộ Tài chính. Hiện
nay, Chi cục có tổng số 139 cán bộ và 4 người hợp đồng theo Nghị định
68/2000/NĐ-CP. Trong đó, có 95% cán bộ trình độ đại học và trên đại học,
5% cán bộ có trình độ cao đẳng và trung cấp. Ban lãnh đạo Chi cục bao gồm
có 01 đồng chí Chi cục trưởng và 3 đồng chí Phó Chi cục trưởng.
Căn cứ Quyết định số 503/QĐ-TCT ngày 20/03/2010 của Tổng cục
trưởng Tổng cục thuế, cơ cấu bộ máy quản lý của Chi cục thuế quận Thanh
Xuân được mô tả theo sơ đồ sau:
Đội Tuyên truyền, hỗ trợ NNT - Ấn chỉ ở Chi cục hình thành từ năm
2006, được chia làm 2 phòng (gồm Phòng Tuyên truyền – Hỗ trợ NNT và
Phòng Ấn chỉ) cùng với số lượng đội ngũ là 7 cán bộ. Trong đó, có 4 cán bộ ở
phòng Ấn chỉ, thực hiện các chức năng liên quan tới lĩnh vực quản lí hóa đơn,
chứng từ với những nghiệp vụ chủ yếu sau: Thực hiện cấp phát hóa đơn;
Quản lý việc phát hành, sử dụng, hủy hóa đơn của các tổ chức, cá nhân; Phối

thuế số 2
+ Đội hành
chính- nhân sự-
tài vụ (không
phụ trách mảng
tổ chức cán
bộ).
+ Đội kiểm tra
nội bộ
+ Đội điều
hành công tác
tổ chức cán bộ
+ Phụ trách
chung toàn bộ
hoạt động của
Chi cục.
+ Đội quản lý nợ và
cưỡng chế thuế.
+ Đội thuế liên
phường Khương
Đình- Khương Mai-
Phương Liệt.
+ Đội thuế liên
phường Nhân Chính-
Thượng Đình- Hạ
Đình.
+ Đội thuế liên
phường Thanh Xuân
Bắc- Thanh Xuân
Nam, Kim Giang.

toán
(%)
% so
với
thực
hiện
2011
(%)
Số thu
(triệu
đồng)
% so
với
dự
toán
(%)
% so
với
thực
hiện
2012
(%)
Thuế
NQD
665.223 105 146 607.228 52 91 771.911 77 127
Tiền
thuê đất
85.031 189 155 149.685 235 176 121.282 142 87
Phí và
lệ phí

toán phấn đấu, và so với cùng kỳ năm trước bằng 96%. Trong đó, số thu do
Chi cục thuế thực hiện là 1.536,481 tỉ đồng, đạt 81,5% dự toán pháp lệnh, so
với cùng kỳ năm trước bằng 93%. Cụ thể hơn,theo khu vực ngoài quốc doanh,
tổng thu gần 772 tỉ đồng, đạt 77% dự toán, so với năm 2012 đạt 127%. Nhìn
qua bảng số liệu, ta còn thấy có một số sắc thu vượt dự toán pháp lệnh khá
cao, như thuế TNCN; tiền thuê cho mặt đất, mặt nước; lệ phí trước bạ. Bên
cạnh đó, có khoản thu còn chưa đạt kế hoạch: tiền sử dụng đất thu khoảng
280 tỉ đồng, mới chỉ bằng 39% dự toán pháp lệnh.
Kết lại ta thấy, số thu tại Chi cục năm qua phải nói là rất khá lớn. Chỉ
tiêu được giao có thể coi là tương đối phù hợp với tình hình đặc điểm trên địa
bàn hoạt động của Chi cục.

Sở dĩ có các kết quả trên là do các nguyên nhân sau:
* Nguyên nhân khách quan:
+> Nguyên nhân kinh tế: Năm 2012 mặc dù phải đối mặt với rất nhiều khó
khăn, đặc biệt trong là tác động của giá cả, thị trường, nhiều DN, hộ kinh
doanh đã cố gắng vượt qua khó khăn, duy trì hoạt động sản xuất kinh doanh
và tự giác thực hiện nghĩa vụ thuế đối với nhà nước.
+> Nguyên nhân về công tác chỉ đạo điều hành thu: trong năm 2012 Chi cục
thuế đước sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo của Cục thuế Hà Nội, Quận ủy,
HĐND, UBND, Ban chỉ đạo chống thất thu ngân sách quận, sự phối hợp chặt
chẽ với các ngành, các đoàn thể trong Quận.
* Nguyên nhân chủ quan :
Ngay từ tháng 12 năm 2012, Chi cục thuế đã tham mưu cho UƯBND
quận triển khai giao dự toán cho các phường theo đúng quy định của luật
NSNN và sớm ban hành kế hoạch tổ chức thực hiện nhiệm vụ thu chi ngân
sách quận năm 2013. Sau đó, lãnh đạo Chi cục thuế cụ thể hóa trách nhiệm,
giao nhiệm vụ thu cho từng đội thuế, từng cán bộ thuế theo từng quí, từng
tháng. Tập thể cán bộ công chức Chi cục thuế đã nỗ lực phấn đấu vượt qua
khó khăn để hoàn thành tốt nhiệm vụ thu ngân sách được giao.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status