Tiểu luận môn giải phẫu sinh lý và thần kinh cấp cao Sáng tạo và tư duy sáng tạo - Pdf 28

1
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN TPHCM
BỘ MÔN TÂM LÝ HỌC

GV hướng dẫn: Th.S Phạm Lê Bửu Trúc
Nhóm thực hiện:
Nguyễn Huỳnh Luân
Võ Thị Ngọc Hân
Trần Thị Thái Thu
Lâm Thị Hồng
Quan Huỳnh Như Thủy
2
12/2010
3
DẪN LUẬN
Sáng tạo là một trong những năng lực vô tận của con người. Sáng tạo là một trong
những nguyên nhân chính thúc đẩy quá trình phát triển và hiện đại hóa của xã hội loài
người. Ngày nay, người ta không chỉ nhìn nhận sáng tạo ở việc tìm ra cái mới phục vụ
cho cuộc sống, mà dần đi vào nghiên cứu sâu hơn về bản chất, cấu trúc, cơ chế tâm lí của
hoạt động sáng tạo. Đồng thời, ngày càng có nhiều công cụ tư duy giúp con người năng
động hơn trong tư duy, rèn luyện và phát huy sức sáng tạo của cá nhân và tập thể.
Chính vì thế, sáng tạo dần trở thành một đối tượng nghiên cứu quan trọng của
nhiều ngành khoa học. Sáng tạo vốn dĩ là một “địa hạt” hết sức đặc biệt nên đã thu hút sự
quan tâm của khá nhiều lĩnh vực nghiên cứu giao thoa. Hiểu rõ hơn về sự sáng tạo dưới
góc độ tâm lí học sẽ giúp con người điều chỉnh tư duy, phát huy tối đa năng lực sáng tạo
của mình. Với những mong muốn đó, nhóm đã đi vào nghiên cứu, sưu tầm và hệ thống
lại đề tài: “Sáng tạo và tư duy sáng tạo”.
4
MỤC LỤC
DẪN LUẬN……………………………………………………………………
I. KHÁI NIỆM……………………………………………………………… 4

J.H.Lasva cho rằng sáng tạo là sự lựa chọn và sử dụng những phương tiện mới,
cách giải quyết mới.
Ở Việt Nam, cũng có nhiều tác giả có quan niệm khác nhau về khái niệm sáng tạo:
Tác giả Trần Hiệp – Đỗ Long :Sáng tạo là hoạt động tạo lập phát hiện những giá
trị vật chất và tinh thần, đòi hỏi cá nhân phải có năng lực, kĩ năng.
Tác giả Nguyễn Đức Uy cho rằng đó là sự đột khởi thành sản phẩm lien hệ mới
mẻ nảy sinh từ sự độc đáo của một cá nhân.
6
Tác giả Nguyễn Huy Tú cho rằng quá trình sáng tạo là tổ hợp các phẩm chất và
năng lực mà nhờ đó mà con người trên cơ sở kinh nghiệm của mình tòm ra được những
nét mới, độc đáo.
 Như vậy, có rất nhiều quan niệm khác nhau về sáng tạo nhưng gần như tất cả
đều đồng tình sáng tạo phải là quá trình tạo ra hay hướng đến cái mới. Bằng tư duy độc
lập, con người đã phối hợp, biến đổi và xây dựng những cái mới trên bình diện cá nhân
hay xã hội từ những kinh nghiệm sẵn có của mình.
2. Một số khái niệm liên quan:
a) Tư duy sáng tạo:
Tư duy sáng tạo là khả năng giải quyết các vấn đề bằng cách tạo ra một cái mới,
nhưng đạt được kết quả một cách có hiệu quả. Tư duy sáng tạo nhấn mạnh đến khả năng
tư duy, suy luận logic, phán xét để đưa ra những ý tưởng mới. Con người luôn phải tư
duy sáng tạo vì mọi thứ luôn vận động, biến đổi. Trong giải quyết vấn đề, tư duy sáng tạo
giúp con người tìm ra nhiều cách giải quyết và lựa chọn cách giải quyết tối ưu, hợp lý
nhất và hiêu quả nhất.
b) Năng lực sáng tạo:
Năng lực sáng tạo là khả năng tạo ra những cái mới hoặc giải quyết vấn đề một
cách mới mẻ của con người. Năng lực sáng tạo có tiền đề trước hết bởi phẩm chất trí tuệ,
phẩm chất trí nhớ, xúc cảm… Như vậy, năng lực sáng tạo liên quan chặt chẽ tới hoạt
động sáng tạo và là yếu tố thể hiện rõ trong hoạt động sáng tạo cũng như quyết định chất
lượng của hoạt động sáng tạo.
7

đánh giá
- Tính có lợi: Sáng tạo phải tạo ra cái mới đảm bảo tính hiện thực, phục vụ cho lợi
ích của con người, của xã hội
8
Như vậy, từ những nhận định trên, bản chất của sự sáng tạo có thể được đúc kết ở
ba điểm chính sau:
- Sáng tạo là việc tạo ra cái mới ở những mức độ khác nhau.
- Cái mới con người tạo ra nhằm để phục vụ cho cuộc sống con người, nhu cầu
của xã hội.
- Quá trình tạo ra cái mới của sáng tạo có sự tham gia khá đầy đủ của các quá trình
tâm lý của cá nhân.
CẤU TRÚC TÂM LÝ
LINH
HOẠT
ĐỘC ĐÁO MỀM DẺO
CẤU TRÚC
– KẾ HOẠ-
CH
NHẠY
CẢM VẤN
ĐỀ
MỞ RỘNG
AD, ĐỊNH
NGHĨA LẠI
9
CHƯƠNG III. CẤU TRÚC TÂM LÝ CỦA SỰ SÁNG TẠO
1. Một số đặc điểm tâm lý của quá trình sáng tạo:
• Nhận ra vấn đề mới dưới những luận điểm đã quen thuộc được hình thành dựa trên
sự nhạy cảm vấn đề
• Nhìn ra chức năng mới ở một đối tượng nào đó để gần gũi, quen thuộc

Thành phần mềm dẻo là năng lực tổ hợp thông tin nhanh chóng, tạo ý tưởng mới
từ thông tin vừa mới tiếp nhận. Thành phần này đòi hỏi người tiếp nhận thông tin trong
thời gian ngắn, phải nhanh chóng tổ hợp thông tin, phát kiến ra những ý tưởng mới để
giải quyết hay phát triển vấn đề.
Thành phần này được tạo nên bởi các yếu tố:
- Lưu loát trong từ ngữ, cách biểu đạt
- Lưu loát trong ý tưởng
- Lưu loát trong liên tưởng
d) Thành phần cấu trúc kế hoạch (Elaboration):
11
Thành phần cấu trúc kế hoạch là năng lực xây dựng cấu trúc từ thông tin đã có,
xây dựng giải pháp từ ý tưởng sáng tạo. Thành phần này bao gồm các năng lực xây dựng
cấu trúc mới từ các thông tin đã biết, năng lực xây dựng các kế hoạch thực hiện giải pháp
từ những ý tưởng mới, cho phép cá nhân nghĩ ra được các bước hành động liên tiếp, tổ
chức và phối hợp của cơ ngón tay, cơ mặt…Thông thường, thành phần cấu trúc kế hoạch
có thể ước lượng bằng các test sử dụng ngôn ngữ.
e) Thành phần nhạy cảm vấn đề (Sensibility):
Thành phần nhạy cảm vấn đề là sự nhanh chóng phát hiện ra sai lầm, mâu thuẫn,
thiếu hụt hay thiếu logic, thiếu ngắn gọn, chưa tối ưu… hay khả năng nắm bắt dễ dàng
nhanh chóng các vấn đề, nhận ra ý nghĩa mới của sự vật từ những thông tin còn thiếu hụt
của mình để từ đó nảy sinh ý muốn cấu trúc lại sự vật, hiện tượng cho hợp lí, hài hòa hơn,
thích hợp hơn để tạo ra cái mới. Thành phần này thể hiện ở sự cởi mở, thái độ thông
thoáng trong tiếp xúc với ngoại giới và con người.
f) Thành phần mở rộng áp dụng, định nghĩa lại sự vật, hiện tượng (Redefinition):
Thành phần mở rộng áp dụng, định nghĩa lại sự vật, hiện tượng là sự áp dụng một
cách hoàn toàn mới, hoàn toàn khác với một đồ vật, hiện tượng hoặc một bộ phận của nó.
VD: Vật nào có thể sử dụng để châm lửa?
a. Dây thừng
b. Bắp cải
c. Đồng hồ bỏ túi

- Trả lời câu hỏi theo cách hiểu cá nhân, không theo sách
vở
88.4%
ST
CHẾ TẠO
- Đưa ra câu trả lời bằng cách tổng hợp nhiều kiến thức
khác nhau từ các giáo trình, tài liệu
7.8%
ST
PHÁT KIẾN
- Giải quyết vấn đề do GV đề ra, tìm ra kiến thức chưa
có trong sách
- Có cách giải quyết sáng tạo riêng trước vấn đề GV đưa
ra
3.2%
ST
CẢI BIẾN
- Nêu các vấn đề phát sinh đến các kiến thức giáo viên
đang giảng
- Liên hệ tình huống thực tế gắn với kiến thức đang học
0.6%
ST TRÍ TUỆ
ĐB
- Đưa ra các phương pháp luận mới, các kỹ thuật mới,
được đánh giá ghi nhận như một sáng kiến trong ngành
học.
0%
13
CHƯƠNG IV. CƠ CHẾ TÂM LÝ CỦA SỰ SÁNG TẠO
1. Cơ chế sinh lý:

+ Mong muốn giải quyết vấn đề.
 Bước 2: Đưa ra giả thuyết, giải quyết dự kiến.
+ Gắn vấn đề với tri thức, kinh nghiệm.
+ Đưa ra những giải pháp.
+ Chọn 1 giải pháp.
 Bước 3: Kiểm tra giả thuyết.
+ Thực thi giả thuyết, giải pháp đã chọn.
+ Đánh giá giải pháp trên cơ sở kết quả của nó.
- Ngoài ra cũng có quan niệm quá trình sáng tạo diễn ra 6 bước:
 Nhận ra vấn đề
 Phân tích vấn đề
 Gắn vấn đề vào những quan hệ với những lĩnh vực tri thức chuyên biệt nhất định
 Xây dựng giả thuyết, giải pháp dự kiến
 Kiểm chứng giả thuyết
 Xác định giải pháp mới, nhận thức mới, đạt được cái mới.
b) Cơ chế linh cảm trực giác:
Trong quá trình sáng tạo, có những khoảnh khắc dù không có sự tham gia của ý
thức, chúng ta vẫn đột phát ra những ý tưởng mới, những giải pháp mới một cách tình cờ,
ngẫu nhiên. Các nhà khoa học giải thích hiện tượng này bởi cơ chế linh cảm trực giác.
Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng linh cảm trực giác là tính đặc thù cần quan tâm bậc nhất
khi nghiên cứu về sáng tạo. Đây là một cơ chế còn tương đối mới mẻ trong nghiên cứu,
chính vì thế luôn nhận được nhiều sự quan tâm của các nhà khoa học.
Tiến sĩ Huỳnh Văn Sơn đã nhận xét: “Linh cảm hay trực giác, cho phép con người
suy luận đúng đắn trong một vài tình huống, khởi phát ý tưởng đột ngột mà bản thân
15
không ý thức được”. Chính thiên tài Mozart cũng đã khẳng định: mỗi tác phẩm âm nhạc
của ông đều là sự kết tinh của nguồn cảm hứng, tư duy sáng tạo và do linh tính mách bảo.
Cơ chế linh cảm trực giác đóng vai trò quan trọng trong sáng tạo nghệ thuật, đặc biệt là
trong thơ ca, hội họa, âm nhạc,…
Ngày nay, cơ chế linh cảm trực giác cũng được áp dụng trong hoạt động giáo dục,

luật sư – tội phạm – trại giam. Ta thu nối một ý tưởng bất kì của chuỗi (1) với một
ý tưởng khác của chuỗi (2). Vi dụ như: du lịch với trại giam, lúc đó ta sẽ có ý
tưởng: tổ chức toa du lịch qua các nhà tù của những tên tội phạm khét tiếng trên
17
thế giới,vvv… Chỉ với hai chuỗi ý tưởng thật đơn giản chúng ta có thể có tới
4x4=16 ý tưởng sáng tạo.
Sản phẩm của trí thông minh là phát minh có thể tồn tại rất lâu dài thậm chí
tồn tại vĩnh viễn. Nhưng sáng chế, sản phẩm của sáng tạo, thì rất nhanh được cải
tiến nâng cao để đi tới sáng chế mới. “nếu phát minh hình như là mắt thần sáng
chiếu vào thế giới thì sáng tạo, sáng chế đượcc ví như những bánh xe đưa cỗ xe
nhân loại tiến về phía trước, phía tương lai của con người”.
Một vài nghiên cứu cho thấy có mối quan hệ giữa sáng tạo và trí thông minh
nhưng tương quan giữa chúng không thật sự cao. Tuy vậy những trẻ có trí sáng tạo
cao thường có trí thông minh cao, từ ngưỡng trung bình trở lên. Trong khi những
trẻ có trí thông minh cao thi chưa hẳn có trí sáng tạo cao.
Robert Sternberg xác định sáu đặc điểm liên quan đến tính sáng tạo từ danh
mục 131 đặc điểm do những người dân thường và các giáo sư trong các ngành
nghệ thuật, khoa học và kinh doanh cung cấp: (1) không theo quy ước, (2) thông
minh; (3) trí tưởng tượng và đầu óc thẩm mỹ, (4) mềm dẻo và các kỹ năng ra quyết
định, (5) mạch lạc (trong khi chất vấn các chuẩn xã hội) và (6) khả năng hoàn
thành và công nhận. Ông cũng thực hiện những sự phân biệt quan trọng giữa tính
sáng tạo, trí thông minh, và sự thông thái. Mặc dù chúng là các phạm trù khá tách
biệt, nhưng chúng là các cấu trúc có liên hệ với nhau. Thông thái có quan hệ với trí
thông minh rõ ràng hơn tính sáng tạo, nhưng khác với trí thông minh ở chỗ nó
nhấn mạnh vào việc đánh giá chín chắn và vào việc sử dụng kinh nghiệm trong các
tình huống khó khăn. Sáng tạo chồng chéo với trí thông minh nhiều hơn với thông
thái, nhưng nó bao gồm trí tưởng tượng và các phương pháp không theo quy ước
nhiều hơn. Trí thông minh xử lý các cấu trúc logic và phân tích.
Theo Carl Rogers, bản chất của tính sáng tạo là sự mới mẻ và do đó chúng ta
không có tiêu chí để đánh giá nó. Trong thực tế, sản phẩm càng độc đáo bao nhiêu,

cụ lao động: nhờ sáng tạo, con người nguyên thủy đã phát hiện ra đá có thể là một công
cụ lao động. Tiếp theo là sự phát hiện ra đồng, sắt. Và hiện nay nhờ năng lực sáng tạo mà
con người có những công cụ lao động bằng những máy móc hiện đại hạn chế được sức
người và đem lại hiệu quả lao động cao, nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm.
Giúp con người giải phóng chính mình và nâng cao năng xuất , hiệu quả lao động.
Ngay tại đất nước ta ngày nay còn rất ít hình ảnh “con trâu đi trước cái cày theo sau” nữa,
mà ngày càng nhiều người nông dân sử dụng những máy móc hiện đại, cùng những công
nghệ tiên tiến để có những vụ mùa bội thu mà tốn ít sức người nhất. Tất cả đều là sản
phẩm của sự sáng tạo không ngừng của những nhà khoa học.
19
Hoạt động sáng tạo tạo ra sự phát triển toàn diện của xã hội, tạo ra sự thay đổi từ
lĩnh vực này sang lĩnh vực khác, chuyển xã hội từ nấc thang này sang nấc thang khác
trong sự phát triển. Sáng tạo có ý nghĩa rất lớn trong sự phát triển của nhân loại, đưa thế
giới bước đến kỉ nguyên của sự tiên nghi và hiện đại.
20
CHƯƠNG VII.
TÍNH Ỳ TÂM LÝ TRONG HOẠT ĐỘNG SÁNG TẠO
Tính ỳ là một thuộc tính nhất định của một hệ thống, một sự vật. Tính ỳ là yếu tố
trì nặng làm giảm sức hoạt động hoặc chuyển động của một hệ, một sự vật hay một
người. Tính ỳ tâm lí là một thuộc tính trong cá nhân, làm cho hoạt động của cá nhân thiếu
tính linh hoạt, sáng tạo, cản trở quá trình tư duy sáng tạo và đổi mới. Khi đã định hình, nó
có thể trở nên vô cùng vững chắc.
Tính ỳ tâm lý được phân thành hai loại: tính ỳ thừa và tính ỳ thiếu.
1. Tính ỳ thừa:
Ví dụ: Một con hổ ăn hết một con cừu trong vòng 2 ngày. Hỏi hai con hổ cùng ăn
một con cừu thì sẽ mất bao nhiêu ngày? Nếu áp dụng theo nguyên tắc tam suất thông
thường, câu trả lời có thể là 1 ngày. Tuy nhiên, nếu xét kĩ, ta thấy nếu hai con hổ cùng ăn
một con cừu thì chắc chắn sẽ có tranh chấp giữa hai con, vì thế thời gian ăn xong là
không thể xác định. Chính sự áp dụng quy tắc tam suất máy móc ở đây đã làm hạn chế
khả năng mở rộng suy luận vấn đề để tìm ra những phương án mới mẻ.

tính chất, chức năng,… mà bỏ qua thông tin khóa.
Có khá nhiều loại tính ỳ thiếu, phổ biến nhất là ỳ thiếu ngôn ngữ và ý thiếu chức
năng, đồ vật:
- Ỳ thiếu ngôn ngữ: những “giới hạn” trên làm hạn chế khả năng suy luận ngôn
ngữ.
- Ỳ thiếu chức năng, đồ vật:
Ví dụ: Ba bóng đèn điện trong phòng và ba công tắc tương ứng đặt ở bên ngoài
(nơi không thể nhìn thấy trong phòng). Ban đầu ba bóng đèn đều tắt. Làm thế nào để xác
định công tắc nào nếu chỉ được phép vào phòng một lần để kiểm tra. Để giải quyết được
tình huống này, ta phải nhận định rõ: “Tại sao chúng ta chỉ gắn liền bóng đèn với thị
giác?” Khi tiếp cận đồ vật, những yếu tố trực quan của đồ vật (thường là nổi bật) và
những kinh nghiệm tiếp xúc làm cho chủ thể bị giới hạn trong suy luận.
Lời giải của câu đố trên là: bật hai công tắc, đợi một chút rồi tắt bớt một cái. Đi
vào phòng kiểm tra, bóng đang sáng ứng với công tắc đang mở, bóng hơi ấm tương ứng
với bóng vừa tắt, còn lại tương ứng với công tắc đang đóng.
Cách giải quyết cho tính ỳ này là suy nghĩ và hành động theo những quy luật
khách quan, toàn diện, tránh duy ý chí (phương pháp công não). Cần nhận rõ những kinh
22
nghiệm bao gồm nội dung, phương pháp, kĩ thuật cũ đã biết,… đang ngự trị để tìm cách
vượt ra khỏi vòng ảnh hưởng của chúng.
23
CHƯƠNG VIII.
MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP SUY LUẬN SÁNG TẠO
Có rất nhiều phương pháp suy luận sáng tạo thường được sử dụng hiện nay, giúp
ích không nhỏ cho quá trình tư duy sáng tạo, có thể kể đến như:
• Phương pháp công não (Alex Osborn) => Phương pháp METAPLAN
• Phương pháp “Sáu chiếc mũ tư duy” (Edward de Bono)
• Phương pháp giản đồ ý/ bản đồ tư duy
• Phương pháp DOIT – Sáng tạo theo quy trình (Robert Obon)
• …

Phương pháp này làm cho các cuộc họp trở nên hiệu quả hoặc dùng trong giải quyết vấn
đề nhiều mâu thuẫn. Đây cũng là một công cụ giúp cho cá nhân hoặc nhóm phát triển.
Mỗi chiếc nón sẽ mang một đặc tính khác nhau trong tư duy. Trình tự áp dụng các
mũ sẽ tự do, linh động tùy thuộc đặc trưng công việc, đặc tính cá nhân, nhóm, tổ chức,…
Mỗi khi áp dụng một mũ, tất cả mọi người cùng suy nghĩ, suy xét vấn đề theo đúng đặc
tính đó, cụ thể là:
− Mũ trắng: Suy nghĩ mang tính khách quan, góc nhìn trung tính chỉ dựa trên thực
tế, số liệu và thông tin. Tập trung phân tích trên cơ sở dữ liệu quá khứ.
− Mũ đỏ: Nhìn sự việc theo cảm xúc và trực giác chủ quan. Mũ trắng cho phép nghi
ngờ và phán xét mà không cần chứng minh, giải thích.
− Mũ đen: Nhìn theo khía cạnh tiêu cực, các rủi ro và suy nghĩ tại sao sự việc lại
không thực hiện được hoặc sai. Dùng mũ này với góc nhìn cẩn trọng và phê phán
những điểm không tốt hoặc không thể thực hiện.
25
− Mũ vàng: Suy nghĩ dưới góc nhìn tích cực của sự việc. Hướng về các lợi ích sẽ
được và nhất là các thành tích đã có.
− Mũ lục: Nhìn theo khía cạnh sáng tạo của sự việc, các khả năng khác có thể xảy
ra, giải pháp mới, giả thuyết mới.
− Mũ xanh dương: Suy nghĩ về hướng điều khiển, chi phối quá trình, các bước, tổ
chức lãnh đạo, suy nghĩ về các suy nghĩ hay kết luận.
3. Phương pháp giản đồ ý:
Là phương pháp dùng hình ảnh của sơ đồ, lược đồ để xâu chuỗi các thông tin theo
một kết cấu nhất định nhằm nhìn nhận, giải quyết vấn đề theo hướng sáng tạo một cách
gọn gàng, khoa học. Đây là một phương tiện mạnh để tận dụng khả năng ghi nhận hình
ảnh của bộ não, phát huy sự vận động của cả hai bán cầu não.
Đặc điểm:
− Đòi hỏi khả năng tổ chức và lưu giữ thong tin dưới dạng hình ảnh và kết cấu hình
ảnh theo một trình tự.
− Chủ yếu sử dụng mạng sơ đồ để lưu giữ các thông tin.
− Được kết cấu theo nhiều hình thức: sơ đồ trục, sơ đồ mạng, tìm nhánh từ gốc.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status