Sử dụng phương pháp làm việc nhóm trong giảng dạy môn Giải phẫu - Sinh lý tại trường Trung cấp Y- Dược Hợp Lực - Pdf 27

I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Ông cha ta xưa đã có câu: “ Một cây làm chẳng nên non, ba cây chụm lại
nên hòn núi cao”. Câu nói vừa chỉ ra tinh thần đoàn kết trong công việc lại
vừa nói lên tính cần thiết của việc hợp tác theo nhóm hay theo “ e-kip” để
mong muốn có hiệu quả công việc cao nhất. Đối với học sinh- sinh viên
ngành Y- Dược việc được tiếp xúc và làm quen với nhóm làm việc ngay từ
khi còn ngồi trên ghế nhà trường là một cơ hội tốt để các em nhanh chóng bắt
nhịp với công việc sau này. Chúng ta đều biết đặc trưng của ngành Y là làm
việc theo ca, “kíp”, tổ, đội, và nếu như các em không được làm quen trước thì
sau này rất khó thích ứng nhanh với công việc, hơn nữa làm việc theo nhóm
đã cho thấy những hiệu quả rõ rệt. Nói đến việc chia nhóm trong học tập thì
không có gì mới bởi nó rất quen thuộc trong phương pháp dạy học xưa và
nay. Tuy nhiên, để áp dụng phương pháp này một cách khoa học không phải
người giáo viên nào cũng vận dụng tốt. Khi còn là sinh viên tôi cũng từng
tham gia những nhóm học tập và tôi cảm thấy việc học tập theo nhóm phát
huy rất tốt vai trò tích cực học tập, chủ động và sáng tạo của bản thân. Chính
vì vậy khi ra trường và được làm việc trong môi trường giáo dục, là giáo viên
dạy môn Giải phẫu - Sinh lý tôi luôn luôn trăn trở và mong muốn lồng ghép
phương pháp này để giảng dạy cho học sinh của tôi. Giải phẫu - Sinh lý là
môn học cơ sở cho các môn học khác,kiến thức của môn học phục vụ đắc lực
cho quá trình tiếp nhận kiến thức các môn học tiếp theo. Khối lượng kiến thức
rất lớn, khô khan và khó hiểu làm cho học sinh không mấy hứng thú, say mê
với môn học này, nhiều học sinh học Giải phẫu – Sinh lý theo hình thức đối
phó và cảm thấy việc không phải thi lại là một thành công. Một số học sinh
chăm học hoặc thích thú với môn học này cũng gặp không ít khó khăn khi
phải làm việc độc lập để tiếp nhận những kiến thức mang tính chất tổng quát,
trìu tượng và khó nhớ. Là một giáo viên trực tiếp giảng dạy, nắm bắt được
những khó khăn của môn học và tâm lý “sợ” học của học sinh tôi luôn luôn
tìm tòi và thay đổi phương pháp giảng dạy của mình sao cho phù hợp với thực
1
tế tại nhà trường và cũng để học sinh khi học môn của tôi không còn thấy

giao.
Như vậy chúng ta thấy rằng, trong nhóm có sự hoạt động tập thể, đồng lòng,
chung sức tất cả vì một sự thành công của nhóm. Trong học tập, khi chúng ta
chia nhóm sẽ tạo ra sự cạnh tranh, phấn đấu thi đua giữa các nhóm cũng như
giữa các thành viên trong nhóm để tự khẳng định mình trước tập thể.
1.3. Tiêu chuẩn thành lập các nhóm học tập.
- Số lượng các thành viên trong nhóm phải vừa đủ và phù hợp với quy
mô của lớp học để tận dụng tối đa sự tham gia đóng góp của các thành viên.
- Có sự đồng đều trong nhóm về: giới tính, trình độ và năng lực tiếp thu
cũng như giải quyết vấn đề.
- Hình thành nhóm nên chú ý không để những thành viên có những mâu
thuẫn sâu sắc vào cùng một nhóm để tránh những xung đột không cần thiết
ảnh hưởng đến công việc học tập chung của nhóm.
1.4. Tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả hoạt động của nhóm học tập.
Một nhóm học tập được xem là đạt hiệu quả khi nhóm phải đạt được
những tiêu chuẩn nhất định mà người giáo viên trực tiếp lập ra nhóm đó yêu
cầu, có thể kể đến như sau:
- Khả năng tiếp nhận và giải quyết vấn đề của nhóm đúng hướng, kiến
thức mà nhóm đúc kết được trong quá trình làm việc đáp ứng được nhu cầu
bài học và có ý nghĩa thực tiễn.
- Trong nhóm các thành viên tích cực xây dựng nhóm, hăng say vì công
việc chung của nhóm, đoàn kết giữa các thành viên.
- Tất cả các thành viên trong nhóm phải được giải trình ý kiến trước tập
thể cũng như nhóm để tạo nên thành quả hoạt động của nhóm.
Từ những cơ sở lý luận nêu trên đã có tác dụng định hướng cho tôi trong
việc nghiên cứu, tìm kiếm những giải pháp, biện pháp nhằm khắc phục những
vấn đề còn tồn tại để sử dụng một cách có hiệu quả phương pháp làm việc và
3
học tập theo nhóm nhỏ của học sinh trong quá trình dạy học môn Giải phẫu-
Sinh lý.

đổi phương pháp giảng dạy tích cực theo hướng “ Lấy người học làm trung
tâm”, tránh hình thức truyền thụ một chiều tạo tâm thế học tập ỷ lại trong học
sinh.
- Phòng đào tạo và tổ bộ môn thường xuyên tổ chức họp chuyên môn ít
nhất 2 tuần 1 lần. Tổ chức thao giảng, dự giờ để rút kinh nghiệm giảng dạy.
Đây là điều kiện tốt để giáo viên bộ môn chúng tôi mạnh dạn áp dụng thử
nghiệm phương pháp làm việc nhóm trong môn học của mình.
- Đội ngũ cán bộ giáo viên của nhà trường nói chung và của bộ môn nói
riêng còn trẻ, có tinh thần trách nhiệm cao, nhiệt huyết với công việc, tiếp cận
với khoa học công nghệ và các phương pháp giảng dạy tích cực một cách
nhanh nhẹn và nhạy bén.
- Nhà trường trang bị cho bộ môn hai phòng thực hành Sinh lý và Giải
phẫu với tương đối đầy đủ các trang thiết bị phục vụ cho học tập như: Mô
hình, tranh ảnh, các vật dụng làm thí nghiệm… Giáo trình dùng cho môn học
đã được biên soạn phù hợp và được kiểm nghiệm qua hội đồng chuyên môn
nhà trường tạo được sự thống nhất, đồng bộ.
- Thư viện nhà trường có tương đối nhiều đầu sách tham khảo môn Giải
phẫu - Sinh lý cho cả giáo viên và học sinh.
- Sự phân bố sỹ số lớp học không quá đông dao động trong khoảng 45 -
55 học sinh nên thuận lợi cho việc chia nhóm để làm việc có hiệu quả. Đồng
thời các em học sinh ngoan, có ý thức cao trong học tập.
2.2.2. Khó khăn:
Bên cạnh những mặt thuận lợi nêu trên thực trạng tại nhà trường còn cho
thấy những khó khăn nhất định:
- Phương pháp làm việc nhóm còn khá mới mẻ và rất ít áp dụng đối với
các môn học lý thuyết, một số môn thực hành có áp dụng phương pháp này
5
nhưng chưa cho thấy hiệu quả cao. Chính vì lẽ đó mà kinh nghiệm của giáo
viên trong quá trình áp dụng phương pháp này vào giảng dạy còn rất hạn chế.
- Môn lý thuyết Giải phẫu - Sinh lý từ trước vẫn sử dụng phương pháp

tôi đã mạnh dạn tiến hành phương pháp dạy học chia thành nhóm nhỏ áp dụng
cho môn lý thuyết Giải phẫu - Sinh lý và thực tế đã cho thấy sự chuyển biến
rõ rệt từ kết quả học tập của các em.
3. Các biện pháp thực hiện nhằm sử dụng hiệu quả phương pháp
làm việc nhóm trong giảng dạy môn Giải phẫu - Sinh lý.
Để nâng cao chất lượng đào tạo nói chung và chất lượng phương pháp
làm việc nhóm nói riêng cần có sự cải tiến đồng bộ cả về phía giáo viên, học
sinh và những phương tiện phục vụ cho quá trình học tập môn Giải phẫu –
Sinh lý. Một số biện pháp tôi đã làm và thấy có hiệu quả, tác động đáng kể
đến tính tích cực, chủ động sáng tạo và cách làm việc có tinh thần tập thể
(hoạt động nhóm hiệu quả) của học sinh. Cụ thể như sau:
3.1. Đối với giáo viên.
Phương pháp tổ chức làm việc nhóm không chỉ được sử dụng trong các
giờ lên lớp mà nên tiếp tục duy trì ngoài giờ thông qua những bài tập về nhà.
Để tổ chức được các nhóm học tập cho học sinh người giáo viên phải tiến
hành các công việc một cách tuần tự và có khoa học.
Thứ nhất: Giáo viên soạn giáo án theo hướng tích cực hóa hoạt động
học tập của học sinh. Giáo viên đọc giáo trình xác định kiến thức cơ bản của
mỗi bài, lựa chọn kiến thức và những vấn đề đưa ra làm chủ đề cho các nhóm
thảo luận, nghiên cứu. Sau đó, giáo viên soạn giáo án một cách thật chi tiết,
trong giáo án phải thể hiện rõ công việc của giáo viên và học sinh trong suốt
buổi học. Giáo viên chú ý dự đoán những tình huống có thể gặp phải hoặc
những câu hỏi học sinh có thể hỏi trong quá trình học tập theo nhóm nhỏ để
7
không phải mất thời gian khi tiến hành giảng dạy, tránh hiện tượng cháy giáo
án.
Ví dụ: Soạn giáo án bài “Sinh lý máu” (phần đặc điểm của 3 loại tế bào
máu).
Hoạt động
của giáo viên

- Nhận nhiệm vụ
phân công, tiến hành
thảo luận nhóm.
- Trình bày những
đặc điểm của hồng
cầu.
- Trình bày những
đặc điểm của bạch
cầu.
- Trình bày những
đặc điểm của tiểu cầu.
- Nêu những ý kiến
nhận xét, bổ sung cho
các nhóm bạn.
- Hồng cầu: sinh ra từ tủy đỏ
của các xương dẹt. Tuổi thọ
từ 100 – 120 ngày. Đường
kính 7 – 7,5µm. Hồng cầu có
hình đĩa lõm hai mặt, không
nhân, bên trong chứa huyết
cầu tố Hemoglobin.
Số lượng hồng cầu trung
bình ở máu ngoại vi:
+ Nam: 4,2 – 4,5.10
12
/lít
+ Nữ: 3,8 – 4,2.10
12
/lit.
Hồng cầu có chức năng vận

Tiểu cầu tham gia cơ chế
đông máu và cầm máu để bảo
vệ cơ thể.
Thứ hai: Giáo viên đi sâu tìm hiểu đối tượng học sinh,vấn đề này có thể
liên hệ trực tiếp với giáo viên chủ nhiệm, ban cán sự các lớp để nắm được quy
mô lớp học (sĩ số, tỷ lệ Nam : Nữ ), học lực của các thành viên trong lớp,
ngoài ra nên quan tâm đến điều kiện hoàn cảnh gia đình phương tiện đi lại của
học sinh…. Những vấn này rất quan trọng là cơ sở khoa học để giáo viên chia
nhóm phù hợp với mục đích học tập vŕ phů hợp với điều kiện ăn ở đi lại của
học sinh có như vậy việc sắp xếp thời gian để các em làm các bài tập nhóm ở
nhà sẽ hiệu quả cao hơn.
Thứ ba: Sau khi thực hiện hai bước trên khi giảng dạy giáo viên bắt đầu
chia nhóm sao cho đảm bảo những tiêu chuẩn của một nhóm học tập như: Số
lượng thành viên không quá đông, cân bằng về học lực, về giới tính, phù hợp
với điều kiện để đảm bảo nhóm có thể họp và làm việc thường xuyên.
Thứ tư: Chọn những vấn đề phù hợp với mục tiêu bài học và năng lực
học tập của học sinh. Phân công các vấn đề này cho các nhóm, hướng dẫn cho
các em mục đích cần đạt tới cho mỗi vấn đề không nên xác định hướng đi cho
học sinh mà nên để học sinh linh hoạt lựa chọn cách giải quyết vấn đề (vì có
rất nhiều cách để giải quyết một vấn đề) nhằm thoát khỏi lối giảng dạy “ áp
đặt” đồng thời khơi dậy tinh thần sáng tạo của học sinh.
9
Thứ năm: Sau khi các nhóm làm xong việc và trình bày vấn đề trước tập
thể lớp, giáo viên phải rút ra kết luận, nhấn mạnh nội dung bài học. Giáo viên
chú ý nhận xét các nhóm trên tinh thần công bằng, chính xác. Khen thưởng
những nhóm có kết quả làm việc tốt, rút kinh nghiệm những nhóm làm việc
chưa có hiệu quả. Đây cũng là một bước đóng vai trò quan trọng, nếu giáo
viên nhận xét không công bằng sẽ gây nên tâm lý bất mãn trong học sinh và
làm ảnh hưởng đến tinh thần học tập của các em. Khen - chê đúng là một
động lực thúc đẩy hoạt động nhóm ngày càng có hiệu quả.

Thứ tư: Các nhóm này phải lắng nghe sự trình bày của các nhóm khác
trong tập thể và chính các em sẽ cùng với giáo viên nhận xét và có ý kiến
phản hồi lại. Điều này có ý nghĩa rằng tất cả các em sẽ phải cùng nhau mổ xẻ
và giải quyết vấn đề.
3.3. Biện pháp sử dụng hiệu quả các phương tiện dạy học.
Môn Giải phẫu - Sinh lý đặc thù là môn khoa học hình thái, song song
với việc đổi mới phương pháp dạy học thì yêu cầu về phương tiện dạy học
cũng phải được cải thiện hơn nữa. Phương tiện dạy học góp phần không nhỏ
trong thành công của việc sử dụng phương pháp làm việc nhóm. Giáo viên
nên vừa tận dụng triệt để số mô hình, tranh ảnh, mẫu vật có sẵn tại phòng thực
hành của bộ môn, ngoài ra giáo viên tự vẽ hoặc sưu tầm thêm các tranh vẽ
liên quan, đồng thời hướng dẫn các em tự làm, tự vẽ tranh vào vở hoặc vào
khổ giấy lớn để phục vụ học tập.
Trong những buổi thảo luận nhóm giáo viên nên thiết kế những phiếu
học tập hoặc những bài test tùy thuộc với nội dung nhằm hệ thống lại bài
giảng và đánh giá mức độ tiếp thu bài của học sinh.
Ví dụ: Trích bài test dành cho học sinh khi học xong bài “ Sinh lý sinh
dục”.
Trả lời ngắn những câu hỏi sau:
1. Hai chức năng của tinh hoàn là:
A
11
B
2. Ba giai đoạn của chu kỳ kinh nguyệt là:
A
B
C
3. Hai ưu điểm của biện pháp thắt ống dẫn tinh là:
A
B

Nhóm 2 90% 10%
Khi làm việc theo nhóm các em tỏ ra tích cực hơn, nhìn chung tất cả các
em đều chủ động trong học tập, tự tìm tòi tài liệu, tư liệu để giải quyết vấn đề
được giao. Các lớp được tôi phân nhóm học tập thường phải nỗ lực hơn để
hoàn thành bài tập và rất nhiều nhóm thể hiện sự sáng tạo trong cách tiếp cận
và giải quyết vấn đề, bên cạnh đó vẫn còn một số thành viên lười học dựa vào
nhóm để thụ động suy nghĩ nhưng tỷ lệ ít hơn chỉ khoảng 10%. Xét những lớp
không áp dụng phương pháp chia nhóm thì hầu hết các em lười suy nghĩ, khi
có câu hỏi hoặc tình huống đưa ra chỉ có một số học sinh tích cực suy nghĩ
tìm câu trả lời (số này chiếm tỷ lệ khoảng 32%) còn lại rất thụ động luôn tỏ ra
đồng tình hoặc không có ý kiến gì (chiếm tỷ lệ khoảng 68%).
4.3. Khả năng thuyết trình và sử dụng công nghệ thông tin trong học tập
Về vấn đề này tôi thấy rõ hiệu quả mà phương pháp làm việc theo nhóm
mang lại. Sau khi thảo luận xong một thành viên sẽ thay mặt cho nhóm trình
bày về vấn đề đó trước lớp và chính em đó sẽ thay nhóm để giải những quan
điểm của các em về vấn đề. Bên cạnh đó, thông qua những bài tập lớn có sự
kết hợp thuyết trình với sử dụng phần mềm Power Point nhằm đưa các em
tiếp cận với công nghệ thông tin nên về khả năng này đối tượng học sinh làm
13
việc theo nhóm sẽ vượt trội hơn. Qua khảo sát thấy sự chênh lệch rõ ràng:
Nhóm 1 là 20%, nhóm 2 là 80%.
4.4. Điểm tổng kết môn học.
Điểm tổng kết môn học là yếu tố khách quan cho thấy sự hiệu quả từ sự
thay đổi phương pháp dạy học cũ sang phương pháp làm việc nhóm. Tỷ lệ học
sinh đạt hiệu quả cao trong học tập hơn hẳn, ngoài ra tôi còn thấy rõ sự hứng
thú của các em đối với môn học vốn được xem là “ hóc búa” này. Bảng xếp
loại sau thể hiện rơ sự khác biệt đó.
Nhóm Loại giỏi Loại khá Loại TB Loại yếu
Nhóm 1 1 hs = 0,6% 26 hs = 16,3% 98 hs = 61,2% 35 hs = 21,9%
Nhóm 2 13 hs = 8,2 % 66 hs =41,5% 79 hs = 49,7% 1 hs = 0,6%

- Lãnh đạo nhà trường nên quan tâm và đầu tư hơn nữa về trang thiết bị
dạy học (tranh ảnh, mô hình,….), bổ sung phong phú nguồn tài liệu tham
khảo cho giáo viên và học sinh tại thư viện nhà trường.
- Chuẩn hóa và áp dụng rộng rãi phương pháp học tập theo nhóm cho các
môn học khác nhau.
- Tổ chức những câu lạc bộ khoa học cho giáo viên và học sinh cùng
tham gia nghiên cứu và chia sẻ kinh nghiệm.
Trong thời gian thực hiện sáng kiến kinh nghiệm tôi nhận được sự chỉ
đạo của Ban lãnh đạo nhà trường, sự giúp đỡ chia sẻ kinh nghiệm từ phía các
anh chị đồng nghiệp.
Đây là đề tài đầu tay của tôi nên trong quá trình thực hiện không tránh
khỏi những thiếu sót. Tôi mong muốn nhận được sự góp ý chân thành từ phía
lãnh đạo và đồng nghiệp để đề tài của tôi được hoàn thiện hơn.
TÔI XIN CHÂN THÀNH CẢM ƠN!
Thanh Hóa, ngày 12 tháng 5 năm 2012
Người viết
16
Trình Thị Thanh Vinh
17


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status