VẬN DỤNG PHƯƠNG PHÁP THẢO LUẬN NHÓM TRONG GIẢNG DẠY MÔN GDCD LỚP 11 - Pdf 20


VẬN DỤNG PHƯƠNG PHÁP THẢO LUẬN
NHÓM TRONG GIẢNG DẠY MÔN GDCD
LỚP 11
244
I. ĐẶT VẤN ĐỀ:
- Trong những năm gần đây, việc thay sách giáo khoa đã hoàn chỉnh từ cấp
Trung học cơ sở đến bậc Trung học phổ thông. Các lớp bồi dưỡng về việc giảng dạy
theo sách giáo khoa mới đã được triển khai trên quy mô cả nước, đồng thời diễn ra với
việc bồi dưỡng phương pháp giảng dạy mới và có nhiều phương pháp được giới thiệu,
bồi dưỡng song đáng chú ý hơn cả là phương pháp: Thảo luận nhóm trong lớp học.
- Sau gần 4 năm thực hiện, tất cả các bộ môn trong nhà trường đều được
khuyến khích triển khai vận dụng phương pháp giảng dạy mới này vào lớp học và đã
thu hoạch được những thành quả bước đầu. Việc đổi mới phương pháp dạy học là một
trong những biện pháp của ngành giáo dục nhằm khắc phục tình trạng học sinh yếu
kém hiện nay.
- Theo các nhà chuyên môn thì một trong những tình trạng học sinh yếu kém
đó là do “Phương pháp giảng dạy chưa tốt”. Nghò quyết Đại hội X Đảng Cộng sản
Việt Nam cũng luôn nhấn mạnh đến cần phải đổi mới chương trình và phương pháp
giảng dạy nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng cao về học tập của các tầng lớp nhân
dân và chuẩn bò hội nhập trong khu vực và quốc tế.
- Như vậy, phương pháp giảng dạy trong quá trình lên lớp của thầy (cô) ở nhà

gia một cách chủ động vào quá trình học tập, tạo cơ hội cho học sinh có thể chia sẻ
kiến thức, kinh nghiệm, ý kiến để giải quyết một vấn đề có liên quan đến nội dung
bài học.
2. Cơ sở lí luận:
- Phương pháp thảo luận nhóm được hình thành từ môi trường đại học của nhiều
nước tiên tiến trong đầu thập niên 70 của thế kỉ trước. Dần dần, phương pháp làm việc
theo nhóm nhỏ được mang ra áp dụng không những ở cấp đại học mà còn ở cấp tiểu học
và trung học. Tại Việt Nam, một số giáo sư thuộc khoa Tâm lí Giáo dục của các trường
đại học bắt đầu nghiên cứu và công bố các công trình của mình vào cuối thập niên
1990 và đem ra áp dụng tại các trường sư phạm trong thời gian gần đây.
- Khi thay sách giáo khoa lớp 6 (2001), phương pháp thảo luận nhóm được
giới thiệu và bồi dưỡng cho các giáo viên cấp 2 và được áp dụng liên tục cho đến
nay. Tại các trường trung học phổ thông, phương pháp này được giới thiệu và bồi
dưỡng kể từ năm học 2006 – 2007.
- Học là quá trình cá nhân tự kiến tạo kiến thức cho mình đó là những kiến
thức thông qua tương tác với các cá nhân khác, với xã hội và thực tiễn mà có. Từ
quan niệm về học, quan niệm về hoạt động dạy và phương pháp dạy học cũng thay
đổi. Hoạt động dạy là hoạt động của giáo viên nhằm tổ chức và hướng dẫn hoạt động
học của người học để họ tự khám phá và thực hiện nhiệm vụ học tập. Học tập chòu sự
tác động của các tác nhân nhận thức, xã hội, văn hoá, liên nhân cách do vậy dạy học
phải tổ chức các dạng như tác động đa dạng cho học sinh tham gia, phải tạo ra các
hoạt động dạy học đa dạng như tác động nhận thức cá nhân (tự phát hiện, tìm tòi, tự
lónh hội); tác động xã hội, văn hoá (như gắn việc học với hoàn cảnh cụ thể, với bối
246
cảnh văn hoá và xã hội, thời đại); phải tạo ra các tác động tâm lí (sự hợp tác, gắn kết,
chia sẽ trách nhiệm và lợi ích).
- Trong số các phương pháp dạy học đang sử dụng, phương pháp dạy học thảo
luận nhóm có nhiều ưu thế trong thực hiện mục tiêu giáo dục hiện nay tránh được lối
học thụ động trên lớp, giáo viên thường đưa ra nhiều biện pháp để kích thích khả
năng tư duy và sáng tạo của học sinh.

em đã tiếp cận với phương pháp này từ những năm học cấp dưới ở hầu hết các môn
học nên khá quen thuộc với giờ học mà học sinh là chủ thể hoạt động. Một số học
247
sinh có kó năng thảo luận nhóm, lãnh đạo nhóm xuất sắc…đã hỗ trợ giáo viên tổ chức
giờ dạy học thành công.
- Phương pháp thảo luận nhóm phù hợp với tâm sinh lí lứa tuổi học sinh, khắc
phục được sự nhàm chán của phương pháp dạy học truyền thống. Vì vậy, gây hứng thú,
kích thích tư duy, tính tích cực, chủ động sáng tạo của học sinh được phát huy.
- Việc vận dụng phương pháp thảo luận nhóm vào giảng dạy là phù hợp xu
thế chung của ngành giáo dục nước ta hiện nay nên được sự ủng hộ từ BGH, các các
đồng nghiệp, học sinh…
- Chương trình môn Giáo dục Công dân lớp 11 có nhiều nội dung không những
phù hợp với phương pháp thảo luận nhóm mà còn phát huy hiệu quả cao khi giáo
viên tổ chức cho học sinh thảo luận nhóm.
- Giáo viên đã được đào tạo và tập huấn thường xuyên về đổi mới phương
pháp dạy học.
- Xã hội hiện nay đã tạo điều kiện cho giáo viên và học sinh có nhiều điều
kiện thuận lợi từ việc tiếp cận các nguồn thông tin từ nhiều phương tiện khác nhau.
- Về cơ sở vật chất của trường đã có một số đổi mới tạo điều kiện thuận lợi
cho hoạt động thảo luận nhóm.
b. Khó khăn:
- Nội dung môn GDCD-11 có nhiều vấn đề mới, trừu tượng, khô, khó, dài…gây
khó khăn cho giáo viên và học sinh trong khi vận dụng phương pháp thảo luận nhóm.
- Đây là phương pháp dạy học mới nên giáo viên và học sinh không tránh
khỏi lúng túng trong một số kó năng, nội dung kiến thức.
- Giáo viên khó có thể đánh giá cụ thể hiệu quả làm việc của từng học sinh.
- Năng lực học sinh không đồng đều nên đôi khi việc thảo luận nhóm là sự
máy móc, kém hiệu quả.
- Tài liệu tham khảo để phục vụ cho môn GDCD-11 còn rất ít và chưa phổ
biến…

- Việc phân chia nhóm thường dựa trên: số lượng học sinh của lớp học, đặc
điểm học sinh và chủ đề bài học.
- Cách chia nhóm như thế nào là hợp lí: có thể theo một tiêu chuẩn nào đó
của bài học hay của giáo viên và cũng có thể hoàn toàn ngẫu nhiên hoặc có thể theo
số điểm danh, theo giới tính, theo vò trí ngồi…
- Giáo viên giao câu hỏi cho từng nhóm (có thể chiếu lên máy chiếu, viết lên
bảng phụ, viết vào giấy giao cho từng nhóm…) hướng dẫn học sinh cách thực hiện,
phân bố thời gian hợp lí.
- Giải đáp thắc mắc của học sinh trước khi chính thức đi vào hoạt động, đồng
thời ghi lại chủ đề và chỉ dẫn lên bảng hoặc máy chiếu…
- Trong một tiết dạy giáo viên có thể chọn một trong số cách chia nhóm sau
đây (lưu ý tuỳ theo đặc điểm của lớp và và nội dung bài học):
249
a. Chia nhóm nhỏ cùng thảo luận: Với cách này giáo viên có thể chia theo chỗ
ngồi 2 bàn (4 học sinh) quay lại thành một nhóm nhỏ để thảo luận về một khía cạnh
xoay quanh một vấn đề nào đó. Sau thời gian thảo luận mỗi nhóm nhỏ cử một thành
viên trình bày ý kiến của cả nhóm cho cả lớp (lưu ý giáo viên yêu cầu các nhóm trình
bày ý kiến của nhóm sau không được lặp lại ý của nhóm trước đã trình bày).
VD: GV cho các nhóm cùng thảo luận vấn đề: Tính tất yếu khách quan của
công nghiệp hóa, hiện đại hóa? Vì sao trong thời đại ngày nay đòi hỏi ở nước ta làm
công nghiệp hoá phải gắn liền với hiện đại hóa?
GV có thể chỉ đònh bất kì nhóm trình bày ý kiến nhưng nhóm sau không lặp
lại ý của nhóm trước sau đó GV nhận xét, kết luận.
b. Chia nhóm theo tổ: Nhóm này được xây dựng dựa trên các tổ đã được chia
sẵn trên lớp để thảo luận các vấn đề giáo viên giao cho các nhóm (tùy theo đặc điểm
của lớp mà có các nhóm tương ứng, thông thường trong lớp học có 4 tổ giáo viên sẽ
chia làm 4 nhóm để thảo luận). Sau khi các nhóm thảo luận sẽ cử đại diện trình ý kiến
của nhóm cho cả lớp, sau đó các nhóm khác nhận xét bổ sung ý kiến và cuối cùng
giáo viên nhận xét kết luận ý kiến của từng nhóm.
VD: Trong bài Chính sách giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ, văn

- Nhóm 2: Xây dựng một cơ cấu kinh tế hợp lí, hiện đại và hiệu quả như thế
nào?
- Nhóm 3: Vì sao củng cố và tăng cường đòa vò chủ đạo của quan hệ sản xuất
xã hội chủ nghóa và tiến tới xác lập đòa vò thống trò của quan hệ sản xuất xã hội chủ
nghóa trong toàn bộ nền kinh tế quốc dân? Và có ý nghóa gì?
- Nhóm 4: Nhận xét, bổ sung.
Các nhóm 1, 2, 3 lần lượt cử đại diện trình bày ý kiến và nhiệm vụ của nhóm
4 là đưa ra các ý kiến nhận xét, đánh giá, bổ sung ý kiến của từng nhóm sau đó GV
nhận xét, kết luận ý kiến của cả 4 nhóm.
d. Giảng - Viết - Thảo luận: GV cho HS trả lời câu hỏi bằng cách đưa ra các
phương án lựa chọn và yêu cầu HS giải thích tại sao phải chọn phương án đó (cách này
thực hiện sau mỗi bài học), sau khi mỗi cá nhân xử lí các câu hỏi thì so sánh với các học
sinh khác. Sau đó, giáo viên tổ chức thảo luận để kiểm tra các câu trả lời hợp lí.
VD: Sau khi học bài: Cung - cầu trong sản xuất và lưu thông hàng hoá. Để
kiểm tra lại khả năng tiếp thu bài của HS, GV cho HS trả lời câu hỏi ngắn.
Khi nước ta là thành viên của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), theo em
mối quan hệ cung - cầu về hàng hoá và việc làm sẽ diễn ra như thế nào? Tại sao em
chọn phương án đó?
a. Thuận lợi.
b. Khó khăn.
c. Vừa thuận lợi, vừa khó khăn.
* Nội dung thảo luận và thời gian thảo luận:
- Nội dung thảo luận của các nhóm có thể giống hoặc khác nhau.
- Thời gian thảo luận có thể căn cứ vào nội dung bài học cũng như đặc điểm
của lớp học.
251
VD: Trong bài Cạnh tranh trong sản xuất và lưu thông hàng hoá. GV chia cả
lớp thành nhiều nhóm nhỏ cùng thảo luận vấn đề: Tính hai mặt của cạnh tranh và giải
pháp khắc phục mặt hạn chế của cạnh tranh?
Các nhóm thảo luận trong 5 phút và cử đại diện trình bày (2 phút/nhóm) các

252
+ Chú ý đến hoạt động mà giáo viên yêu cầu lớp thực hiện, không nên tranh
thủ làm việc riêng khi học sinh đang thảo luận. Giáo viên cần phải di chuyển, quan
sát toàn bộ lớp để giám sát được mọi hoạt động.
+ Lắng nghe quá trình trao đổi của học sinh trong nhóm. Từ đó giáo viên có
thể có những phát hiện thú vò và khả năng đặc biệt của từng học sinh, hướng thảo
luận của từng nhóm để điều chỉnh kòp thời.
+ Quan sát để xem có học sinh nào “đứng bên lề” hoạt động không? Nếu có,
giáo viên tìm cách đưa các em vào không khí chung của nhóm.
- Nhận biết bầu không khí xem các nhóm hoạt động “thật” hay “giả”.
- Có khi vấn đề giáo viên đặt ra là nguyên nhân gây nên sự thay đổi không
khí hoạt động của nhóm. Nếu vấn đề quá khó học sinh không đủ khả năng giải quyết,
ngược lại vấn đề quá dễ khiến học sinh không có gì phải làm. Cả hai trường hợp này
đều có thể làm giảm đi độ “nóng” của bầu không khí trong lớp, lúc này giáo viên cần
phải có sự điều chỉnh kòp thời.
- Khen ngợi, khuyến khích và gợi ý nếu thật sự cần thiết.
- Nhắc thời gian để các nhóm hoàn thành phần hoạt động của mình đúng thời
gian quy đònh.
- Trong suốt buổi thảo luận nhóm nhỏ, giáo viên cần đi vòng quanh các nhóm
và lắng nghe ý kiến học sinh. Thỉnh thoảng cũng rất hữu ích nếu giáo viên xen lời
bình luận vào giữa cuộc thảo luận của một nhóm. Đối với những vấn đề nhạy cảm
thường có những tình huống mà học sinh sẽ cảm thấy bối rối xấu hổ khi phải nói
trước mặt giáo viên, trong trường hợp này giáo viên có thể quyết đònh tránh không
xen vào hoạt động của nhóm khi thảo luận.
* Vai trò của nhóm trưởng:
- Phải có khả năng tổ chức: phân công nhiệm vụ cho các nhóm viên, bố trí chỗ
ngồi cho phù hợp, hướng dẫn các nhóm viên thảo luận đúng với nội dung đã giao.
- Phải biết linh hoạt và nhạy bén, có khả năng điều động tất cả các thành
viên trong nhóm tham gia tích cực vào thảo luận; theo dõi, quan sát từng người để có
biện pháp điều chỉnh kòp thời; lắng nghe ý kiến đóng góp thảo luận của các nhóm

- Xây dựng cho học sinh có được lối sống hòa nhập với cộng đồng, tinh thần
hợp tác, kó năng giao tiếp, tinh thần đoàn kết, sự phối hợp, hiểu biết về tinh thần
trách nhiệm và hỗ trợ lẫn nhau giữa các thành viên từ đó tạo ra những giải pháp mới
cho mọi vấn đề khó khăn.
- Kết quả học tập cao hơn:
+ Kiến thức của học sinh sẽ giảm bớt tính chủ quan, phiến diện, làm tăng tính
khách quan khoa học.
+ Kiến thức trở nên sâu sắc, bền vững dễ nhớ, nhớ nhanh và lâu hơn do được
trao đổi học hỏi giữa các thành viên trong nhóm.
+ Nhờ không khí thảo luận nhóm cởi mở giúp học sinh thoải mái, tự tin hơn
trong việc trình bày ý kiến của mình và biết lắng nghe có phê phán ý kiến của những
thành viên khác.
254
V. BÀI HỌC KINH NGHIỆM:
1. Đánh giá giờ sử dụng phương pháp thảo luận nhóm:
a. Ưu điểm:
- Tránh được lối học thụ động chỉ biết ngồi nghe; kích thích được khả năng tư
duy và tính năng động, sáng tạo của học sinh.
- Những vấn đề được đặt ra học sinh đều cố gắng tìm hiểu, tích cực tham gia
đóng góp phát biểu ý kiến trong nhóm để trình bày cho cả lớp.
- Phát triển khả năng trao đổi suy nghó và quan điểm một cách rõ ràng.
- Trong quá trình quan sát các nhóm làm việc giáo viên có thể thay đổi cấu
trúc của nhóm tạo cơ hội cho các thành viên có dòp trao đổi với nhau, xây dựng ý thức
làm việc theo nhóm.
b. Khuyết điểm:
- Cách bố trí bàn ghế như hiện nay trong lớp làm cho việc thảo luận nhóm của
học sinh sẽ thiếu đi sự tập trung cần thiết, việc ngồi trong lớp có không gian hạn hẹp
là trở ngại lớn nhất của việc vận dụng phương pháp thảo luận nhóm hiện nay, không
phù hợp với lớp có só số đông.
- Trong quá trình thảo luận nhóm có thể có một vài thành viên trong nhóm

VII. PHẠM VI ÁP DỤNG:
Nhìn chung đối với những lớp chưa áp dụng sáng kiến này hiệu quả giáo dục
chưa cao so với các lớp đã áp dụng. Nếu sáng kiến này được nhân rộng cho tất cả các
khối lớp (10-11-12) thì mang lại kết quả học tập cao đồng thời gây được hứng thú,
phát huy được tính tích cực và chủ động trong học tập của học sinh; thúc đẩy được
tinh thần hợp tác, hiểu biết và hỗ trợ lẫn nhau giữa các thành viên; rèn luyện cho các
em học sinh có được những kó năng và sự hiểu biết của cả nhóm có ích lợi lớn đối
với từng cá nhân.
VIII. NHỮNG ĐỀ XUẤT:
- Đối với bản thân sẽ tự nhân rộng đề tài này cho các lớp mình đang dạy.
- Đối với trường có thể phổ biến nhân rộng đề tài này cho các giáo viên khác
cùng bộ môn ở các khối lớp khác.
Tóm lại:
Việc vận dụng phương pháp thảo luận nhóm đã được giáo viên thực hiện
rộng rãi trong các trường và cũng tạo ra được những chuyển biến tích cực trong nhà
trường đồng thời cũng góp phần việc thực hiện đổi mới phương pháp giảng dạy; phát
huy được tính tích cực, chủ động, gây hứng thú trong học tập của học sinh đồng thời
nó mang lại hiệu quả cao trong giảng dạy. Tuy nhiên, khi vận dụng phương pháp này
giáo viên và học sinh cũng gặp không ít khó khăn nhất đònh và để dung hòa giáo
viên có thể thảo luận với nhóm để tìm ra cách làm việc tốt nhất.
256
 TRẦN THỊ TÁNH
(Trường mầm non Phú Mỹ)
Giải B
I- ĐẶT VẤN ĐỀ:
Trước yêu cầu mới hiện nay giáo dục đang đứng trước thử thách lớn, khắc
phục những yếu kém, tập trung phát triển nhân cách con người tạo ra giá trò xã hội.
Giáo dục phải tiếp tục đổi mới nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng
nhân tài, hạn chế tiêu cực, phát huy vai trò dân chủ mọi mặt trong cuộc sống. Mục
đích chung của giáo dục mầm non là phát triển tất cả các khả năng của trẻ, hình

II-THỰC TRẠNG:
Giáo viên còn phụ thuộc vào tài liệu hướng dẫn, chủ yếu giải thích và sử
dụng mẫu, còn trẻ ghi nhớ, nhắc lại làm theo mẫu, hình thức tổ chức cho tiết học còn
đơn điệu, nghèo nàn, trẻ ít có điều kiện sử dụng đồ dùng dạy học, hình thức tổ chức
giáo dục trẻ “ mọi lúc-mọi nơi ” thì ít.
Còn một số giáo viên chưa theo kòp chương trình đổi mới chưa nắm vững
phương pháp, lên lớp chuẩn bò đồ dùng dạy học còn hạn chế hoặc có chuẩn bò chưa
phù hợp theo từng chủ điểm, hoạt động góc chuẩn bò chưa tốt phần sáng tạo còn áp
đặt trẻ trong giờ học, chưa phát huy tính tích cực của trẻ, chưa tạo điều kiện môi
trường thuận lợi giúp trẻ sáng tạo, tiết học chưa linh hoạt, chưa sinh động, chưa thu
hút trẻ, chưa phát huy tính tích cực của trẻ trong học tập và vui chơi. Dẫn đến chất
lượng giờ học chưa cao.
Đối với chương trình đổi mới hiện nay đòi hỏi giáo viên phải nắm vững kiến
thức, chuẩn bò tốt đồ dùng dạy học, đầu tư trong soạn giảng, tạo cơ hội, tạo điều kiện
thuận lợi, lấy học sinh làm trung tâm phát huy tích tích cực của trẻ trong học tập và
vui chơi. Vì vậy cần phải nâng cao chất lượng chăm sóc-giáo dục, giảng dạy ở trẻ.
Nói chung chương trình đổi mới hiện nay giáo viên có phấn đấu đầu tư trong
soạn giảng, nghiên cứu làm đồ dùng dạy học nhưng chưa đáp ứng kòp thời, cần phấn
đấu đầu tư nhiều hơn nữa để phát huy tính tích cực giờ hoạt động chung và hoạt
động góc giúp trẻ phát triển toàn diện về mọi mặt.
Trước thực trạng trên tôi băn khoăn và lo lắng cần quan tâm bồi dưõng giáo
viên để nâng cao chất lượng chăm sóc - giáo dục trẻ.
III- BIỆN PHÁP THỰC HIỆN:
Để nâng cao chất lượng giảng dạy, chăm sóc - giáo dục trẻ học tốt tôi thực
hiện một số biện pháp như sau:
A-Nâng cao chất lượng giáo dục:
1-Xây dựng đội ngũ giáo viên:
- Cần quan tâm đào tạo và bồi dưỡng nâng cao trình độ đội ngũ giáo viên,
nắm kiến thức mới, nhằm thỏa mãn nhu cầu nâng cao chất lượng chăm sóc giáo dục
trẻ, phấn đấu chuẩn hoá đội ngũ giáo viên, cải thiện đồ dùng trang thiết bò, tạo điều

bó tình cảm với trẻ, khuyến khích tạo cơ hội cho trẻ hoạt động khám phá nhằm kích
thích sự phát triển của các giác quan, các chức năng tâm sinh lí, hình thành những
phẩm chất và năng lực cho sự phát triển của trẻ ở giai đoạn sau.
+ Đối với trẻ mẫu giáo:Việc đảm bảo an toàn, nuôi dưỡng, chăm sóc sức
khỏe về thể chất và tinh thần, đảm bảo chế độ sinh hoạt hợp lí là một trong những
yêu cầu quan trọng khi thực hiện chương trình. Trong chương trình nôïi dung giáo dục
được lập lại và được phát triển dần từ nhà trẻ lên mẫu giáo, xuất phát từ bản thân trẻ,
mối quan hệ qua lại giữa trẻ với gia đình, trường mầm non, cộng đồng, quê hương,
259
đất nước và môi trường tự nhiên gần gũi phù hợp với nhận thức của trẻ. Chương trình
thể hiện sự thống nhất giữa gia đình và trường mầm non trong việc chăm sóc giáo
dục trẻ.
Điển hình: Giờ hoạt động góc giáo viên chuẩn bò đầy đủ đồ dùng, vật liệu,
dụng cụ để tạo điều kiện môi trường thuận lợi kích thích trẻ khám phá, tìm tòi, sáng tạo,
khai thác những điều mà trẻ tưởng tượng tạo nên sản phẩm. Giáo viên tham gia chơi
cùng trẻ, đặt câu hỏi giúp trẻ sáng tạo hoàn thành sản phẩm không nên áp đặt trẻ.
+ Thay đổi hình thức của cô và trẻ: Cô thường xuyên làm việc trực tiếp với
từng cá nhân, từng nhóm trẻ, còn trẻ thực hiện các nhiệm vụ theo hiểu biết của cá
nhân hoạt động theo nhóm hoặc cá nhân. Giáo viên cần linh hoạt giải quyết các tình
huống nảy sinh trong nhóm trẻ hoặc cá nhân. Cô gợi mở giúp trẻ đúng lúc và phù
hợp với khả năng của trẻ. Đòi hỏi giáo viên phải nắm vững về sự phát triển của trẻ
để có khả năng đánh giá trẻ và lập kế hoạch giáo dục cho phù hợp tạo môi trường
giáo dục cháu phát triển tốt nhất. Trẻ không bò áp đặt được lựa chọn tham gia vào các
hoạt động một cách hứng thú, được phát huy khả năng của trẻ, trẻ trở nên tích cực,
chủ động hơn dần dần biết đánh giá bản thân và trẻ khác. Từ đó giáo dục trẻ phát
triển toàn diện về mọi mặt.
a- Phát triển thể chất:
- Cơ thể trẻ khỏe mạnh, phát triển cân đối. Chiều cao và cân nặng phải nằm
trong kênh A.
- Trẻ thực hiện được các vận động cơ bản một cách vững vàng đúng tư thế.

- Trẻ có một số biểu tượng về đọc và viết để chuẩn bò vào lớp một.
- Ngôn ngữ không chỉ có ý nghóa to lớn trong việc phát triển trí tuệ mà còn
có tác dụng quan trọng đối với việc giáo dục tình cảm, đạo đức, tình cảm thẩm mó và
hình thành ở các cháu những nét tính cách ban đầu.Trong tất cả các hoạt động học
tập, vui chơi, những lúc trò chuyện trẻ với nhau, với cô giáo, với người thân trong gia
đình, các cháu đều sử dụng ngôn ngữ.
-Vì thế, ngôn ngữ giúp hoạt động của trẻ thêm sinh động và hấp dẫn. Trong
những hoạt động nếu không có ngôn ngữ, nghóa là không có lời giải thích và hướng
dẫn của giáo viên trẻ không hiểu được. Giáo viên cần quan tâm đến trẻ “mọi lúc-
mọi nơi” để kòp thời uốn nắn, giáo dục và xây dựng cho trẻ những tình cảm, hành vi
đạo đức đúng đắn nhất.
Vì vậy việc phát triển ngôn ngữ cho trẻ mầm non là một nhiệm vụ vô cùng
quan trọng.
d- Phát triển tình cảm - xã hội:
- Trẻ mạnh dạn, hồn nhiên, tự tin, lễ phép trong giao tiếp, thích giao tiếp với
những người gần gũi.
- Trẻ biết được một số việc được phép làm và không được phép làm.
- Trẻ có khả năng diễn đạt bằng lời nói rõ ràng, mạch lạc để thể hiện ý muốn,
cảm xúc, tình cảm của mình và của người khác.
- Trẻ biết yêu q, quan tâm, giúp đỡ, chia sẽ, hợp tác với những người thân
trong gia đình, bạn bè và cô giáo. Biết yêu kính Bác Hồ, người có công với quê
hương đất nước.
261
- Trẻ biết yêu quê hương, đất nước, quan tâm chăm sóc vật nuôi, cây trồng và
bảo vệ môi trường.
Giao tiếp tình cảm của giáo viên đối với trẻ là sự thể hiện thái độ tình cảm
yêu thương, q mến trẻ thông qua ngữ điệu lời nói, điệu bộ nét mặt, ánh mắt, cử chỉ
trong chăm sóc, trò chuyện, chơi đùa với trẻ. Tạo cảm giác an toàn, vui mừng, hạnh
phúc, được yêu thương, trẻ hứng thú trong hoạt động. Từ đó kích thích sự hình thành
và phát triển ở trẻ những phẩm chất tự tin, tự lực, tự hòa nhập. Giúp trẻ phát triển tính

được kiến thức cần truyền đạt, nội dung tích hợp phải phù hợp theo chủ điểm, đặt
262
câu hỏi giúp cháu phát huy tính tích cực trong học tập, sử dụng đồ dùng dạy học đúng
lúc, khai thác hết nội dung cần truyền đạt. Cháu nắm được yêu cầu cần truyền đạt.
+ Phương pháp: Thể hiện đủ các bước lên lớp, sử dụng phương pháp lồng
ghép tích hợp, cần linh hoạt, sáng tạo, tổ chức thi đua trò chơi nhẹ, nghiên cứu phần
chuyển tiếp bài, bao quát lớp, gần gũi cháu, giọng nói rõ ràng yêu thương trẻ.
+ Xây dựng nề nếp: Rèn luyện cháu có thói quen trong học tập như: Chú ý
trong học tập, quan sát, tích cực xây dựng bài, sáng tạo trong học tập và vui chơi. Tiếp
thu bài 100%.
+ Qua dự giờ đánh giá:
Điển hình: Cô nh Linh, cô Tú Trinh, cô Chơn, giáo viên mới, nắm được phương
pháp, chuẩn bò đồ dùng dạy học cho cô và cháu. Tuy nhiên tiết học còn kéo dài thời
gian, cháu học mệt mỏi, chưa phát huy tính tích cực của cháu trong học tập. Cần phân
bố thời gian cân đối hài hòa giữa các tiết học, chú ý đến nội dung cần truyền đạt và
phần lồng ghép tích hợp, hệ thống các câu hỏi theo nội dung bài phải chặt chẽ chú
ý khi đặt câu hỏi dành cho học sinh yếu, khá, tốt, để phát huy tính tích cực cháu trong
học tập, tất cả các cháu đều được tham gia xây dựng bài. Qua dự giờ giúp các cô nắm
vững phương pháp và chuẩên bò tốt khi lên lớp cuối năm đạt giáo viên giỏi cấp trường,
cơ sở.
Cô Huy, cô Quỳnh Lê nắm phương pháp giảng dạy tuy nhiên phần giới thiệu
bài chưa thu hút cháu, qua dự giờ tôi hướng dẫn các cô đưa nghệ thuật múa rối để
giới thiệu bài gây hứng cháu tiếp thu bài tốt. Kết quả cuối năm các cô thi đạt giáo
viên giỏi cấp tỉnh.
+ Lớp điểm:
Đầu tư xây dựng lớp điểm nhân mẫu toàn trường để giáo viên trao đổi kinh
nghiệm trong giảng dạy đây là cách làm nhanh nhất và có hiệu quả cao nhất. Thí dụ:
Trang trí tranh theo chủ điểm, cách bố trí các góc chơi theo nhóm, thực hiện tiết dạy
mẫu chuẩn bò ĐDDH, sắp xếp ĐDDH, chọn phương pháp tích hợp, chuyển tiếp bài,
chuẩn bò đội hình giúp cháu thoải mái trong quá trình học tập. Chỉ đạo lớp điểm giúp

len…Dụng cụ âm nhạc và các vật liệu âm thanh, cát sét, phách tre, trống con, xắc xô,
mão múa…
Góc thiên nhiên: Cho cháu chăm sóc cây xanh, vật nuôi cây trồng, chơi nước,
chơi cát…Giáo viên cần thay đổi bổ sung đồ dùng, đồ chơi thường xuyên giúp trẻ
hứng thú và đáp ứng theo nhu cầu phát triển của trẻ trong khi chơi
4- Chỉ đạo làm đồ dùng dạy học:
Đối với trẻ mẫu giáo đồ dùng trực quan rất là quan trọng ôn lại kiến thức củ,
tiếp thu kiến thức mới, hình thành cho trẻ nhận thức đúng đắn, hứng thú sai mê trong
quá trình học tập, tìm tòi, khám phá làm việc có mục đích theo yêu cầu của cô.Vì vậy
đồ dùng dạy học rất là quan trọng trong giảng dạy không thể thiếu được. Chương
trình đổi mới yêu cầu tất cả các cháu sử dụng đồ dùng dạy học 100%.
+ Hoạt động góc: “Thế giới động vật”
- Góc học tập: Cho trẻ xem tranh các con vật nuôi trong gia đình, sống trong
rừng, sống dưới nước, một số côn trùng, chơi trò chơi xếp hình các con vật, ghép hình
các con vật, tô màu các con vật mà cháu thích, trò chơi đô mi nô…
- Phân vai: Cho cháu bán thức ăn gia súc, gia cầm, thức ăn cho cá, tôm Bán
các con vật sống dưới nước như: cá, tôm, cua, vật nuôi trong gia đình, bán nước, đóng
vai bác só thú y chăm sóc các con vật tiêm ngừa phòng bệnh…
264
- Xây dựng: Xây trại chăn nuôi như: Trại cá, trại tôm, trại chăn nuôi gia cầm,
gia súc, xây dựng vườn bách thú: Gồm các con vật sống trong rừng như: (sư tử, voi,
gấu, khỉ, ngựa…)
- Góc thiên nhiên: Cho cháu chăm sóc các con vật nuôi trong gia đình như
gia cầm, gia súc, đào ao nuôi cá, tôm…
+ Chuẩn bò một số đồ dùng nguyên vật liệu sẵn có ở đòa phương gần gũi dễ
tìm như: Lon bia, hộp kẹo, hôïp sữa, hộp bánh, li đựng thạch dừa, chai nước ngọt, giấy
rô ki, hộp thuốc lá Ngoài ra còn chuẩn bò thêm một số chai xà bông, chai xả compho,
dầu gội, hộp kem…Tích lũy để ở trường rồi lên kế hoạch tập trung giáo viên lại làm,
đồ dùng của cô và cháu phải đảm bảo tính sư phạm, có màu sắc tươi sáng thu hút
cháu trong học tập, kích thích tính tò mò của cháu, ngoài ra còn cho cháu sử dụng đồ

quả đu đủ), quả đu đủ có màu gì đây? (có màu vàng ) cô nói thêm: Khi quả còn sống
có màu xanh, còn đây là quả chín có màu vàng. Cho cháu đồng thanh tranh đu đủ - từ
đu đủ, gắn từ rời đu đủ, đếm có 4 chữ cái, so sánh từ rời và từ trong tranh, giống nhau,
cô loại chữ đ lấy chữ u giới thiệu đây là chữ u phát âm 3 lần u.u.u…lớp đồng thanh,
nhóm bạn trai, bạn gái , tổ, cá, nhân, lớp lặp lại, cô gắn chữ u lên góc bảng. Giới thiệu
đường nét chữ u gồm một nét móc ngược bên trái nối liền nét nét sổ bên phải, cho
cháu đồng thanh, tập viết chữ u, tìm chữ u theo yêu cầu của cô.
+ Chữ ư cô giới thiệu tranh quả dứa, từ quả dứa cho cháu đồng thanh tranh và
từ, gắn từ rời. Các thao tác cô cũng giới thiệu giống chữ u.
+ So sánh chữ u và chữ ư giống nhau và khác nhau.
+ Tiếp theo cho cháu chơi trò chơi đón chữ: Cô chuẩn bò chữ u, ư to bằng
nhựa, khi chơi cho cháu đeo chữ ở phía sau lưng cháu đi vòng quanh lớp hỏi các bạn,
Các bạn ơi ! chữ của tôi có mang dấu móc ở trên đầu nét thẳng bên phải không? (Các
bạn trả lời không thì cháu đón đó là chữ u, còn các bạn nói chữ có mang dấu móc trên
đầu bên phải cháu đón là chữ ư ). Mỗi lần chơi cho hai cháu thi đua.
+ Trò chơi: Xếp hình các con vật nuôi trong gia đình có mang chữ cái u và ư,
cho 2 đội thi đua cô chuẩn bò gia cầm, gia súc, gia cầm mang chữ u, còn gia súc mang
chữ ư, ai tìm đúng nhiều con là thắng cuộc. Cháu lấy xong cô hỏi cháu tại sao các biết
đây là gia cầm? (tại vì có 2 chân, để trứng), còn gia súc thì sao? (có 4 chân đẻ con).
Các con vật này được nuôi ở đâu? (nuôi ở gia đình). Để các con vật này cho ta nhiều
thòt, nhiều trứng ta phải làm sao? (chăm sóc cho ăn).
+ Cho cháu đọc thơ, đồng dao, cô chuẩn bò ngoài giấy photo, rõ, cháu tìm chữ
cái u và ư gạch dưới.
+ Tích hợp môn tạo hình cho cháu tô màu các con vật sống trong rừng như
gấu, sư tử ( gấu viết chữ u, còn sư tử viết chữ ư ).Viết xong bạn trai treo trên giá có
mang chữ u, còn bạn gái treo trên giá chữ ư.
6- NÂNG CAO CHẤT LƯNG CHĂM SÓC:
+Yêu cầu:
- Trẻ khỏe mạnh, phát triển hài hòa, cân đối. Cân nặng, chiều cao sức khoẻ
nằm trong kênh A.

dùng, đồ chơi. Đảm bảo môi trường xanh - sạch đẹp.
- Đảm bảo trẻ có đủ đồ dùng cá nhân cần thiết.
- Đảm bảo đủ nước sạch dùng trong sinh hoạt cho trẻ.
- Tham gia công tác vệ sinh phòng dòch ở lớp mẫu giáo và trường mầm non.
- Đầu tóc, quần áo của giáo viên và người chăm sóc trẻ phải gọn gàng, sạch sẽ.
-Giáo viên và người chăm sóc có trẻ cần được kiểm tra sức khoẻ đònh kì.
d- Chăm sóc sức khỏe và đảm bảo an toàn:
- Cân, đo và theo dõi cân nặng, chiều cao của trẻ theo đònh kỳ.
- Phối hợp với cán bộ y tế tổ chức khám sức khoẻ đònh kỳ cho cháu 2 lần/ năm.
267
- Thường xuyên theo dõi sức khoẻ của trẻ. Biết cách phòng ngừa và và xử trí
ban đầu thường gặp.
- Quan tâm chăm sóc trẻ mới đến lớp và trẻ có nhu cầu chăm sóc đặc biệt.
- Yêu thương, ôm ấp , vỗ về trẻ, tạo cho trẻ cảm giác thoải mái, tin cậy và an toàn.
- Đảm bảo an toàn cho trẻ, phối hợp chặt chẽ với gia đình để phòng chống
suy dinh dưỡng và bệnh béo phì.
- Tuyên truyền kiến thức nuôi con theo khoa học, tuyên truyền cho phụ huynh
đi tiêm chủng phòng ngừa đầy đủ.
- Khám sức khỏe đònh kì, theo dõi tình trạng dinh dưỡng bằng biểu đồ tăng trưởng.
-Phòng chống suy dinh dưỡng, béo phì.
-Theo dõi tiêm chủng, sức khoẻ và phòng tránh các bệnh thường gặp.
-Đảm bảo an toàn cho trẻ.
7- Tổ chức thi giáo viên giỏi:
Tổ chức phong trào thi giáo viên giỏi cấp trường để nâng cao chất lượng
chuyên môn. Trong thực tế giáo viên không đăng kí thường an phận không phấn đấu,
còn các giáo viên đăng kí thì mau trưởng thành hơn. Theo thang điểm chấm giáo viên
giỏi cần phải có sáng kiến kinh nghiệm giáo viên lại càng ngán ngại hơn trong khâu
đăng kí thi giáo viên giỏi các cấp. Hiệu trưởng kết hợp với công đoàn vận động đoàn
viên đăng kí 100%. Nếu không đăng ký cuối năm không xét thi đua theo chỉ đạo của
ngành. Đầu năm học hiệu trưởng lên kế hoạch đăng kí thi giáo viên giỏi các cấp, có


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status